Saturday, August 15, 2026

Tóm lược Tam Quốc diễn nghĩa

Tóm tắt nội dung

TAM QUỐC DIỄN NGHĨA

Một trong những thành công lớn nhất của Tam quốc diễn nghĩa là tính chất quy mô, hoành tráng của cốt truyện và nhân vật. Do vậy mà phần sau đây chỉ cố gắng tóm tắt hết sức sơ lược toàn bộ truyện theo những nét chính yếu mà không đi vào chi tiết nhân vật và sự kiện:

Nhà Đông Hán suy yếu.

Truyện lấy bối cảnh vào thời kỳ suy vi của nhà Đông Hán khi những hoàng đế cuối cùng của triều đại này chỉ lo ăn chơi sa đọa mà không quan tâm đến chính sự, bên cạnh việc quá tin dùng giới hoạn quan mà gạt bỏ những bề tôi trung trực. Triều chính ngày càng suy đồi, hủ bại, khiến kinh tế, xã hội khủng hoảng và đời sống người dân trở nên cơ cực. Đến đời Hán Linh Đế, loạn giặc Khăn Vàng nổ ra do Trương Giác, một người đã học được nhiều ma thuật và bùa phép chữa bệnh, cầm đầu. Sau đó là cuộc hội ngộ giữa ba nhân vật Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, cả ba người đều muốn dẹp loạn yên dân nên đã kết nghĩa huynh đệ với nhau ở vườn đào.

Hà Tiến huy động quân đội các trấn chẳng mấy chốc dập tắt được cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng. Nhờ là anh rể vua, ông được nhậm chức đại tướng quân của triều đình. Sau khi Hán Linh Đế mất, Hà Tiến lập con trưởng của vua là Hán Thiếu Đế lên kế vị. Lúc đó ông có mâu thuẫn với bọn hoạn quan Thập thường thị nên muốn trừ bỏ bọn chúng. Thủ hạ của Hà Tiến là Viên Thiệu khuyên ông kêu gọi quân các trấn trên cả nước vào kinh đô Lạc Dương diệt hoạn quan, Tiến nghe theo ngay. Khi mà mưu đồ diệt hoạn quan của Hà Tiến chưa thành thì ông lại mắc mưu của đám hoạn quan, bị chúng lừa vào cung Trường Lạc và giết chết. Ngay sau đó các đại thần do Viên Thiệu, Tào Tháo cầm đầu đem quân vào cung giết sạch đám hoạn quan này.

Trong số các quan lại nhận lệnh Hà Tiến vào kinh diệt hoạn quan có cả gian thần Đổng Trác là thứ sử Tây Lương. Đổng Trác nhân cơ hội cả Hà Tiến và đám hoạn quan đều đã chết, liền tiến vào Lạc Dương làm loạn triều đình. Ông ta phế truất Hán Thiếu Đế và lập Trần Lưu Vương lên làm hoàng đế, rồi tự phong mình làm tướng quốc, thâu tóm triều chính. Chỉ mỗi thứ sử Tinh Châu Đinh Nguyên là dám phản đối sự lộng quyền của Trác, nhưng Trác không thể hại được ông do Đinh Nguyên có người con nuôi là Lã Bố rất dũng mãnh, hộ vệ. Tuy nhiên, Đổng Trác dùng kế mua chuộc Lã Bố, sai Lý Túc đem tặng cho Lã Bố vàng bạc và con ngựa Xích Thố của mình. Lã Bố nổi lòng tham, làm phản giết Đinh Nguyên ngay trong đêm hôm đó để quay sang quy phục Đổng Trác.

Cái chết của Đổng Trác và sự nổi dậy của Lý Thôi-Quách Dĩ.

Hành vi tàn bạo, lộng quyền của Đổng Trác khiến các chư hầu vô cùng phẫn nộ, họ hội quân với Viên Thiệu để cùng diệt Đổng Trác. Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi cũng đi theo liên quân diệt gian tặc. 

Lã Bố thường xuyên được Đổng Trác sai đi trấn áp chư hầu, từng một mình giao chiến với cả ba anh em Lưu Bị, nhưng liên tục thất bại. Sau nhiều chiến thắng liên tiếp, liên quân Viên Thiệu tiến thẳng đến Lạc Dương. Đổng Trác hoảng sợ, liền bắt vua Hán dời đô về Trường An lánh nạn.

Trong thời kì Đổng Trác nắm quyền, vẫn còn nhiều trung thần như Vương Doãn luôn tìm cách diệt trừ hắn. 

Một lần, Vương Doãn đã sử dụng liên hoàn kế, ban đầu hứa gả con gái Điêu Thuyền cho Lã Bố, nhưng sau đó lại dâng cho Đổng Trác, khiến Lã Bố tức giận chất vấn Vương Doãn. Vương Doãn nói thác rằng Trác muốn giữ Điêu Thuyền trước để chọn ngày tốt mà gả lại cho Bố, nhưng sau đó Bố thấy Trác ăn ngủ với Điêu Thuyền như vợ chồng thì vô cùng tức giận. Có lần Lã Bố nhân lúc Đổng Trác đang cùng vua bàn chính sự, lén tới đình Phượng Nghi để gặp Điêu Thuyền. Điêu Thuyền nghe lời Vương Doãn, đã nói khích vài câu để ly gián Đổng Trác với Lã Bố. Khi Đổng Trác về điện, thấy Lã Bố đang ôm Điêu Thuyền, nổi giận ném long kích vào Lã Bố nhưng ông đã may mắn tránh được. Từ đó, Lã Bố hận thù Đổng Trác, Vương Doãn thấy vậy liền nói khích ông nhiều hơn, khiến Lã Bố càng quyết tâm giết Đổng Trác để trả thù. Cả hai đã bày mưu lừa Đổng Trác vào kinh thành để rồi đích thân Lã Bố vác họa kích lao đến đâm chết ông.

Không lâu sau khi Đổng Trác bị giết chết, các thuộc hạ của hắn là Lý Thôi và Quách Dĩ đem quân Tây Lương nổi dậy làm loạn, lấy cớ báo thù cho chủ sau khi bọn chúng không được Vương Doãn ân xá. 

Lã Bố chống cự không nổi bèn bỏ thành mà chạy. Chẳng bao lâu sau, bọn Thôi, Dĩ chiếm được Trường An, giết được Vương Doãn, rồi nắm vua Hiến Đế thay Đổng Trác. 

Một số triều thần nhà Hán không chịu nổi sự lộng hành của chúng, bèn bí mật liên kết với chư hầu ở Tây Lương là Mã Đằng, Hàn Toại, âm mưu đem quân vào Trường An giúp vua Hán tiêu diệt bọn Lý Thôi, nhưng thất bại nặng nề. Cả hai may mắn chạy thoát nạn.

Liên minh chư hầu tan rã.

Trong lúc đó, các chư hầu trong liên quân chống Đổng Trác như Tào Tháo và Viên Thiệu lại lục đục với nhau. 

Tôn Kiên, cha của Tôn Sách và Tôn Quyền, lợi dụng lúc lộn xộn, đã lấy được ngọc tỷ truyền quốc rồi bỏ trốn về Giang Đông. Viên Thiệu nghi ngờ, lệnh cho thái thú Lưu Biểu ở Kinh Châu đem quân đánh úp Tôn Kiên để đòi lại ngọc tỉ. Từ đó Tôn Kiên hận thù Lưu Biểu, không lâu sau dẫn quân đánh Kinh Châu báo thù nhưng bị Lưu Biểu đánh bại, bản thân ông cũng bị tử trận. 

Con của Tôn Kiên là Tôn Sách đem ngọc tỷ chạy sang Hoài Nam nương nhờ Viên Thuật. Lúc đó liên quân chống Đổng Trác đã bị tan rã, các chư hầu quay về địa phương của mình và bắt đầu giao chiến với nhau. Nhiều anh hùng như Tào Tháo và Lưu Bị, mặc dù chưa chính thức được ban tước và quân, cũng bắt đầu xây dựng lực lượng riêng.

Viên Thiệu lúc mới khởi sự địa bàn rất nhỏ. Có lúc lương thực cạn kiệt, Thiệu phải mượn lương của chư hầu Hàn Phức ở Ký Châu. Mưu sĩ Phùng Kỷ liền bày mưu cho Viên Thiệu một mặt dụ Công Tôn Toản cùng Thiệu đánh Ký châu rồi hai bên chia đất, mặt khác báo tin này cho Hàn Phức, khiến ông ta hoảng sợ. 

Sau khi nghe lời dụ của Viên Thiệu, Hàn Phức liền dâng Ký châu cho Thiệu nhằm bảo vệ Ký châu khỏi sự xâm phạm của Công Tôn Toản. Nhờ đó, Viên Thiệu lấy được Ký châu mà không tốn binh lực. 

Công Tôn Toản biết mình bị Viên Thiệu lừa gạt, lập tức cất quân báo thù, kết quả là thảm bại. Từ đó cả Viên Thiệu và Công Tôn Toản bắt đầu nảy sinh hận thù và liên tục đánh nhau.

Tào Tháo cho đón cha mình đang lánh nạn ở xa tới căn cứ của mình, có đi qua nghỉ đêm ở Từ Châu. Thứ sử Từ Châu là Đào Khiêm lệnh cho bộ tướng Trương Khải tiếp tục hộ tống ông ta về chỗ Tào Tháo. Nhưng Trương Khải thấy cha Tào Tháo mang nhiều vàng bạc của cải nên nổi lòng tham, đã giết ông ta trong đêm để cướp sạch. 

Tào Tháo nghe tin thì vô cùng tức giận, đem đại quân đánh Từ Châu báo thù. ..

Quân đội của Đào Khiêm yếu thế, phải liên thủ với Lưu Bị lúc đó đang theo Công Tôn Toản, mới đẩy lui được quân Tào. Sau đó, Đào Khiêm ốm chết, Lưu Bị thay Đào Khiêm cai quản Từ châu.

Sau khi bị Lý Thôi và Quách Dĩ đánh đuổi khỏi Trường An, Lã Bố phiêu bạt qua nhiều nơi và nương tựa các chư hầu khác nhau. Sau này, Lã Bố thấy Tào Tháo mải đánh Từ châu mà lơi lỏng phòng bị, nên đã tập hợp quân đội cùng các thuộc hạ như Cao Thuận, Trương Liêu, Tang Bá đánh chiếm địa bàn Duyện Châu. Lã Bố cũng thu phục được mưu sĩ Trần Cung, người vốn muốn theo Tào Tháo nhưng bất mãn trước việc ông ta tàn sát dân Từ Châu khi đánh Đào Khiêm. 

Với tài túc trí đa mưu, Trần Cung giúp Lã Bố đánh thắng Tào Tháo ở trận Bộc Dương, thậm chí suýt bắt sống được ông. Tuy nhiên, Lã Bố sau đó đã trúng kế của Tào Tháo nên thất bại trong việc giữ địa bàn, cùng đường đành phải nương nhờ anh em Lưu Bị ở Từ Châu, nhưng phải tạm đóng quân ở quận Tiểu Bái. 

Tận dụng sự lơ là của Trương Phi khi được Lưu Bị tạm giao việc giữ Từ Châu, Lã Bố bất ngờ đánh úp Từ Châu. Để chuộc lỗi với Lưu Bị, Lã Bố vẫn cho ông ta đóng quân ở Tiểu Bái, nói thác là do Trương Phi nóng nảy dễ hỏng việc nên chỉ muốn thay Phi giữ Từ Châu. 

Khi Viên Thuật vây đánh căn cứ Tiểu Bái của Lưu Bị, Lã Bố đã bắn kích viên môn cứu ông, buộc Viên Thuật phải giải vây rút về. Tuy nhiên, Lã Bố sau đó lại trở mặt đánh Lưu Bị và chiếm được Tiểu Bái, buộc Lưu Bị phải dẫn quân về hàng Tào Tháo.

Viên Thuật xưng đế.

Lúc này ở Hoài Nam, Tôn Sách không muốn đứng dưới trướng Viên Thuật nữa, cùng Trương Chiêu và các thuộc hạ thân tín ra sức tự lập. Tôn Sách lấy cớ đi đánh chư hầu Dương châu Lưu Do để bảo vệ gia quyến, đồng thời để ngọc tỷ lại làm tin. Viên Thuật chấp thuận. Sau khi đánh bại được Lưu Do ở Dương châu, Tôn Sách thừa thắng chinh phục Ngô quận và Cối Kê, đánh bại được các chư hầu Nghiêm Bạch Hổ và Vương Lãng. Nhờ đó Sách chính thức làm chủ Giang Đông, li khai với Viên Thuật và gửi thư yêu cầu ông ta trả lại ngọc tỉ. 

Viên Thuật thấy Tôn Sách làm phản mình thì vô cùng giận dữ, nên không chịu trả ngọc tỉ. Có ngọc tỉ truyền quốc, Viên Thuật đã tự xưng đế không lâu sau đó, dù nhà Hán vẫn còn. Hành động này của Thuật bị Tào Tháo và các chư hầu xem là tội phản nghịch, nên họ đã cùng liên minh với nhau để đánh ông.

Để đối phó với các chư hầu, Viên Thuật muốn liên minh với Lã Bố, thậm chí cho sứ giả đến xin kết nghĩa thông gia. Nhưng Lã Bố đã khước từ yêu cầu này, quyết định đi theo liên minh các chư hầu để thảo phạt Viên Thuật. Viên Thuật thua to nhiều trận liền, lực lượng trở nên suy yếu, đành phải an phận ở Hoài Nam để cố thủ.

Lúc đó ở Trường An, các đại thần triều đình thấy bọn Thôi, Dĩ chuyên quyền, đã bày mưu với vua Hán để li gián bọn chúng, buộc Lý Thôi và Quách Dĩ nảy sinh mâu thuẫn và trở mặt đánh lẫn nhau. 

Nhân lúc bọn chúng tiêu diệt nhau, các quần thần bí mật hộ tống thiên tử về Lạc Dương để thoát khỏi bọn chúng. Lý Thôi và Quách Dĩ nghe tin phải giảng hòa rồi đem quân đuổi theo cướp giá. 

Các bộ tướng triều đình như Đổng Thừa, Dương Phụng, Từ Hoảng nhiều lần giúp vua đẩy lui được bọn chúng nhưng binh lực cứ hao hụt dần. 

Hán Hiến Đế đành triệu Tào Tháo đem quân đến cứu giá, cả Lý Thôi và Quách Dĩ đều bị Tào Tháo đánh bại. Cuối cùng, Tào Tháo nắm được vua Hán, dời đô về Hứa Xương, có thể dùng lệnh thiên tử để hiệu triệu chư hầu.

Tào Tháo lấy danh nghĩa của thiên tử, yêu cầu Lã Bố để Lưu Bị trở lại đóng quân ở Tiểu Bái, hai bên không được xâm phạm nhau. 

Tuy nhiên, Lã Bố về sau nhận ra hai bên Tào-Lưu đang cùng âm mưu đánh mình nên rất tức giận, liền đem quân đánh chiếm Tiểu Bái lần nữa, buộc Lưu Bị phải bỏ thành mà chạy.

 Tào Tháo thấy vậy bèn lấy danh nghĩa giúp Lưu Bị, đem đại quân đánh Lã Bố. Lã Bố thua trận liên tiếp, cả Tiêu Quan, Tiểu Bái và cả Từ Châu đều thất thủ, cuối cùng bị vây khốn ở Hạ Bì, cùng đường đành xin kết nghĩa thông gia với Viên Thuật để được ông ta gửi quân chi viện. 

Viên Thuật không tin, đòi Lã Bố phải đem con gái mình qua Hoài Nam trước rồi mới xuất binh. Do bị quân Tào vây chặt thành, kế hoạch này đã thất bại. 

Lã Bố sau đó bị các thủ hạ làm phản, trói lại nộp cho Tào Tháo và cuối cùng bị xử tử. 

Tuy lấy được Từ Châu, Tào Tháo đã không trao lại châu này cho Lưu Bị như đã hứa, mà quyết định giữ ông ta ở lại Hứa Xương để dễ bề kiểm soát.

Viên Thuật tuy không cứu Lã Bố, nhưng khi thấy thế lực của Tào Tháo ngày càng lớn mạnh, ông muốn đem ngọc tỷ và ngôi vua sang trao cho anh là Viên Thiệu ở Ký Châu để cùng liên minh chống Tào. 

Tào Tháo sai Lưu Bị đem quân chặn đánh Viên Thuật ở Từ Châu khi ông ta đang trên đường sang chỗ Viên Thiệu. Quân Viên Thuật thua to phải rút về Hoài Nam.

 Trên đường rút quân, quân của Viên Thuật hết lương không còn gạo để ăn, sĩ tốt bỏ trốn gần hết, khiến ông tuyệt vọng mà qua đời. Thế lực của ông sau đó nhanh chóng bị Tào Tháo thôn tính. Tào Tháo cũng tịch thu được ngọc tỷ của Viên Thuật.

Khi Tào Tháo nắm vua Hán, trở nên lộng quyền ngang ngược, khi quân phạm thượng. Hán Hiến Đế không cam chịu thân phận đó, lập tức viết một mật chiếu cho Đổng Thừa, khuyên Thừa trừ giặc. 

Đổng Thừa lập ra hội Nghĩa trạng, tức là hội chống Tào Tháo. Ít lâu sau có bảy người tham dự, trong đó có Mã Đằng và Lưu Bị. Về sau, Mã Đằng về Tây Lương, Lưu Bị về Từ Châu, Đổng Thừa giận họ nên phát bệnh. Khi chữa bệnh cho Đổng Thừa, thái y Cát Bình phát hiện Thừa muốn diệt Tào Tháo, xin tham gia vào Nghĩa trạng. Nhưng ngay sau đó kế hoạch đã bị bại lộ khi người đầy tớ của Đổng Thừa, do bị chủ trách phạt nên oán giận, bí mật tố giác vụ hội Nghĩa trạng cho Tào Tháo biết.

 Tào Tháo bèn cho bắt Cát Bình đem tra tấn để lấy lời khai nhưng Cát Bình đã tự sát. Sau một hồi điều tra, vụ việc đã bị phát hiện, và cả năm người bọn Đổng Thừa đều bị Tào Tháo tru di.

Lưu Bị sau khi tiêu diệt Viên Thuật đã không thu quân về Hứa Xương theo lệnh của Tào Tháo mà giết thái thú Từ Châu là Xa Trụ và đóng quân tại đây để ngầm củng cố thế lực, dù chưa chính thức li khai. 

Tào Tháo nghi ngờ, đã sai người đem quân tới Từ Châu giám sát Lưu Bị nhưng bị ông bức đuổi về. 

Biết Lưu Bị nằm trong hội Nghĩa trạng nên ngay sau khi trừ Đổng Thừa, Tào Tháo dẫn quân đánh Từ Châu, Lưu Bị không chống cự nổi phải chạy sang Viên Thiệu, Trương Phi trốn về Nhữ Nam còn Quan Vũ do cùng đường nên phải tạm hàng Tào Tháo. 

Tào Tháo rất mến mộ tài đức của Quan Vũ nên tìm mọi cách thu phục ông. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Lưu Bị đang ở Hà Bắc cùng Viên Thiệu, Quan Vũ đã từ chối tiếp tục phụng sự Tào Tháo, tự mình cưỡi ngựa "qua năm ải chém sáu tướng" để về với Lưu Bị. 

Trên đường đến Hà Bắc, Quan Vũ gặp lại Trương Phi khi đó đang lánh ở Nhữ Nam. 

Khi đó Lưu Bị cũng muốn rời bỏ Viên Thiệu, bèn lấy cớ đi Kinh Châu để thương thuyết với Lưu Biểu rồi trốn đi hẳn, nên cuối cùng cả ba anh em huynh đệ đã hội ngộ trở lại ở Cổ Thành.

Chiến tranh Viên-Tào

Viên Thiệu sau khi tiêu diệt được kẻ thù phía bắc của mình là Công Tôn Toản đã kiểm soát được bốn châu lớn ở Hà Bắc, trở thành một thế lực quân phiệt hùng mạnh mà ngay cả Tào Tháo cũng phải e ngại. 

Do đó Lưu Bị sau khi li khai Tào Tháo ban đầu đã quyết định sang Ký Châu với Viên Thiệu để cùng đánh Tào, song do sớm nhận thấy Viên Thiệu không có khả năng bình định thiên hạ nên ông đành bỏ đi. Và trong chiến dịch quân sự đánh Viên Thiệu, Tào Tháo với chiến thuật "lấy ít địch nhiều" cùng tài mưu lược của mình, đã giành được thắng lợi ban đầu ở trận Bạch Mã - Diên Tân và chiến thắng quyết định của Tào Tháo là tại trận Quan Độ. 

Nỗ lực báo thù của Viên Thiệu sau đó đã bị phá sản hoàn toàn khi ông lại để thua tiếp một trận đánh lớn khác với Tào Tháo ở Thương Đình nên từ đó sức khỏe bắt đầu suy sụp, lực lượng cũng trở nên kiệt quệ.

Sau khi Viên Thiệu qua đời, do Thiệu bỏ con trưởng Viên Đàm để lập con út Viên Thượng lên kế vị, các con của ông đã nảy sinh mâu thuẫn rồi dấy binh đánh lẫn nhau. Tào Tháo thừa cơ hội anh em họ Viên cắn xé lẫn nhau, đem quân chiếm được cả bốn châu Hà Bắc, buộc hai anh em Viên Thượng và Viên Hy phải chạy sang Liêu Đông nương nhờ thái thú Công Tôn Khang. Tào Tháo quyết định không đem quân truy kích, khiến Công Tôn Khang quyết định giết hai anh em Viên Thượng và Viên Hy để giữ quan hệ tốt với ông. Thất bại của Viên Thiệu đã đặt cơ sở cho Tào Tháo củng cố quyền lực tuyệt đối khắp miền bắc Trung Quốc.

Lưu Bị kháng Tào

Lưu Bị chiêu mộ Gia Cát Lượng, trong Ba lần đến thăm túp lều tranh.

Cũng trong thời gian này, Lưu Bị lập được căn cứ mới ở Nhữ Nam để chống Tào Tháo. Ban đầu ông tự đem quân đi tấn công Tào Tháo nhưng bị thất bại nặng nề, bèn tới Kinh Châu nương nhờ Lưu Biểu là một người anh họ xa của mình cho lánh nạn. 

Lưu Bị được Lưu Biểu cho đóng quân ở quận Tân Dã để đề phòng Tào Tháo, tại đó ông đã thu phục được mưu sĩ Từ Thứ. Từ Thứ với tài mưu lược của mình, đã giúp Lưu Bị thắng quân Tào nhiều trận. Nhưng Tào Tháo lập mưu bắt mẹ của Từ Thứ, buộc Từ Thứ phải theo mình. 

Trước khi buộc phải rời bỏ Lưu Bị, Từ Thứ tiến cử Gia Cát Lượng với Lưu Bị. Sau ba lần đến thăm lều cỏ của Gia Cát Lượng, Lưu Bị đã chiêu mộ được ông ta làm mưu sĩ. Hai lần đầu tiên, Gia Cát Lượng lấy cớ đi có việc để từ chối gặp khách. Chỉ có lần cuối cùng vì cảm kích bởi sự chân thành và kiên trì của Lưu Bị mà Gia Cát Lượng mới quyết định theo phò tá.

Không lâu sau Lưu Biểu mất, để lại di chúc trao Kinh Châu cho con trưởng là Lưu Kỳ. Nội bộ Kinh Châu bắt đầu lục đục khi bộ tướng của Lưu Biểu là Sái Mạo đưa con thứ Lưu Tông lên làm chúa rồi định giết Lưu Kỳ để trừ họa, nhưng Lưu Kỳ đã chủ động trốn về Giang Hạ. 

Tào Tháo biết tin Kinh Châu đang có biến loạn, lập tức cho quân đi chiếm Tân Dã. Lưu Bị nhận thấy binh mã ở Tân Dã không đủ khả năng chống Tào nên muốn tạm rút lui. Do được lòng dân chúng thành Tân Dã nên trước viễn cảnh bị quân Tào xâm chiếm, toàn bộ dân trong thành một lòng xin đi theo Lưu Bị. 

Lưu Bị đành đưa dân Tân Dã về thành Tương Dương của Lưu Tông, tại đây Lưu Bị bị từ chối không cho vào thành. Không còn cách nào khác ông phải tiếp tục nam tiến xuống Giang Hạ, là thành của Lưu Kỳ, do bị Sái Mạo hãm hại nên bỏ trốn đến đây. 

Ở Giang Hạ, Lưu Bị cuối cùng cũng tạm có được một chỗ dung thân để chống lại cuộc tấn công dữ dội của Tào Tháo.

 Tào Tháo sai người đưa thư tới Tương Dương chiêu hàng Lưu Tông. Lưu Tông đồng ý, dẫn tùy tùng ra đầu hàng, chủ động nộp hết chín quận Kinh Châu cho Tào Tháo.

Trận Xích Bích

Còn ở Giang Đông, Tôn Quyền vừa mới lên nắm quyền sau cái chết bất ngờ của người anh Tôn Sách. Sau khi chiếm Kinh Châu mà không tốn binh lực, Tào Tháo tiếp tục huy động đại quân sang phía đông nam, chuẩn bị thảo phạt Tôn Quyền. 

Tháo ban đầu cho người sang Giang Đông dụ hàng, tuy nhiên Gia Cát Lượng đã tự mình đến quận Sài Tang và thuyết phục được Tôn Quyền hợp tác với Lưu Bị để kháng Tào. 

Các bề tôi của Tôn Quyền chia thành hai phe là chủ hàng và chủ chiến. Đứng đầu phe chủ hàng là Trương Chiêu, đứng đầu phe chủ chiến là Chu Du. Tôn Quyền nghe theo Chu Du, quyết liên minh với Lưu Bị để đánh Tào Tháo. 

Mùa đông năm 208, Tào Tháo dẫn đại quân hơn tám mươi vạn người tiến xuống Giang Đông tiêu diệt Tôn Quyền để thống nhất Trung Hoa. 

Biết quân Tào không giỏi thủy chiến lại dễ bị say sóng, Chu Du và Gia Cát Lượng đã lệnh cho mưu sĩ Bàng Thống đến trại Tào bày liên hoàn kế, dụ Tào Tháo cho nối các thuyền chiến lại với nhau để dễ bày binh bố trận. 

Chu Du tận dụng cơ hội này để dùng hỏa công kháng Tào, đã dẫn đến thất bại thảm hại nhất của Tào Tháo tại trận Xích Bích.

Thế chân vạc hình thành.

Sau khi thua trận Xích Bích, lực lượng của Tào Tháo về cơ bản không còn trội hơn so với Lưu Bị và Tôn Quyền như trước nữa. Thế chân vạc dần hình thành từ đây.

Do trước đó đã chiếm được Kinh Châu, Tào Tháo đã giao ba quận lớn của châu này là Nam Quận, Tương Dương và Hợp Phì lần lượt cho Tào Nhân, Hạ Hầu Đôn và Trương Liêu coi giữ. 

Liên minh Tôn-Lưu thừa thắng trận Xích Bích, cùng nhau đánh chiếm những vùng đất này, nhưng Lưu Bị đã chiếm ưu thế nhờ tài mưu lược của Gia Cát Lượng. 

Chu Du dẫn quân chiếm Nam Quận, đánh bật được Tào Nhân nhưng Nam Quận đã bị tướng của Lưu Bị là Triệu Vân chiếm mất trước đó, và Tương Dương sau đó cũng bị Quan Vũ thừa cơ chiếm trước. Trong khi đó, Tôn Quyền dẫn quân đánh trận Hợp Phì thì bị Trương Liêu đánh bại.

Để lấy Kinh Châu mà không phải cất quân, Chu Du chỉ cho Lưu Bị "mượn Kinh Châu" và khi Lưu Kỳ (con trưởng Lưu Biểu) chết thì phải trả, do Lưu Kỳ trên danh nghĩa vẫn đang kế thừa Lưu Biểu ở Kinh Châu. Tuy nhiên, Lưu Kỳ mất sớm, Chu Du lại sai Lỗ Túc đến đòi. Một lần nữa Gia Cát Lượng lại dùng mưu mẹo để trì hoãn vấn đề này khi nói rằng muốn mượn Kinh Châu cho đến khi Lưu Bị đánh chiếm được đất Tây Xuyên của Lưu Chương, nếu không sẽ không có chỗ dung thân. Vì thế Chu Du rất tức giận và thề sẽ tìm kế trả đũa Gia Cát Lượng.

Với ý định loại trừ Lưu Bị, Chu Du bày mưu cho Tôn Quyền gả em gái mình cho Lưu Bị. Sau đó, Lưu Bị mắc mưu sang Sài Tang để làm lễ cưới. 

Tuy nhiên, Tôn Quyền rất nghe lời mẹ mình là Ngô Quốc Thái Phu Nhân; bà này rất quý Lưu Bị và không cho ai hãm hại Lưu Bị. Cũng do tài mưu lược của Gia Cát Lượng mà Lưu Bị cuối cùng đã quay về Giang Hạ cùng với người vợ mới. 

Chu Du liền dùng cách khác đánh Kinh Châu khi chủ động sửa soạn binh mã rồi mượn tiếng đánh Tây Xuyên giúp Lưu Bị nhưng thực ra là muốn chiếm Kinh Châu để Lưu Bị chủ quan không phòng bị, nhưng mưu kế này cuối cùng vẫn thất bại bởi những kế sách đúng đắn của Gia Cát Lượng. Thất vọng, Chu Du buồn bã về Sài Tang rồi quá uất ức mà qua đời.

Tào Tháo sau khi nam chinh thất bại đã tiêu diệt chư hầu Hàn Toại, Mã Đằng và đánh bại con Mã Đằng là Mã Siêu ở Tây Lương, trước khi bình định Trương Lỗ ở Hán Trung, nhưng vẫn không thể thống nhất Trung Hoa. 

Về sau Mã Siêu quay lại đánh Tào Tháo ở trận Ký Thành để báo thù nhưng vẫn thất bại nặng nề, phải liều chết phá vây để chạy thoát. Mã Siêu ban đầu phiêu bạt qua Trương Lỗ, sau này do nghe lời dụ hàng của Lưu Bị mà Mã Siêu mới về theo Lưu Bị.

Trong thời gian đó, Lưu Bị cũng dẫn quân Tây chinh đánh Lưu Chương, chiếm được Thành Đô (Ích Châu). Tuy nhiên đó là một cuộc chiến không mấy dễ dàng vì dù thắng trận nhưng quân đội Lưu Bị chịu nhiều tổn thất, đặc biệt cái chết trong đám loạn tiễn của mưu sĩ Bàng Thống ở gò Lạc Phượng. 

Một thời gian sau Lưu Bị nhận ra cơ hội chinh phục Trung Nguyên đã đến, liền sai hai tướng Hoàng Trung và Triệu Vân đánh vào đất Hán Trung của Tào Tháo, giết được tướng Tào là Hạ Hầu Uyên. Tào Tháo tức giận đem quân đến báo thù nhưng lại thất bại nặng nề phải rút về Nghiệp Thành. Sau chiến thắng này, Lưu Bị lên ngôi Hán Trung vương.

Cái chết của Quan Vũ

Khi Lưu Bị đang đánh Hán Trung thì Quan Vũ (lúc đó đang được Lưu Bị giao việc giữ Kinh Châu) cũng đem quân đánh hai quận Tương Dương và Phàn Thành.

 Tướng giữ Phàn Thành là Tào Nhân thua trận liên tiếp. Tào Tháo phải sai Vu Cấm và Bàng Đức đem quân đi cứu viện. Quan Vũ đánh thắng cả đại quân cứu viện, Vu Cấm bị bắt sống, Bàng Đức không hàng bị chém, còn Tào Nhân bị Quan Vũ vây chặt ở Phàn Thành. 

Tào Tháo thấy tình hình nguy khốn đành phải nhân lúc Tôn Quyền đang muốn chiếm Kinh Châu, để liên minh với Đông Ngô cùng đánh Quan Vũ. 

Tháo sai Từ Hoảng đem quân đến chi viện cho Phàn Thành để dụ Quan Vũ đem quân ở Kinh Châu ra đánh. 

Do Tôn Quyền trước đó đã giả vờ cách chức Lã Mông để cho Lục Tốn, lúc đó còn là một vị tướng trẻ ít danh tiếng, lên làm đô đốc nước Ngô; Quan Vũ chủ quan khinh địch, liền dồn hết binh lực ở Kinh Châu tới đánh Từ Hoảng, khiến thành Kinh Châu gần như bỏ không. Tôn Quyền thừa cơ sai Lã Mông đem quân đánh úp Kinh Châu. 

Quan Vũ nghe tin đó thì hoảng hốt, đem quân từ Phàn Thành về định chiếm lại Kinh Châu thì thất bại và bị quân Ngô vây chặt ở Mạch Thành.

 Quan Vũ cùng đường phải sai sứ sang Thượng Dung yêu cầu hai bộ tướng khác của Lưu Bị là Mạnh Đạt và Lưu Phong đem quân tới cứu viện nhưng họ không đồng ý. Nỗ lực phá vây của Quan Vũ cũng không thành, ông cuối cùng đã bị Tôn Quyền bắt giết.

Ba nước cùng xưng đế. 

Tình trạng giằng co giữa ba thế lực vẫn bế tắc cho đến khi Tào Tháo chết vào năm 220, có lẽ do bị u não. 

Năm đó, con trưởng của Tào Tháo là Tào Phi ép phế Hiến Đế và lập ra nhà Ngụy. Đáp lại, Lưu Bị tự xưng đế Thục Hán (để chứng tỏ vẫn mang dòng máu quý tộc nhà Hán nhưng đặt đô tại Thành Đô Thục). Trước khi lên ngôi, Lưu Bị cũng tập trung diệt trừ Lưu Phong và Mạnh Đạt vì trước đó họ đã không cứu Quan Vũ. Lưu Phong bị giết nhưng Mạnh Đạt thì chạy thoát và đầu hàng Tào Phi.

Lúc này, Tôn Quyền lại ngả về phía Ngụy. Ông chịu để Tào Phi phong vương nước Ngô. Tôn Quyền làm việc này nhằm tập trung lực lượng chống Thục do Lưu Bị đã quyết tâm đông tiến đánh Ngô. 

Vì báo thù cho Quan Vũ, Tiên chủ Lưu Bị khởi binh phạt Ngô, cất 75 vạn đại quân tiến về phía đông đến Di Lăng. Ban đầu, quân Thục thắng liên tiếp nhiều trận, quân Ngô bại liên tục. 

Trong quá trình giao tranh, do thời tiết oi bức, Lưu Bị cho toàn quân hạ trại trong rừng để tránh nắng. 

Đô đốc Lục Tốn phía Ngô đã thừa cơ đó, ngay trong đêm dùng hỏa công thiêu cháy khu rừng nơi quân Thục hạ trại, khiến Lưu Bị đại bại trong trận Di Lăng, tướng sĩ chết vô số kể.

 Lục Tốn ban đầu định thừa thắng tấn công về phía nước Thục, nhưng sau khi phát hiện kế dụ địch của Gia Cát Lượng đã ngưng không tiếp tục dấn sâu về phía tây. 

Vì tin vào quyết tâm đánh Thục của Lục Tốn, Tào Phi phát động một cuộc xâm lược vào nước Ngô vì cho rằng quân Ngô vẫn còn ở ngoài địa phận. Cuộc tấn công này đã bị đè bẹp bởi sự kháng cự quyết liệt của quân Ngô cùng với bệnh dịch bùng phát bên phía quân Ngụy. Những chiến thắng liên tiếp trước Thục và Ngụy đã giúp thanh thế của Đông Ngô ngày càng lớn mạnh, tạo điều kiện để Tôn Quyền quyết định xưng đế.

Trong lúc đó tại nước Thục, Lưu Bị sau khi thua trận Di Lăng đã quá u uất mà qua đời, để lại con trai Lưu Thiện còn nhỏ dại. Trương Phi đã chết trước đó nên Lưu Bị đành phó thác Lưu Thiện cho Gia Cát Lượng chăm sóc. 

Nắm bắt cơ hội này, Tào Phi gắng mua chuộc một số lực lượng, trong đó có Tôn Quyền và các bộ tộc thiểu số để tấn công nước Thục. Một sứ giả của Thục thuyết phục được Tôn Quyền lui quân, nhưng Gia Cát Lượng vẫn phải lo xử lý quân của các bộ tộc thiểu số.

Một trong những mưu lược tài ba của Gia Cát Lượng trong thời gian này là tiến hành chiến dịch thu phục Mạnh Hoạch, thủ lĩnh bộ tộc người Man. 

Gia Cát Lượng đã bảy lần bắt sống Mạnh Hoạch trong các cuộc trấn áp bộ tộc này, nhưng lần nào cũng cho thả ông ra nguyên vẹn. Mạnh Hoạch vì cảm động bởi mưu trí và lòng nhân từ của Gia Cát Lượng nên sau đó đã thề mãi mãi gắn bó với nhà Thục.

Trong lúc này, Tào Phi cũng bất ngờ lâm bệnh mà chết, các vua Ngụy về sau dần mất thực quyền vào tay họ Tư Mã. 

Gia Cát Lượng do đó liền nhìn về phía bắc. Tuy nhiên, bản thân ông cũng không còn sống được bao lâu nữa. 

Chiến thắng đáng kể cuối cùng của ông trong chiến dịch chống lại quân Ngụy có lẽ là chiêu hàng được Khương Duy về phía mình. 

Khương Duy trước đó là một tướng bên Ngụy, có tài năng quân sự. Sau sáu lần xuất quân ra Kỳ Sơn, Gia Cát Lượng dù đánh thắng nhiều trận nhưng với quá nhiều khó khăn về tiếp tế lương thảo và tướng Ngụy là Tư Mã Ý chủ trương cố thủ không giao chiến, ông không thể đạt mục tiêu là đánh chiếm Trường An.

Đến khi Gia Cát Lượng mất, vua Thục Lưu Thiện lúc ấy làm theo lời dặn dò của ông, lần lượt cho Tưởng Uyển và Phí Y nhiếp chính. Sau khi cả hai người này qua đời, Khương Duy trở thành đại tướng quân thống lĩnh binh mã, tiếp tục các cuộc Bắc phạt với nước Ngụy, nhưng không giành được kết quả nào đáng kể.

Ở nước Ngô, sau khi Tôn Quyền qua đời, các vua còn lại của Đông Ngô là Tôn Lượng, Tôn Hưu và Tôn Hạo đều chỉ là những kẻ bất tài khiến triều chính rối ren. Nước Ngô suy yếu từ đó.

Nhà Tây Tấn thống nhất Trung Hoa

Khi cuộc chiến kéo dài nhiều năm giữa Ngụy và Thục đang diễn ra thì phía triều đình nhà Ngụy liên tục đổi ngôi. Nhà họ Tào ngày một yếu thế. 

Họ Tư Mã ở nước Ngụy liên tục lớn mạnh. Sau khi Tư Mã Ý mất, các con của ông là Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu lần lượt thay nhau nắm quyền chính. 

Nhận thấy nước Thục suy yếu, Tư Mã Chiêu đem quân diệt Thục, bắt được Lưu Thiện. Tuy nhiên, Khương Duy tiếp tục tiến hành chiến dịch của Gia Cát Lượng chống lại Tào Ngụy, ngay cả sau khi Lưu Thiện đầu hàng. 

Khương Duy bày mưu kích động xung đột giữa hai tướng lớn phía Ngụy là Chung Hội và Đặng Ngải. Kế sách này đã tiến rất sát đến thành công, cho đến khi một tướng Ngụy trung thành là Hồ Liệt phao tin ra ngoài. 

Thật không may, bệnh tim của Khương Duy bộc phát ngay giữa trận đánh cuối cùng. Ông liền dùng kiếm tự vẫn, đánh dấu sự kháng cự cuối cùng của nhà Thục Hán.

Sau khi Tư Mã Chiêu qua đời, con trai ông và là cháu của đại thần Tư Mã Ý là Tư Mã Viêm kế nghiệp. Cuối cùng, vào thời Tào Hoán, Tư Mã Viêm bắt Tào Hoán nhường ngôi giống như Tào Phi đã từng ép phế Hán Hiến Đế, trở thành vua Tấn Vũ Đế, sáng lập ra nhà Tấn.

Vua cuối cùng của Đông Ngô là Tôn Hạo đến năm 280 cũng bị quân đội của Tấn Vũ Đế đánh bại. Cả ba vua cuối cùng của ba nước là Tào Hoán, Lưu Thiện và Tôn Hạo đều được triều đình nhà Tấn cho sống cho đến tận cuối đời. Và thế là thời đại Tam Quốc cuối cùng cũng đã chấm dứt sau gần một thế kỷ đầy xung đột.

Ảnh: Tào Tháo

FB-Thái Bá Tân Vt

Wednesday, August 5, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (4)

BUDAPEST

Bóng đá và âm nhạc là sở thích và cũng là nhu cầu của thể chất và tinh thần. Đó là những điều mà với mỗi người có ảnh hưởng khác nhau. Tuy nhiên, yêu thích thể thao ntn ko phải ai cũng như ai. Và âm nhạc cũng vậy, cùng với thời gian dành cho sự yêu thích của mình là khả năng thể hiện của bản thân. Có người được Trời phú tài năng nổi bật hơn người, còn đa số chỉ ca hát và ra sân cho vui, cho khỏe. Riêng tôi thì đá bóng rất nhiều. Nếu tôi sinh ra vào thời buổi này, tôi rất thích được đào tạo một cách bài bản từ nhỏ. Ko phải để trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, mà ít ra cũng có phẩm chất của 1 cầu thủ, cả trên sân bóng và trong cuộc sống hàng ngày.

Ko như bóng đá hay âm nhạc, Budapest đã hầu như chinh phục tất cả chúng tôi với vẻ đẹp diễm lệ của dòng Duna giữa những lâu đài thành quách uy nghi của Buda và Pest, rất duyên dáng và thanh lịch. Vẻ đẹp này làm cho Budapest thực sự được coi là một trong những thành phố có kiến ​​trúc đẹp nhất châu Âu. Điểm đặc biệt ở đây là sự hiện diện đa dạng của các công trình thuộc nhiều thời kỳ và phong cách kiến ​​trúc khác nhau — từ kiến ​​trúc Gothic thời Trung cổ cho đến phong cách Art Nouveau đầy tráng lệ của Hungary. 

Có một điều khiến tôi đặc biệt yêu thích Budapest bởi kiến ​​trúc nơi đây cuốn hút nhất chính là ở những chi tiết nhỏ. Ko nhất thiết phải tìm đến các địa danh nổi tiếng; chỉ cần dạo bước trên những con phố ở Pest và ngước nhìn lên, chúng ta sẽ bắt gặp những lối vào tuyệt đẹp, những ô cửa sổ lồi, các bức tượng cột hình người (caryatid), những tác phẩm điêu khắc nhỏ, tranh khảm, những cánh cửa cổ kính cùng những mặt tiền công trình đầy bất ngờ và ấn tượng.

Thủ đô của nước Hung đã để lại ấn tượng vô cùng sâu đậm trong ký ức của tôi. Budapest làm tôi phải sững sờ trước vẻ đẹp hài hòa của những kiến trúc cũ và mới xen kẽ lẫn nhau. Ngay từ những ngày đầu thành phố là điều vô cùng hấp dẫn với tất cả chúng tôi. Nhìn thành phố từ trên cao, tôi vẫn thường tự hỏi: "Đã có bao nhiêu con người tài hoa chạm tay vào từng góc nhỏ của Budapest trong hơn 1000 năm qua để làm nên một thành phố như ta đang thấy?". Thành phố này đã làm bao nhiêu người phải đặt những câu hỏi như thế từ những lối đi lát đá, những vòm cây um tùm và những bãi cỏ xanh mượt đến những bậc thang ngoài trời hun hút lên thành Vár, từ những quảng trường đến những đại lộ sầm uất và duyên dáng với những tiệm café, nhà hàng hấp dẫn, từ những công trình văn hóa tuyệt đẹp mang những phong cách khác nhau đến Parlament huy hoàng tráng lệ... Budapest như một hòn ngọc bên dòng Duna, lấp lánh thơ mộng đầy mê hoặc như hiện ra từ những câu chuyện cổ tích đẹp man mác và huyền ảo vô cùng. 

   Tôi ngỡ ngàng nhìn không chán mắt những đường phố và con người xung quanh tôi, còn TV, báo chí và phim ảnh thì thật lôi cuốn và tạo được vô số ấn tượng với những quảng cáo đủ loại... Tất cả đều thú vị và lạ lẫm... Riêng HTB vốn rất lãng mạn, thích khám phá và "ham vui" hơn tôi đã có lý khi cho rằng tàu điện là một "đặc sản" của Budapest và rất thích thú khi trốn học/du ngoạn thành phố bằng phương tiện này.

Ko riêng gì HTB, cũng có nhiều người coi tàu điện Budapest là điều đáng nhớ nhất của tp này. TS. Vũ Hà Văn, dân nhảy tàu HN, học chuyên toán và Hà Nội - Amsterdam, sang Hung sau chúng tôi 15 năm với cảm nhận về Budapest: "cái gì cũng khác, cũng mới, từ đường phố, cửa hàng, thức ăn, cho đến phim ảnh và màu mắt của các cô gái. Quê hương nhất, chính là anh tàu điện. Tàu điện ở Budapest cũng màu vàng, và cũng leng keng, y hệt như tàu điện Bờ Hồ, có điều nó có cửa nghiêm chỉnh và phải mua vé. Ba mươi năm trước dáng nó bè bè béo béo chứ không thanh thoát chân dài như bây giờ.

Tàu điện quen thuộc nhất với sinh viên Việt Nam phải là tàu số 4 và 6, vì hai tàu bắt đầu ở gần ký túc xá của Đại học Bách Khoa, nơi quá nửa học sinh Việt Nam theo học. Tàu chạy dọc đại lộ một thời mang tên Lenin, mà tên người luôn xuất hiện một cách bất ngờ nhất trong các tạp chí sinh viên lưu hành trong các ký túc xá, cho đến Quảng trường Mátxcơva. Quảng trường Mátxcơva nay đã trở lại cái tên cũ Széll Kálmán (vị Thủ tướng Hungary cuối thế kỷ 19), còn đại lộ Lenin, cũng không khác với số phận của thành phố cùng tên bên Nga, đã chuyển thành con đường mang tên Teréz và Erzsébet, hai bà hoàng của Đế quốc Áo - Hung ngày trước".

Về những nơi thân quen với LHS trước đây và thế hệ Du học sinh (DHS) sau này (tôi phân biệt như vậy cho 2 khoảng thời gian: thời chiến và thời bình), Vũ Hà Văn nhớ đến Vár và Budapest với những hình ảnh và cảm nhận rất đẹp: "Đây là địa điểm du lịch số một của Budapest, có nhà thờ vua Matyás và pháo đài Những người đánh cá (thật ra là chỗ thu thuế cá ngày xưa), hai điểm mà hầu như du khách nào cũng ghé qua. Cái hay là ở trong thành không phải chỗ nào cũng làm du lịch cả, mà còn nhiều nhà dân sinh sống trong các dẫy phố nho nhỏ, có cột đèn bằng sắt xen lẫn cây cổ thụ, lòng đường lát đá đen, và dọc phố lác đác vài ngôi mộ chí.

Toàn cảnh Vár nhìn từ Pest: Csodás látvány (Hình ảnh chọn từ net)

Thành Vár ở địa thế ở cao, có thể nhìn xuống toàn cảnh thành phố, sông Danube xanh và những cây cầu tuyệt vời của nó. Cây cầu đẹp nhất có lẽ là Cầu Xích (Lánchíd - Chain Bridge), một trong những cầu treo bằng sắt đầu tiên trên thế giới. Được xây từ nửa đầu thế kỷ 19, Cầu Xích là một thành tựu kỹ thuật đáng kể của thời đó. Ở hai đầu cầu, nhà kiến trúc tài ba đã cho đắp sừng sững một đôi sư tử nhe nanh, như có ý nhắc nhở rằng sợ vợ không chỉ là đặc tính của đàn ông Châu Á. Dẫu vậy, người Hung thật xứng đáng là một dân tộc thông minh, cái gì cũng hơn người thường một chút, vì nếu nhìn gần, thì các bà sư tử này hình như không có lưỡi.

Budapest có những dãy phố cổ dọc theo bờ sông, phía Buda, tối mở cửa sổ có thể nhìn sang thành Vár và Nhà Quốc hội bên kia sông rực ánh đèn. Các khu cổ này một nhà to có nhiều căn hộ, có lẽ là chỗ ở cho các thị dân giàu có ngày xưa, cửa sổ cao và thoáng, mỗi nhà có một cái cổng đá xây rất phong cách, nhô ra đường để khi trời mưa khách vãng lai có thể vào trú được. Chiếc cổng đã che bao thế hệ thanh niên đi ngang qua nó. Ngày hôm nay là những cô cậu sinh viên của thế hệ iPad, 30 năm trước là thế hệ của tôi và bạn, 30 năm trước nữa là những sinh viên của năm 1956 đầy biến động, mà trong lòng họ không biết đất nước và bản thân sẽ đi về đâu…"

Về những điều được ghi nhớ nhiều nhất mà Budapest để lại trong ký ức, Vũ Hà Văn cho rằng: "Nếu ai đó hỏi tôi, sau 30 năm, bạn nhớ gì ở Budapest nhất? Xúp cá, Quảng trường Anh hùng, rượu vang vùng Tokaj, hay đồi Gellért nơi tọa lạc Tượng thần Tự do? Câu trả lời sẽ là tàu điện."

Với Hoàng tử, tàu điện cũng là điều vô cùng ấn tượng. Nhưng HTB thì kể lại ký ức về tàu điện nhiều hơn. Tên này còn viết hẳn 1 bài dành riêng cho tàu điện ở Budapest, hắn còn nhớ rõ: "Ở Hungari thời đó, vé xe điện là 1Ft màu vàng, vé xe bus 1.5Ft màu xanh. Vé tháng xe điện là 20Ft đi được tất cả các xe điện, vé tháng bus giá 50 Ft đi được tất cả các phương tiện. Lên xe tự giác bấm. Thỉnh thoảng có người khám vé, nếu tóm được phạt bằng tiền vé tháng xe bus là 50Ft.

Học bổng hàng tháng của chúng tôi là 500Ft, sau khi đã trừ phiếu ăn và ký túc xá, tiêu chừng 1 tuần thì hết. Vì vậy hiếm có tên nào đã từng là sinh viên mà không trốn vé xe. Cố nhiên 50Ft là một món tiền lớn, có thể vào tiệm ăn hạng 3 hai lần. Sau này khi tôi đã trở thành nghiên cứu viên, rồi giáo sư đại học, lương hàng tháng 12-16 nghìn FT (cố nhiên khi đó vé xe điện xe bus tăng gấp 2-3 gì đó) tôi vẫn trốn vé xe. Không phải vì tiền nhưng ngại đi mua vé và hay quên, lên xe rồi mới nhớ ra. Có lần trốn vé, thấy có cô soát vé rất xinh lên, tính lẩn, thì cô bám ngay lấy mình. Nhưng cô ấy không hỏi vé mà bắt chuyện lăng nhăng và khen mái tóc đen của mình. Cũng chém tích cực nên lờ được chuyện vé. Hú vía.

Ở Debrecen là tỉnh lẻ, mua vé tháng đi được có mỗi một cái tàu điện và khoảng 3 tuyến bus, nên cực kỳ lãng phí." HTB học Vật lý lý thuyết ở KLTE, Debrecen và từng có thời gian dạy ở đây nên mới có nhận xét như thế. Về tàu điện ở Budapest, tên này đã viết 1 bài với tâm trạng hoài cổ về cảnh đẹp của Budapest và những kỷ niệm của hắn trong bài "Budapesti villamosok - Những chiếc xe điện thành Budapest".

"Có lẽ đặc sản của Budapest là tàu điện. Kỷ niệm thời sinh viên là tàu điện. Khi buồn không biết làm gì lên tàu điện lang thang là thú vị nhất. 

Budapest có hàng chục tuyến tàu điện khác nhau, nhưng có một số tuyến tàu điện quen thuộc như 4, 6, 19, 18, 49, 47 mà ai cũng biết. Trong số các tuyến tàu điện tôi thích nhất và có kỷ niệm nhiều nhất với tàu số 2 và tàu số 19 chạy dọc hai bờ sông Duna bên Pest và bên Buda.

Đường tàu điện số 2, từ quảng trường Jászai Mari, ở đầu cầu Margit chạy đến Kozvágó híd, sát bến tàu Hév ra Csepel và Ráckeve. Có lẽ đây là tuyến đường đẹp nhất, chạy dọc bờ sông Duna bên Pest, chạy qua nhà quốc hội, Viện Hàn Lâm, khách sạn Duna, cầu Margit, cầu Xích (Lánc Híd), cầu Erzsébet, cầu Szabadság, cầu Petofi, chợ Szabadság, trường Kinh tế. Tàu điện số 2 tương đối đẹp đẽ và luôn được tân trang đàng hoàng hơn so với các tuyến tàu điện khác. (Hình như ngoài tàu điện số 2 còn có tàu điện số 18 cũng mới vì chạy đến bệnh viện János).

Có lẽ đây là tuyến tàu điện tôi có nhiều kỷ niệm nhất, vì tôi thường đi tàu điện số 2 để đón tàu Hév đi Ráckev đến nhà cô bạn là Magdi. Sau này, cô bạn lấy chồng, nhà lại ở sát cuối bên kia của bến tàu số 2 tại quảng trường Jásszai Mari, đi bộ chỉ mấy bước chân là về nhà hoặc ra đảo Margit đi dạo cũng rất gần.

Đường tàu 19, chạy từ ga Kelenfoldi đến quảng trường Batthány. Tôi cũng yêu tuyến tàu điện này, nhất là đoạn chạy dọc bờ sông bên Buda, có lối đi lên thành Vár, chạy qua cầu Lánc, cầu Erzsébet, cầu Szabadság, quảng trường tròn (Moricz Zsigmond Kortér), quảng trường Kosztolányi Dezso tér.

Hồi học ngoại ngữ , mỗi dịp trốn học đi chơi, tôi hay ngồi trên tàu điện 19 chạy dọc bờ sông. Hồi ở ký túc xá Budaors thì vì không muốn mua vé tháng xe bus, chúng tôi thường đi bộ ra đường Bartók Béla đón tàu 19, 49, 47 từ Kelenfold về. Sau này đi lên Vár chúng tôi vẫn thường đón tàu 19 và đi bộ lên Vár. Còn ga Batthány tér có chuyến xe bus (hình như số 16) mà bạn Nguyễn Cao Bình thường đón xe bus lên Óbuda có việc riêng. (Chuyện này tôi nghe láng máng, nhớ cũng loáng thoáng, phải đợi Cao Bình kể lại). Bến quảng trường Batthány đối diện với nhà Quốc hội và cũng là bến Metro nối vào tuyến từ quảng trường Moszkva (nay chắc đã đổi tên khác) đi đến Sugár và bến tàu Hév đi Godollo.

       Đối diện với bến Metro là một cái chợ rất lớn. Đi chợ ở Hungari cũng là một cái thú không thể quên và nếu bạn nào chưa có cái thú đó thì sẽ là một thiệt thòi vô cùng lớn, không thể bù đắp được. Khi nào rảnh sẽ nói thêm về chuyện này.

    Tôi nhớ tuyến xe điện 19 thường mở cửa, gió sông Duna thổi vào từ bốn phía mùa hè rất sướng, mùa đông hơi khổ một chút. Sau đoạn chạy qua cầu Lánc, chỗ có một con đường hầm xuyên qua núi Buda, là bến để chuyển qua xe bus hoặc đi bộ lên Vár nếu bụng không đói lắm. Đoạn này đặc biệt xóc, tàu rung lên xòng xọc, bánh xe xiết vào đường ray ken két, rất ồn. Bây giờ hình như đều đã thay bằng tàu điện mới hiện đại, nhưng chắc không có cái hương vị cổ điển như ngày xưa."

Tàu điện số 2 được coi là một trong những lựa chọn cho chương trình tham quan rẻ nhất ở Budapest. Vào thời của chúng tôi, đây là loại tàu điện đẹp nhất của Hungary (hoạt động cùng với những tuyến còn lại hầu hết là tàu loại cũ). Tuyến đường này uốn lượn dọc theo sông Duna từ Quảng trường Jászai Mari đến Nhà hát Quốc gia, đưa du khách đi giữa những công trình kiến ​​trúc mang tính biểu tượng của thành phố. Tất cả những cảnh quan vô cùng ấn tượng trên đoạn sông Duna nổi tiếng đẹp nhất này chỉ tốn một vé BKV (hoặc hai vé nếu bạn mua vé khứ hồi). Cần chú ý quan sát cả 2 bên trái và phải khi di chuyển theo cả hai chiều, vì tàu điện đi qua Tòa nhà Quốc hội, Cung điện Gresham, Cầu Lánchíd và dưới Cầu Erzsébet và nhiều địa điểm khác. Ở phía Buda, có thể nhìn thấy những ngọn đồi, Khu Lâu đài và Suối nước nóng Gellért. Và tất nhiên, cũng ko thể bỏ lỡ 2 trường ĐH Corvinus và BME, một ở bên Pest và một ở phía đối diện của Buda, cả 2 đều rất cuốn hút.

Đến nay tôi vẫn còn tiếc và vẫn tự trách mình vì đã ko có trải nghiệm thú vị như HTB về tàu điện Bp. Có lẽ do ham đá bóng quá? Nhẽ ra, tôi cũng phải khám phá ra điều có 1 ko 2 này mới phải. Ít ra, như vậy mới biết về Bp nhiều hơn, có nhiều chuyện để viết hơn! Nếu có dịp trở lại Hungary, nhất định tôi sẽ dành thời gian du ngoạn Budapest bằng tàu điện trong chương trình du hành của mình.

Budapest rất lôi cuốn với những cây cầu nối liền bờ Pest bằng phẳng với vùng đồi của Buda, mỗi cây cầu là một công trình nghệ thuật, trong đó nổi tiếng nhất là cầu Lánchíd - hoàn thành năm 1849. HTB đã dành cho cây cầu này những dòng đầy cảm xúc, và dù theo tiếng Hung tên đúng ra là Cầu Xích, nhưng theo ý hắn thì gọi là Cầu Sư Tử hay hơn.

"Đây là cây cầu đẹp nhất trong các cây cầu ở Budapest, mặc dù cầu Erzsébet và cầu Szabadság đều có những vẻ đẹp và duyên dáng riêng. 

Những con sư tử nằm làm bằng đá ở hai đầu cầu trông luôn luôn suy tư. Cầu Sư Tử có thể nhìn từ nhiều góc, nhưng tôi thích nhất là góc nhìn từ phía Buda, hơi chéo góc một chút về phía tòa nhà của Viện Hàn Lâm, nhưng đừng chéo quá để nhìn thấy nhà Quốc Hội. Thế mới biết, không phải nhiều cái đẹp ở bên cạnh nhau là hay. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao tôi chán xem các cuộc thi hoa hậu đến thế. Tình cờ góc nhìn này lại đúng là góc nhìn trong phim Chủ Nhật Buồn (Szomorú Vasárnap).

Cầu Sư Tử trong đêm rất diễm lệ, do ánh sáng bố trí rất tuyệt vời, hòa hợp với hình khối cổ kính, hơi lỉnh kỉnh những xích sắt, cùng với đám sư tử đá, và không khí mát lạnh, hơi lung linh từ nước sông Duna phả lên. Vừa có vẻ trong một nhà bảo tàng, vừa có vẻ như trong một cửa hàng đồ cổ, mà người ngắm cảnh lại có cảm giác đang nhâm nhi nước đá từ một cái cốc pha lê, đá chạm vào thành cốc kêu lanh canh trong một quá khứ xa xôi nào đó.

Ban ngày Cầu Sư Tử lại có vẻ đẹp khác. Chúng ta  có thể đứng ở Pest nhìn về phía Buda để thấy Bảo tàng tranh Dân tộc ở hậu trường. Hoặc chúng ta nhìn thẳng vào đường hầm, hoặc nhìn chéo về phía thành cổ. Tôi chưa bao giờ có dịp đi bộ qua cầu, hoặc đứng trên thành cầu nhìn sông Duna, Pest và Buda cho thỏa thích. Chắc cảm giác đó phải tuyệt vời lắm. Đôi khi có những việc dễ dàng và thú vị, mà người ta ngu ngốc không làm, có khi lại chỉ vì sợ người khác cười mình là lẩn thẩn hoặc ngốc nghếch. Tôi chỉ nhớ nhất là hình ảnh của cầu Sư tử nhìn thẳng vào gầm cầu từ bến tàu điện số 19.

Tôi sẽ nhớ mãi những lần lái xe qua cầu từ trên Vár xuống, hoặc chạy xuyên qua hầm ngầm xuyên núi Buda, cảm giác thật mạnh mẽ và thú vị. Cũng may là  đến bây giờ tôi vẫn còn giữ lại được một số cảm giác và cảm xúc.

Dưới đây là cầu Sư tử trong đêm, không thể xác định được đây là góc nhìn từ Buda hay nhìn sang Buda. Tôi nghĩ là góc nhìn của phim Szomorú Vasárnap, từ Buda nhìn sang.

Nhìn sang Buda, trong ánh sáng đẹp và tinh khiết.

Nhìn về phía Nemzeti Galéria (Bảo tàng tranh dân tộc), có cảm giác như một chuỗi xà tích nạm ngọc quý.

Cầu Sư tử đẹp cả trong ánh sáng ban ngày, nhìn về phía Pest. Một thứ ánh sáng dịu dàng, xanh trong vắt đến xao lòng.

Ánh sáng chiếu trên cầu Sư tử. Đây chưa phải là khoảnh khắc đẹp nhất. Dường như là một buổi chiều muộn, cầu Sư tử đã lên đèn, và đang đợi những ngôi sao sớm thắp lên trên bầu trời đang ngả màu tím sẫm.

Tôi hay nhìn cầu Sư tử nhất là từ góc nhìn này, từ dưới chân cầu nhìn lên.


Tại sao mình không có một buổi chiều nào hay một sáng nào đứng tha thẩn một mình trên cầu như bóng người trong ảnh. Không phải mình không muốn điều đó, không phải vì điều đó không hay, không phải vì mình không có thời gian. Chỉ là ngại thôi và thói quen ngần ngại ngu ngốc. Con người ta hay xấu hổ vì cảm xúc. Đó là một mâu thuẫn vô lý của con người. Bây giờ tôi mới thấy biết ơn Magdi về những khoảng thời gian làm những việc ngốc nghếch vô tích sự, nhưng để lại những cảm xúc lâu dài suốt đời như thế."

Pest có một con đường nổi tiếng mà LHS chúng tôi ai cũng biết, đó là Népköztársaság útja, nay là Đại lộ Andrássy. Đại lộ này là một bảo tàng trưng bày các phong cách kiến ​​trúc của nửa cuối thế kỷ 19. Phong cách tân Phục Hưng chiếm ưu thế, nhưng chúng ta cũng tìm thấy các công trình kiến ​​trúc tân Baroque, Cổ điển, Art Nouveau và Lãng mạn. Đại lộ Andrássy là cầu nối giữa trung tâm thành phố năng động và không gian xanh của thành phố, Városliget. Nó bắt đầu với những tòa nhà chung cư, như một con đường chính rộng lớn ở trung tâm thành phố, sau đó dần dần mở rộng, xanh tươi hơn, trải dài thành một đại lộ rợp bóng cây với những biệt thự hai bên và kết thúc ở Quảng trường Anh hùng. Đại lộ này cũng rất nổi tiếng với Đường sắt ngầm Földalatti Vasút.

Đại lộ Andrássy hình thành bởi ý nguyện của bá tước Andrássy Gyula.Với chiều dài 2310m, đây là đại lộ "sugár útja" dài nhất của Budapest và là con đường đầy quyến rũ giữa thành phố, một con đường hoa lệ với nhiều công trình của các kiến trúc sư nổi tiếng nhất đương thời. Người ta phải phá bỏ rất nhiều ngôi nhà để xây dựng lại quy củ theo trường phái neo-Renaissan; trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất phải kể đến nhà hát Opera/Magyar Állami Operaház (1884) do kiến trúc sư Ybl Miklós thiết kế mang phong cách mới của thời kỳ đó, rất độc đáo khi kết hợp với phong cách Baroque, đây là một kiệt tác của con đường nổi tiếng này và cũng là niềm hãnh diện của Budapest cũng như của người Hungary. 

Magyar Állami Operaház

HTB thì quen dùng tên cũ, Népköztársaság útja, vì nó gắn với nhiều kỷ niệm. Đường này chạy từ quảng trường Deák Ferenc, qua quảng trường Liszt Ferenc, sau đó đến quảng trường November 7, bây giờ gọi là quảng trường Bát giác (Oktogon), sau đó đến Kodály Körönd, rồi đến quảng trường Anh Hùng nổi tiếng. Đây là tuyến đường của xe bus số 1, chạy từ Kelenföld (phía trường Ngoại ngữ) lên. Đoạn từ quảng trường Deák Ferenc đến quảng trường November 7, có những hàng cây tán lá rất rợp, dường như nắng không bao giờ tới được mặt đường. Hai bên rất nhiều cửa hàng cửa hiệu. Đoạn từ quảng trường November 7 đến quảng trường tròn Kodály là những nhà sát mặt đường, kiến trúc rất đẹp. Đặc biệt có một nhà hàng sang trọng, cắm rất nhiều ô, và có một cửa vào trông rất bắt mắt mà hắn ta quên mất tên. Từ quảng trường tròn Kodály đến quảng trường Anh Hùng là các biệt thự rất đẹp.

Trên đường Népköztársaság có một địa điểm đáng nhớ vì nó gắn liền với kỷ niệm về những ngày đầu chúng ta đến Budapest. Đó là Divat Csarnok, nơi chúng ta đều đến đó mua những bộ quần áo đầu tiên khi đến Hungary. HTB còn nhớ ngày hôm đó như mới ngày hôm qua. Anh Quang Việt, dẫn nhóm HTB đi và đưa ra một số tư vấn. Hoàng tử đi với Khánh và Trung, dĩ nhiên là cả bọn bàn luận với nhau xem nên mua gì. Trước tiên là phải mua một cái áo bành tô (kabát) để chống lại cái lạnh của mùa đông. Cả nhóm đều nhất trí mua một cái áo to dày, lót lông, nhồi bông, có mũ. Hình như cái áo của HTB màu tím, Trung và Khánh chọn màu nâu. Sau đó đến áo kardigán, một loại áo thay áo len, có khuy mở ở phía trước, bằng một thứ sợi nhân tạo nào đó. Loại này chỉ có một màu duy nhất là xanh lá cây đậm. Vậy là cả ba đứa mua 3 cái giống hệt nhau. Sau đó đến quần, lẽ dĩ nhiên Hoàng tử chọn quần 2-3 loe. Được tự do lựa chọn phải hưởng thụ một cái. Các chú sứ đã cấm, càng nên chọn cho khoái. Hắn nhớ một chiếc kẻ sọc màu hơi hung hung bằng len. Một chiếc kia bằng sợi tổng hợp màu boóc đô. Khánh hình như cũng chọn giống HTB. Riêng Trung thì cứ băn khoăn mãi về quần loe, cứ săm soi tìm loại nào không loe. Nhưng cuối cùng hình như cũng phải theo HTB. Cái quần thứ hai của Khánh là màu xanh đậm.

      Áo sơ mi thì dễ hơn, HTB chọn một cái màu vàng, một cái màu hồng và một cái màu trắng. Khánh và Trung cũng chọn cái màu vàng và một cái trắng. Về màu hồng thì hình như cả hai cậu đều ngần ngừ, chọn một cái màu trứng sáo thì phải. Riêng Trung, Hoàng tử ép phải mua cái màu hồng như hắn, vì Khánh nhất định không chọn màu hồng, vì có vẻ táo bạo về màu sắc quá. Hoàng tử khoái màu hồng để đi kèm với màu boóc đô của cái quần. Đến phút cuối cùng hắn phát hiện ra một chiếc áo màu trắng bằng một thứ vải trong suốt như đăng ten có hoa loang lổ, hắn bèn đổi để khác biệt áo trắng đơn giản của Trung. Hoàng tử nhớ mang máng nhưng không chắc lắm là Khánh cũng tán thành ý tưởng này và cũng chọn một chiếc giống như vậy. Vậy là ba đứa cứ mỗi cặp lại có 2 cái áo giống nhau.

Từ Divat Csarnok đi vài bước nữa là quảng trường Liszt Ferenc, nơi có một trường trung học, ở đó có cô bạn của Hoàng tử là Magdi dạy môn vẽ. Hồi sinh viên HTB ít khi có dịp qua lại quảng trường này, sau này mới có dịp qua quảng trường này mấy lần, hắn cũng đến thăm cô bạn cùng năm là Nguyễn Kim Bân (ELTE.M72), hình như nhà số 7, nhà ở tầng trệt trong một cái sân sạch sẽ nhưng cổ lỗ.

Từ quảng trường Liszt Ferenc đi thêm bước nữa là đến quảng trường November 7 (Cách mạng Tháng 10 Nga), ngày nay gọi là Oktogon. Đây vốn là giao lộ của đường Népköztársaság và Lenin körút (ngày nay gọi là Erzsébet körút) có các tàu điện số 4 và số 6 chạy qua.

 Dọc đại lộ Népköztársaság có tuyến đường tàu điện ngầm Földalatti số 1. Đây là tuyến đường nối tiệm bánh ngọt, chứa những kỷ niệm của HTB, trên quảng trường Vörösmarty đến khu mà HTB quên mất tên mà vào những năm 1985 HTB đã đến thăm Trương Đăng Dung (ELTE, M72) và Magdi (hồi đó ở gần đó, đang chuẩn bị sinh con gái là Linda).

   Bây giờ, chúng ta quay trở lại quảng trường tròn Kodály. Chắc các bạn sẽ phải nhớ ra vì nó là chỗ đẹp nhất trên đường đến sứ quán. Nếu bạn đi xe bus số 1, sau quảng trường November 7, bạn sẽ thấy một vòng tròn lớn, có bãi cỏ, các tượng đồng, và nhiều ngôi nhà có kiến trúc tuyệt đẹp bao quanh. Đó chính là quảng trường tròn Kodály một thời đã được gọi là quảng trường Adolf Hitler.

Quảng trường Anh Hùng nằm ở cuối đường Népköztársaság, đây là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị của Hungari, giống như quảng trường Ba Đình và cũng là một danh thắng của Budapest. HTB sẽ có một bài riêng về quảng trường này và các tượng đài. Cần nhắc là ở đây có Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Budapest, quần thể tượng đài trên quảng trường. Cuối quảng trường là khu vườn bách thảo của Budapest (Város Liget) nơi có một tòa lâu đài cổ đẹp tuyệt vời. HTB cũng sẽ có một bài riêng về Város Liget.

 Chéo bên kia quảng trường Anh Hùng, gần cuối đường Népköztársaság là Sứ Quán Nam Tư cũ. Là nơi Thủ tướng Hung năm 1956 Nagy Imre vào ẩn náu trước khi nộp mình cho Hồng quân của Andropov. Hoàng tử nhớ Khánh đã chỉ cho hắn tòa Đại Sứ này khi vừa ở Sứ quán Việt Nam qua. Nó là một tòa biệt thự rất đẹp, cổng và hàng rào sắt sơn đen. Hoàng tử đứng lặng yên ngắm cánh cửa và ước ao có một lần được vào đó xin visa để qua Nam Tư. Chắc Khánh cũng nghĩ vậy. Thậm chí hai tên này cũng thảo luận xem hộ chiếu của chúng tôi có đi Nam Tư được không, vì Nam Tư theo quan niệm của nhiều người Hung và Nam Tư thời đó cũng là xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng thì cả hai cũng không đủ dũng cảm để thử. Mãi tới sau này, 20 năm sau, năm 1990 Hoàng tử mới có cơ hội vào cánh cửa đó lấy thị thực qua Nam Tư để đi Ý. Hắn rất tiếc là chuyến đi này không có người bạn vàng thuở nào. Lúc lấy xong thị thực cho cả vợ con, Hoàng tử có chút xúc động nhớ lại chuyện ngày xưa.

(còn nữa)

Monday, July 20, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (3)

(tiếp theo)

Ấn tượng Hungary bắt đầu đảo lộn giấc mơ Liên Xô từ khi tôi bước lên con tàu Hungary ở Moskva. Lần đầu tiên tôi bị Hungary chinh phục là khi cầm trên tay chai Coca Cola, thứ đồ uống của tư bản mà tôi chỉ đọc được trong sách ở Việt Nam, không thể kiếm được trên tàu Trung Quốc hay tàu Nga. Sau này tôi còn mê nó hơn khi uống cùng với szendvics trong những giờ giải lao ở NEI (Nemzetközi Előkészítő Intézet/Viện Dự bị Quốc tế), có lẽ đó là những lúc tôi thấy Coca Cola và szendvics dùng với nhau ngon không thể tả. 

Nếu ga Keleti là nơi đầu tiên tôi đặt chân lên đất Hung thì trường tiếng NEI ở số 73-75 Budaörsi út là nơi tôi bắt đầu cuộc sống của mình ở Hungary. Tôi rất yêu thích ngôi trường này, từ kiến trúc hiện đại của tòa nhà cho đến các thầy cô giáo và cuộc sống ở đó. Đây là lần đầu tiên tôi được học trong một lớp học chỉ có hơn mười trò nên tiếp thu rất tốt những gì được học. Những người Hung đầu tiên mà chúng tôi tiếp xúc là các giáo viên với phong cách sống rất thoải mái và phóng khoáng: bao giờ cũng rõ ràng trong mọi vấn đề, không "ấm ớ hội tề" như người Việt. Họ cũng là những người châu Âu đầu tiên mà tôi có dịp được gần gũi và học hỏi. Tôi cũng rất thích và hãnh diện với các bạn khác vì cô Mária, giáo viên chủ nhiệm dạy tiếng Hung của chúng tôi, là 1 phụ nữ trẻ đẹp và lôi cuốn nhất trường.

Trường tiếng/Viện Dự bị Quốc tế (Nemzetközi Előkészítő Intézet) Ảnh: Album Đỗ Bá Khang

Tôi còn may mắn hơn khi được sống trong tòa nhà chính của trường, vì nó được thiết kế rất tiện lợi cho học sinh. Chúng tôi được ăn ở và học ngay trong tòa nhà này trong khi rất nhiều bạn phải ở chỗ khác và đến đây học. Tôi còn nhớ phòng của tôi số 517 (nằm ở lầu 5). Tôi vẫn nhớ cảnh tượng mà tôi nhìn thấy vào đêm đầu tiên ở ký túc xá. Khi kéo rèm che cửa sổ phòng của tôi để nhìn ra ngoài, Budapest hiện ra trước mắt tôi thật ấn tượng với vẻ đẹp từ những ánh đèn làm tôi ngây người sửng sốt vì chưa bao giờ được thấy một thành phố rực rỡ đến thế.

Các phòng của học sinh trường tiếng nằm ở các tầng trên các lớp học (bố trí ở lầu 1 và tầng Trệt). Mỗi phòng được thiết kế cho 2 học sinh, có tủ áo, bàn học, lavabo rửa mặt và giường đệm tươm tất. Toilet và chỗ tắm giặt ở 2 đầu hành lang. Mùa đông có hệ thống sưởi bằng hơi nước. Nhà ăn được bố trí ở tầng dưới cùng, nếu muốn tập tành thì xuống phòng gym (tornaterem). Tuy lúc đó chưa biết bóng bánh là gì nhưng mấy cái sân bóng thật cuốn hút, có điều, lúc đó tôi không biết rằng: chúng sẽ là một phần trong cuộc sống của tôi sau này.

Tôi vẫn còn giữ Thời khóa biểu của năm học đầu tiên @ NEI. Tôi thích trình bày những gì theo ý mình. Từ Việt Nam đến với Hungary xa cách nghìn trùng. Tôi học và cảm nhận được nhiều thứ, những cái lặt vặt như cái Thời khóa biểu này (lớp của tôi là lớp học được chuẩn bị cho những học sinh sẽ học theo chuyên ngành Mérnök szakirány), nếu không sang Hung thì chắc tôi chẳng bao giờ làm được, nó hấp thụ tinh thần hiện đại của châu Âu lúc bấy giờ.

Đây là cái Thời khóa biểu tôi tự làm, trên đó có thể nhận ra các môn học được ghi bằng chữ viết tắt, con số là số phòng học của từng môn:

X: Magyar nyelv; F: fizika; M: Matematika; K: Kémia; Á: Ábrázoló geometria

Trong những bài học tiếng Hung có một bài về cầu Erzsébet mà tôi rất thích. Cầu Erzsébet và Halászbástya là những hình ảnh đầu tiên của Hungary đã để lại ấn tượng mạnh với tôi khi còn học ở Hà Nội những năm phổ thông. Do đó, với riêng tôi nó mang một kỷ niệm đặc biệt hơn so với những cây cầu khác. Vì bây giờ không thể post được đúng bài học đó nên tôi sẽ ghi lại những nét chính và cảm nhận của mình về cây cầu tuyệt đẹp này; cây cầu màu trắng duyên dáng vô cùng ấn tượng mỗi lần tôi qua, nó đã mang lại cho tôi nhiều cảm xúc khác nhau với những khung cảnh có một không hai... để đến bây giờ vẫn còn nhớ mãi. 

Là một trong những cây cầu nổi tiếng nhất của Budapest, cầu Erzsébet nối quận V (Pest) và quận I (Buda) với nhau. Đây là cây cầu được nhìn thấy rõ nhất trong toàn cảnh (panorama) nổi tiếng của Budapest trên dòng Duna. Nó đã được dựng lại thay cho cây cầu cũ bị phá hủy trong chiến tranh thế giới thứ 2.

      Về cảm nhận, ấn tượng ban đầu của tôi khi xem cầu Erzsébet qua ảnh chụp so với ấn tượng nhìn từ đỉnh Gellért là một sự khác biệt rất lớn. Cầu Erzsébet nhẹ nhàng mảnh mai không che khuất cảnh quan phía sau. Hình ảnh cân đối của nó với những đường cong tuyệt mỹ trong toàn cảnh của Budapest không một bức ảnh chụp nào có thể sánh nổi vì chúng không thể hiện hết sự tuyệt vời của một khung cảnh được con người và thiên nhiên tạo ra, hòa quện với nhau thành một kiệt tác "nhạc không gian" mà không ngôn ngữ nào diễn tả hết được.

Erzsébet là cây cầu cuối cùng của Budapest được xây dựng lại. Nó đã gây nhiều tranh cãi vì nhiều người muốn khôi phục lại như cây cầu cũ và không muốn có một cây cầu mới theo phong cách hiện đại. Cuối cùng, cầu Erzsébet đã được thực hiện như chúng ta thấy; Sávoly Pál là người đã mang lại dáng vẻ cho cây cầu mới này. Mọi việc bắt đầu từ năm 1961 trên nền móng của cây cầu cũ còn lại. Để thực hiện được yêu cầu thiết kế về mặt kỹ thuật, các kỹ sư Hungary đã có nhiều sáng tạo vào thời đó khi chọn giải pháp cầu treo và hoàn thành vào năm 1964.

      Từ việc này, tôi nhận thấy được một vấn đề: đó là việc bảo tồn giá trị cũ và sáng tạo những giá trị mới đều cần thiết để phát triển.

Tại sao Budapest không chọn giải pháp khôi phục cây cầu cũ mà lại làm cầu treo hiện đại; trong khi vẫn khôi phục những cây cầu khác y như cũ?

       Ở cả Buda và Pest, chúng ta đều thấy những kiến trúc cũ và mới xen lẫn nhau nhưng không phá vỡ cảnh quan, chúng hài hòa với nhau trong một đô thị được quản lý tốt, có ý thức và trách nhiệm với di sản lịch sử trong việc xóa bỏ và đổi mới. Chính vì vậy, cầu Erzsébet hoặc Hilton Hotel (dù nằm sát Halászbástya và Mátyás-templom) vẫn rất đẹp trong tổng thể kiến trúc/cảnh quan của toàn khu vực. Chúng đều được xem xét và nghiên cứu rất kỹ lưỡng để mang lại những vẻ đẹp mới bên cạnh những vẻ đẹp cũ. Và người Hung đã thành công trong việc phát triển và giữ gìn vẻ đẹp của Budapest qua nhiều giai đoạn lịch sử với nhiều công trình mang những phong cách khác nhau. Họ tạo được sự phong phú cho bộ mặt kiến trúc của thành phố, một thành phố nổi tiếng về vẻ đẹp đa dạng của châu Âu chứ không phải là những tòa nhà chọc trời. Và tôi thấy rằng với óc thẩm mỹ của mình người Hung hoàn toàn có quyền tự hào về những thành quả của họ. Họ đã rất quyết đoán, có thể đã rất khó khăn và tiếc nuối khi dám xóa bỏ một công trình đẹp đẽ của thời trước để thay thế bằng một công trình tiêu biểu cho cái mới vì nếu không từ bỏ cái cũ thì cái mới không thể có được chỗ đứng xứng đáng với nó.

Năm đầu tiên, là năm ko chỉ tiếp thu kiến thức cho việc học tập, được coi là nghĩa vụ của chúng tôi (cũng như với thanh niên nam nữ trong nước lúc đó là nghĩa vụ quân sự), từ thế giới của bom đạn và chiến tranh, chúng tôi đến với thế giới của hòa bình, với riêng tôi, Hungary là "vùng trời tự do". Tôi đã học hỏi được rất nhiều, đã vỡ lẽ ra nhiều thứ mà ở VN tưởng rằng đó là chân lý.

Tiếng Hung làm tôi có nhận thức về một ngoại ngữ đặc biệt. Ngoài việc rất khó, tiếng Hung còn rất chặt chẽ và logic. Ngôn ngữ của họ cho thấy: dân tộc này “ăn nói” rất khoa học. Người ta xếp tiếng Hung vào một trong năm thứ tiếng khó học nhất thế giới. Tuy nhiên, tối rất tiếc vì đã ko tìm hiểu sâu về tiếng Hung nên ko nhận thấy sự tinh tế của nó. Bây giờ, tôi mới nhận ra rằng: mình học tiếng Hung không đến nơi đến chốn. Từ vựng của tiếng Hung vô cùng phong phú, một sắc thái tình cảm có rất nhiều từ để thể hiện, mỗi từ có một mức độ khác nhau, có lẽ chỉ người Hung mới hiểu hết. Giá được sống lại những ngày đẹp ấy - azok a szép napok - tôi cũng sẽ lựa chọn học tiếng Hung, nhưng với tư cách của một người muốn nói và dùng như người Hung, bởi chỉ như thế mới thấy hết cái hay, cái đẹp của tiếng Hung.

Người Việt ta có thể nói: Tôi muốn uống nước. Còn người Hung khi nói với một cô gái Hung thì phải nói: Szeretnék inni chứ đừng nói : Akarok inni. Giờ đây khi trở lại với tiếng Hung tôi nhận ra rằng: tiếng Hung là 1 ngôn ngữ tuyệt vời. 

Cuối năm học đầu tiên, nhà trường cho chúng tôi đi tham quan các vùng khác nhau (theo ngành học) để có cái nhìn thực tế về đất nước Hungary. Đó là những kỷ niệm khó quên với chúng tôi. Rời NEI, chúng tôi ko thể quên các thầy cô giáo đầu tiên của mình ở đây. Những bước đi đầu tiên của chúng tôi trên đất Hungary là từ đây. Chúng tôi rất biết ơn những người đã tạo cho chúng tôi có được cơ hội để trưởng thành hơn. Với riêng tôi, thời gian ở NEI giúp tôi bắt đầu mở rộng thế giới quan của mình. Con người và văn hóa Hungary đã giúp tôi nhận ra nhiều điều, đôi khi chỉ là những chuyện rất nhỏ, nhưng đều có ý nghĩa đối với cuộc sống trên đất nước vô cùng tươi đẹp này.

Qua những thành phố và những vùng thôn quê khác nhau của Hungary, chúng tôi được biết một nước Hungary rất giàu bản sắc. Những chuyến đi ô-tô đường trường, những buổi lao động vất vả nhưng vui vẻ giúp chúng tôi hiểu được vị trí của mình trong xã hội, về khả năng của chúng tôi trong những việc có thể làm được đồng thời thêm tự tin vào khả năng đóng góp trong việc thay đổi quê hương của mình sau này, dù chỉ là một phần rất nhỏ.

Cho đến bây giờ, các bạn của tôi vẫn cho rằng: những kiến thức cơ bản mà chúng tôi nhận được trên đất Hungary là những điều quý báu vô giá để vận dụng trong công việc và cuộc sống. Thời gian sống và học tập ở Hungary đã giúp chúng tôi mở nhiều cánh cửa và nhiều cơ hội hơn, nhiều người trong chúng tôi đã thành công. Bây giờ, khi nhìn lại, Hungary là nơi ko thể quên trong cuộc du hành vạn dặm của cuộc đời. Tôi nghĩ điều quan trọng nhất là “make the best of what you have” - luôn luôn cố gắng vươn tới dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào và thay đổi môi trường xung quanh chứ đừng chỉ để hoàn cảnh của mình quyết định số phận của bản thân.

Đó là tinh thần mà tôi đã được tiếp nhận từ những thầy cô giáo Hungary, những người đã có vai trò và ảnh hưởng rất quan trọng đối với chúng tôi về nhận thức và quan điểm từ học tập và cuộc sống.

Hungary thật sự cho tôi một cuộc sống vô tư/gondtalan, rất bình yên và thoải mái. Dân tộc này có rất nhiều giá trị văn hóa, từ đó tạo nên khí chất riêng và định hình lịch sử của họ. Đó là một chặng đường hình thành đất nước Hungary như chúng tôi thấy: rất tráng lệ và cũng rất bi hùng, như bản quốc ca của họ, hay trong thi ca mang tâm hồn Hung của Petőfi, József Attila, hoặc mang tính biểu tượng về nghệ thuật & kiến trúc như Parlament, Quảng trường Anh hùng, Szabadság szobor.

Hơn một ngàn năm dựng nước và giữ nước của Hungary là những trang sử oai hùng, nhưng cũng trải qua nhiều biến cố bi thảm, khi vương quốc này đại bại trước quân Mông Cổ và gần như bị san bằng (1241-1242), bị Đế quốc Otthoman cai trị một phần đáng kể đất nước trong 150 năm (1541-1699), và sau đó là hơn 150 năm dưới ách đô hộ của Đế quốc Áo. Phải đến thời kỳ nền "song quốc quân chủ" Áo - Hung (1867-1918), Hungary mới giành được độc lập và trải qua nửa thế kỷ hòa bình, hạnh phúc và phát triển vượt bậc.

Trong thế kỷ 20, Hungary đứng về "phe bại trận" trong cả hai cuộc thế chiến, và hậu quả là hai phần ba diện tích đất nước bị cắt qua các nước láng giềng, hai phần ba cư dân Hung chỉ trong chốc lát biến thành công dân "xứ lạ". Những nỗi đau trong quá khứ ấy đến bây giờ người Hung vẫn nhắc nhớ, nhưng luôn đi kèm với niềm tự hào của một dân tộc anh dũng, không chịu khuất phục, đầu hàng, với khí phách "Chết tự do không chịu sống tôi đòi - Không yên nghỉ khi tự do chưa có" như đại thi hào Petőfi Sándor từng ca ngợi.

Dân tộc này đã có những người con vĩ đại trong khoa học, khi giới khoa học thế giới gọi các nhà bác học Hungary di cư từ Hungary qua Mỹ là "người Hỏa tinh" vì những phát minh xuất chúng của họ. Bom nguyên tử, bom khinh khí, máy điện toán... là một vài trog số rất nhiều công trình mà thế giới phải cám ơn Hungary, với những tên tuổi như Neumann János, Szilárd Leó, Teller Ede... 

Khi đó, sống giữa một đất nước như thế, hòa nhập ntn với cuộc sống và xã hội Hungary là thời kỳ có nhiều vấn đề với chúng tôi. Tôi biết, có những người rất hòa hợp, nhưng đa số thì ko như thế. 

Còn tôi, vốn từ bé đã có tư tưởng "hướng ngoại". Những lần trở về Hà Nội từ nơi sơ tán là những dịp để tôi lân la tìm hiểu về thế giới ở ngoài những trang sách. Những nơi tôi hay đến là các Đại sứ quán nước ngoài hoặc cơ quan đại diện văn hóa của các tổ chức quốc tế và các nước chưa có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Tôi dán mũi vào mặt kính xem không biết chán hình ảnh các nước được giới thiệu trong những Bảng tin (được làm như những cái hộp với mặt kính lớn và lắp đèn ống bên trong) đặt trước các cơ quan đại diện này.

Tôi đọc say sưa những câu chuyện thần thoại, bị lôi cuốn vào những câu chuyện cổ tích rồi đọc thêm những cuốn sách, tiểu thuyết được dịch ra tiếng Việt của các tác giả Đông Âu và Tây phương, thích thú xem những bộ phim nước ngoài và cũng không bỏ qua các tạp chí, báo ảnh các nước hoặc bài viết của các tác giả Việt Nam về các nước mà tôi muốn tìm hiểu (riêng Trung Quốc thì bị "dội" vì tôi cho rằng không hơn gì Việt Nam, có khi còn "hủ lậu" hơn nữa là khác. Tôi giống HTB ở chỗ không ưa nổi cái bản mặt của Mao được tô vẽ hết mức với chứng "sùng bái cá nhân" đầy rẫy trên sách báo đỏ lòe về "đại cách mạng văn hóa" TQ). 

Vì vậy, sang Hung, tôi vẫn muốn "tu tỉnh" bản thân khi được tiếp xúc với những cơn gió lành, những điều mới mẻ đến từ những phương trời xa lạ.

Anh Đinh Hoàng Thắng, sang Hung năm 1966, học Văn học và Ngôn ngữ Hungary (ELTE) tự nhận mình là "một chàng ngố bước ra thế giới". Anh mô tả cuộc sống của LHS khi đó là "lạc lõng giữa Việt Nam với thế giới", "cảm giác là sốc và choáng". Người Hung quan hệ với nhau quá cởi mở so với người Việt do tự do cá nhân của họ được đề cao hơn. LHS thì bị bó buộc rất nhiếu thứ, cấm đi nhảy, ko được xem phim tư bản, ko được mặc quần "bò", nam ko được để tóc dài, nếu ăn mặc theo phong cách thoải mái của thanh niên ở các nước châu Âu lúc đó sẽ bị coi là đua đòi lố lăng.

Cuộc sống của LHS ở Hung trong sự quản lý chung thường là họp hành (họp chi đoàn, họp đơn vị) và sinh hoạt văn hóa thường xuyên là đọc báo Việt ... Các cán bộ đơn vị có trách nhiệm theo dõi và nhắc nhở mọi người chấp hành những quy định của BQL và Sứ quán. Nhìn chung thì thấy những hoạt động này có vẻ mang tính hình thức và nghèo nàn, trừ khi mang tính tự phát do ham thích (và ko bị cấm) như bóng đá, bóng chuyền hay bóng bàn (tùy đơn vị).

Ở trong nước tôi chỉ hay đá cầu, cũng thích đá bóng nhưng hầu như ko có điều kiện vì có muốn cũng ko được. Sang Hung thì khác, sân bãi và bạn chơi đều có, chỉ cần mua giày, tất và áo quần là có thể ra sân. Máu me đá bóng là một chuyện, còn những trận cuồng phong trên sân cỏ qua màn ảnh nhỏ cũng rất cuốn hút tôi. Thần tượng của tôi những ngày ấy (tới nay vẫn ít người vượt qua được) là Johan Cruyff.

Johan Cruyff là linh hồn của Cơn Lốc Màu Cam và là cầu thủ (thủ lĩnh trên sân cỏ) tạo nên cuộc cách mạng bóng đá mang tên “Bóng đá tổng lực" (Total football) từng làm mưa làm gió trên khắp các sân cỏ châu Âu trong thập kỷ 70 và ảnh hưởng rất lớn đến bóng đá hiện đại ...Với lối đá tổng lực này, bóng đá châu Âu đã đè bẹp lối đá hoa mỹ cùng các thần tượng Nam Mỹ @ World Cup 1974 mà đại diện gồm cả Brazil, Argentina, Urugoay ...đều bị cuốn trôi khỏi các ngôi vị cao nhất. (1. Đức, 2. Hà Lan, 3. Ba Lan). Đây là 1 trong những WC hay nhất mà tôi được xem từ trước đến nay. 

Tôi đã xem những trận đấu đầu tiên của Cruyff trên màn hình TV tại phòng khách, đối diện với phòng thường trực, nằm ở tầng trệt của NEI. Lúc đầu, tôi chưa biết ông là ai nhưng ông đã làm tôi chú ý trong một trận đấu của đội tuyển Hà Lan bằng sự nổi bật trong chiếc áo số 14. Sau đó, khi biết ông đang là cầu thủ nổi tiếng nhất của châu Âu thì tôi đã không bỏ lỡ một trận đấu nào của Ajax và đội tuyển Hà Lan mà tôi biết. Cruyff được biết đến như một danh thủ toàn năng, chói sáng với kỹ thuật/khả năng xử lý bóng của phù thủy, tốc độ tuyệt vời, di chuyển ko bóng cực kỳ thông minh, nhạy bén trong mọi tình huống ghi bàn ...nhưng trên tất cả là tầm nhìn bao quát trận đấu và sự cảm nhận được từng vị trí của đồng đội để tổ chức và phối hợp thật ăn ý cả trong tấn công và phòng ngự.

Johan Cruyff  - Thần tượng của tôi

Xem trực tiếp các trận đấu của FIFA World Cup 1974 là 1 trải nghiệm ko thể quên của tôi. Đó là điều mà những người sống ở miền Bắc VN ko thể có được lúc đó. Giải đấu tuyệt vời này tôi đã xem cùng với những đàn anh học toán năm thứ 5 ở ký túc xá ELTE. Đây cũng là nơi tôi thường xuyên đá bóng, luyện tập cùng các tuyển thủ hay nhất của đội tuyển ELTE, 1 đội bóng mạnh của LHS ở Budapest. Lúc đó, tôi ở chung phòng với anh Hoàng Minh Chương trên tầng 11 nên mới có được "cái duyên" bóng bánh như thế, và nhờ thế mới "lên chân" sau thời gian đầu làm quen với trái bóng ở NEI.

Đây là những gương mặt của ELTE - 5 évesek csapata, trong đó có nhiều cầu thủ trụ cột của đội tuyển ELTE.
Hàng đứng (trái qua): (1) anh Thanh ?  (2) anh Phúc, cận nặng, rất ham bóng (3) anh Hoàng Minh Chương, là người cưu mang tôi, nhờ có anh mà tôi mới "cắm trại" được ở tầng 11, ký túc xá ELTE cả 1 năm trời. Hiếm khi được chơi bóng với anh vì anh ít khi ra sân, anh học rất chăm. Anh Chương là mẫu người đứng đắn và quy củ mà tôi rất nể (nhưng ko phục mấy) (4) anh Lượng, đá rất xông xáo (5) anh Nguyễn Quý Phương, sư phụ của tôi, nhờ anh mà tôi biết được nhiều điều, anh đọc và biết rất nhiều, rất uyên bác, đá bóng 'mồm' hay hơn 'đá trên sân'. Theo anh Chương, nếu chịu học thì anh Phương là người có triển vọng nhất về Toán trong số VIDI68 @ ELTE (6) Anh Tuyến (?)  (7) Anh Sỹ  (8) anh Hùng, cầu thủ nhanh nhẹn và có kỹ thuật khéo léo nhất, csapat kapitány của ELTE và là huấn luyện viên của tôi.
Hàng quỳ (trái qua): (1) "bu" Cừ, nhờ có anh mà tôi không bị đói, anh là tấm gương chí tình của tôi (2) ? (3) ?  (4) ? (5) anh Bùi Liêm, người hay pha trò và kể nhiều chuyện vui, bình luận viên bóng đá trứ danh của ELTE.

Tôi bắt đầu chú ý đến các ngôi sao Hà Lan thi đấu ở giải này. Nếu Johan Cruyff là cầu thủ không thể bị đánh bại ngay từ trận mở đầu với Uruguay thì Robbie Rensenbrink đã có màn trình diễn tuyệt vời khi Hà Lan xé toạc đội hình Bulgaria bằng chiến thắng 4:1. Johan Neeskens đã sớm mở tỷ số ngay ở phút thứ 5 với một quả phạt đền. Một phút trước khi hiệp một kết thúc, Rensenbrink phối hợp với Wim Jansen để tạo được cơ hội ghi bàn, Jansen bị đốn ngã và HL được hưởng quả phạt đền thứ hai. Neeskens ghi bàn một lần nữa, đưa bóng vào lưới để nâng tỉ số lên 2:0. Rep đã ghi bàn thắng thứ 3 của trận đấu (bàn thắng thứ 3 của anh trong giải đấu), bằng cú sút vô lê tung lưới Bulgaria sau khi họ không cản phá được quả đá phạt của Cruyff. 

World Cup 1974 là lần đầu tiên FIFA quyết định áp dụng thể thức chia nhóm để quyết định đội đi tiếp vào trận chung kết. Đứng đầu bảng 3, HL được xếp vào vòng hai bảng A. Cũng vượt qua vòng loại từ vòng bảng đầu tiên cùng với HL là; Đông Đức, Argentina và Brazil, đương kim vô địch World Cup. Bảng còn lại, B, là giải toàn châu Âu gồm Tây Đức, Thụy Điển, Ba Lan và Nam Tư.

Các cầu thủ HL tiến vào vòng tiếp theo đầy tự tin với bộ ba tấn công Cruyff-Rensenbrink-Rep. Họ bắt đầu với chiến thắng vùi dập Argentina với tỷ số 4:0. Hàng tiền vệ và hàng công của HL áp đảo hoàn toàn đội bóng của Roberto Perfumo ở Gelsenkirchen. Cruyff đã mở đầu những bàn thắng của mình tại giải đấu sau 11 phút bằng cách khống chế một đường chuyền đẹp mắt, vượt qua thủ môn Daniel Carnevali và ghi bàn. Ruud Krol đã ghi bàn thắng thứ hai khi anh ấy sút một quả từ rìa vòng cấm vào giữa hiệp một, trong khi Johnny Rep ghi bàn thắng thứ tư của giải đấu bằng một cú đánh đầu đẹp mắt từ quả tạt chính xác bên cánh trái của Cruyff. Cruyff đã tự mình quyết định trận đấu, bắt vô lê từ một góc hẹp sau khi cú sút của Wim van Hanegem bị cản phá.

Tiếp theo là đội bóng từ Đông Đức. Đội bóng đã gây chấn động làng bóng đá thế giới khi đánh bại chủ nhà Tây Đức với tỷ số 1-0 ở lượt trận cuối cùng của vòng bảng, qua đó giành ngôi đầu bảng 1. Cũng như trận gặp Argentina, HL bắt đầu thực sự mạnh mẽ và vượt lên dẫn trước từ đầu trận, Neeskens ghi bàn thắng thứ 3 của giải đấu (phút thứ 7) sau một pha hỗn chiến trong vòng cấm. Rensenbrink cuối cùng đã ghi bàn thắng đầu tiên của giải đấu bằng một cú sút chân trái đẹp mắt vào góc lưới, nâng tỷ số lên 2:0.

Chiến thắng trước Đông Đức tạo cơ hội quyết định vòng bảng trước Brazil, nhà đương kim vô địch cũng đã thắng hai trận mở màn vòng bảng, đánh bại Đông Đức 1:0 và đối thủ truyền kiếp Argentina 2:1. Trận đấu có tất cả các tác phẩm của một trận đấu kinh điển tuyệt đối. Brazil vẫn được nhớ đến với thứ bóng đá đẹp mắt của họ từ năm 1970, trước những đứa trẻ mới lớn - Bóng đá tổng lực của HL.

Tuy nhiên, thứ bóng đá đẹp mắt của Brazil ở Mexico năm 1970 dường như đã trở thành một ký ức xa vời, vì rõ ràng là họ đến với một trận chiến sức lực hơn là thể hiện kỹ năng. Brazil đã kết thúc hiệp 1 với tỷ số 0:0, nhưng 5 phút đầu hiệp hai, hai cầu thủ Johan, Cruyff và Neeskens, đã phối hợp tuyệt vời để đồng đội ghi bàn bằng một pha lốp bóng xuất sắc. Mười lăm phút sau, Rensenbrink kiến tạo cho Cruyff nâng tỷ số lên 2-0 với một nỗ lực bằng chân tuyệt vời. Thế là xong, trận đấu kết thúc, khi một Brazil ngày càng thất vọng dường như có ý định "đấu đá" với người HL hơn là cố gắng quay trở lại trận đấu. Và trận đấu đã kết thúc tồi tệ với Rensenbrink khi anh bị chấn thương phải nghỉ thi đấu ngay sau khi tạo cơ hội cho Cruyff ghi bàn.

Trước trận chung kết, HL chỉ có ba ngày để nghỉ ngơi. Ban huấn luyện và nhân viên y tế của HL đã làm việc cật lực để Rensenbrink có thể thi đấu với tình trạng tốt nhất. Michels biết bộ ba tấn công Cruyff, Rensenbrink và Rep đã thành công như thế nào. Đội ngũ y tế cuối cùng đã cho phép Rensenbrink thi đấu trận chung kết. Như thế, Michels có thể bố trí đội hình đã đánh bại Brazil để đối đầu với Tây Đức ở trận đấu cuối cùng.

Khúc bi tráng của những chiến binh ''da cam''

Trận chung kết diễn ra vào ngày 7 tháng 7 tại Olympiastadion, Munich. Ngoài lợi thế sân nhà, Tây Đức (TĐ) còn có rất nhiều ngôi sao: Thủ môn Sepp Maier là một trong những thủ môn xuất sắc nhất thế giới, Hoàng đế Franz Beckenbauer đã điều khiển hàng thủ một cách xuất sắc, trong khi tuyến trên của họ không ai nguy hiểm hơn Gerd Müller về khả năng ghi bàn.

Tuy nhiên, HL là những người được yêu thích hơn. Ngay phút đầu tiên, họ lập tức thực hiện 15 đường chuyền từ quả phát bóng và giành được một quả phạt đền - Uli Hoeness kết thúc pha solo tuyệt vời của Cruyff bằng cách hạ gục thủ lĩnh HL trong vòng cấm. Neeskens đã sút quả phạt đền ghi bàn nâng tỉ số lên 1:0. Các cầu thủ TĐ vẫn chưa chạm bóng!

HL tiếp tục làm chủ thế trận, họ gần như đùa giỡn với người Đức trong 20 phút tiếp theo. Trong những năm sau đó, đây là điều làm họ phải nhận nhiều lời chỉ trích, vì họ quá chú ý đến việc làm bẽ mặt các cầu thủ TĐ bằng cách chơi giữ bóng hơn là tận dụng lợi thế của mình và ghi ít nhất một bàn thắng khác. Đó là một trận đấu nguy hiểm, và như người ta thường thấy trong bóng đá, họ đã bị trừng phạt. Vào nửa đầu Hiệp 1, người Đức có được bàn gỡ hoà từ chấm phạt đền với một pha dâng cao đẹp mắt của cầu thủ chạy cánh trái Bernd Hölzenbein đã bị cản phá bởi một pha phạm lỗi vụng về của Wim Jansen. Đây là một quyết định gây tranh cãi của trọng tài người Anh Jack Taylor và các cầu thủ HL với lập luận gay gắt rằng ko có va chạm giữa Jansen và Hölzenbein. Nhưng Taylor ko thay đổi quyết định. Jongbloed hầu như bất động khi Paul Breitner thực hiện quả phạt đền ở bên trái. Người Đức đã lấy lại thế trận cân bằng, các cầu thủ HL dường như choáng váng trước quyết định của trọng tài.

Hậu vệ phải Berti Vogts luôn cố gắng ngăn chặn Cruyff và đã tỏ ra rất hiệu quả, đặc biệt là khi anh ta đã nhận một thẻ vàng. HL cầm cự chặt chẽ trước những đợt tấn công của Tây Đức và đáp trả bằng một pha đột phá nguy hiểm với cú sút của Rep bị Maier cản phá.

Chỉ còn hai phút nữa là đến giờ nghỉ giữa hiệp, tưởng chừng như HL sẽ tận dụng cơ hội trong khoảng thời gian bù giờ nhưng TĐ đã vượt lên dẫn trước. Gerd Müller vĩ đại đã ghi một bàn thắng chứng tỏ khả năng săn bàn đáng kinh ngạc của mình. Một pha xuyên phá tuyệt vời và một kỹ năng khéo léo bên cánh phải của Rainer Bonhof đã chuyền bóng chính xác cho Müller. Quay lưng về phía khung thành, Müller xoay người theo đường chuyền của trái bóng và ngay lập tức đưa bóng vào lưới.

Các cầu thủ HL quay vào phòng thay đồ trong tâm trạng nặng nề với tỷ số 2:1. Khi họ rời sân, Cruyff bị thẻ vàng vì tiếp tục phàn nàn với Jack Taylor về quả phạt đền.

HL cần phải ngẩng cao đầu và kiểm soát trận đấu một lần nữa. Rensenbrink ko thể thi đấu đúng sức của mình và được thay thế bởi René van de Kerkhof. Giờ nghỉ giải lao chính là điều người HL cần, và họ bước vào Hiệp 2 với những gì mà họ có thể làm được.

Đầu tiên, Breitner phải đánh đầu phá bóng cận thành từ một quả phạt góc, sau đó Rep và Van Hanegem đã áp sát rất khó chịu. Tuy nhiên, khi các nỗ lực của HL nhắm vào khung thành, Sepp Maier đã ngăn chặn mọi thứ nhắm vào mình. Johnny Rep lại áp sát, ở khoảng cách tối đa, Rep đã nỗ lực hết sức trong gang tấc, trong khi Neeskens thực hiện một cú sút từ rìa vòng cấm nhưng bóng lại đi chệch cột dọc. Và đó là nỗ lực cuối cùng thực sự gây khó khăn cho khung thành Maier. TĐ dưới sự chỉ đạo của Helmut Schön, đã chơi một trận đấu tuyệt vời, đặc biệt là sau bàn thua sớm, và đã tìm cách vô hiệu hóa thứ bóng đá thực sự tự do mà chúng ta đã thấy của Cruyff và HL trong phần còn lại của giải đấu.

Quả là một kết thúc đáng thất vọng cho HL, thậm chí còn tồi tệ hơn khi đối đầu với đối thủ lớn nhất của họ. Johan Cruyff có tên trong đội hình tiêu biểu của giải đấu, cùng với các đồng đội Rob Rensenbrink, Johan Neeskens và Ruud Krol.

Dù ko vô địch World Cup, đội tuyển HL năm 1974 vẫn là một trong những đội bóng được yêu thích nhất mọi thời đại của nhiều người hâm mộ bóng đá, với một di sản và tình yêu thực sự của bóng đá.

HL ko chỉ là một trong những đội bóng vĩ đại nhất chưa bao giờ vô địch World Cup, mà còn là một trong những đội bóng vĩ đại nhất thế giới từ trước đến nay.

Bức ảnh dưới đây là 1 trong những tấm hình trong cuốn tạp chí Bóng đá của Pháp (Futbol Mundial) phát hành ngay sau WC-74 với những tấm hình in màu rất đẹp (nguyên khổ giấy) của các cầu thủ nổi bật nhất ở giải này mà tôi rất thích. Riêng hình của đội tuyển HL được in 2 mặt (trang giữa) là hình lớn nhất (ko phải hình của đội Tây Đức). Tôi vẫn nhớ giá của nó là 50Ft với trang bìa là hình của "Gerd" Müller 2 tay giơ cao khẩu đại pháo (1 biểu tượng của Müller lúc đó). Tôi đã mua nó ở Quảng trường Tròn và cắt hình của các cầu thủ treo lên tường trong phòng của mình (ktx @ Pécs). Chừng này cũng là một món tiền kha khá đối với những LHS khốn khổ như chúng tôi lúc đó (tương đương với 1 cái vé xe buýt mỗi tháng).

Đội tuyển màu cam
Hàng đứng (từ trái qua): 1. Jongbloed, 2. Rijsbergen, 3. Haan, 4. Neeskens, 5. Krol, 6. Suurbier
Hàng ngồi (từ trái qua): 1. Rep, 2. Cruyff, 3. Rensenbrink, 4. Jansen, 5. Van Hanegem

Với những cầu thủ tiêu biểu cho sức mạnh của bóng đá tổng lực, đội HL được giới hâm mộ kỳ vọng sẽ chứng tỏ được vị thế số 1 của mình trước những đại diện mạnh nhất của thế giới: là ứng cử viên lớn nhất cho ngôi vị vô địch tại sân đấu WC ở Tây Đức năm 1974.

Tuy vậy, tại WC-1974 HL ko thi đấu với đội hình mạnh nhất của mình. Hàng thủ của HL bị yếu đi do sự vắng mặt của Barry Hulshoff (libero của Ajax, bị chấn thương đầu gối). Một cầu thủ khác, tiền vệ Gerrie Muhren cũng ko thể thi đấu. Đây cũng là 1 mất mát của HL vì Muhren là cầu thủ quan trọng trong lối chơi tổng lực của Rinus Michels.

Thủ môn Jan van Beveren của PSV Eindhoven từng là sự lựa chọn số một trong suốt vòng loại WC nhưng cũng đã dính chấn thương nên Rinus Michels buộc phải chọn Jongbloed thay thế.

Michels đã tìm cách thay đổi hệ thống với hàng tấn công ba người. Cruyff đóng vai trò trung phong linh hoạt, Rob Rensenbrink của Anderlecht ở bên trái và ngôi sao 22 tuổi của Ajax, Johnny Rep ở bên phải.

''Đội tuyển Hà Lan giữa những năm 1970 là một trong những đội bóng đáng nhớ nhất trong lịch sử bóng đá. Cuộc cách mạng của Bóng đá tổng lực, bộ đồ adidas màu cam mang tính biểu tượng cùng đội hình của những cầu thủ với đẳng cấp thế giới, tất cả kết hợp lại để biến họ trở thành một trong những đội bóng vĩ đại nhất từ trước đến nay của môn thể thao này."

Trích từ 'THE STORY OF THE NETHERLANDS AT THE 1974 WORLD CUP' (C.F. CLASSICS)

Hungary còn là nơi mà các ban nhạc, ca sĩ và cầu thủ nổi tiếng được biết đến nhiều hơn các vị lãnh đạo nhà nước. Hình tượng lãnh tụ, cờ quạt, khẩu hiệu, bích chương cổ động và ca tụng chế độ...không nhiều như ở Việt Nam và những nước chúng tôi đã đi qua cũng là điều đáng ghi nhận của đất nước này. Ở Budapest, thay cho tượng đài hùng vĩ của cách mạng thường thấy ở các nước khác, biểu tượng của Tự do được đặt ở nơi cao nhất của thành phố là một phát hiện làm tôi càng tôn trọng hơn dân tộc này.

Đến với Hungary là đến với nhiều con đường mới. Trong đó, phải kế đến âm nhạc. Ko chỉ là thú vui, với tôi, nó là 1 phần ko thể thiếu của cuộc sống. Năm học đầu tiên, cũng là năm tràn ngập âm thanh của tôi với nhạc Hung và nhạc nước ngoài. Ở khu nội trú của Viện Dự bị Quốc tế, tôi hay qua phòng của anh Nguyễn QuangViệt để nghe nhạc vì anh ấy vốn tốt bụng, rất thoải mái và không bao giờ phiền hà gì.

Khi còn ở VN, tôi thường nghe nhạc nước ngoài qua radio. Riêng nhạc Nga thì tôi hay lên mấy tầng trên nghe ké đĩa nhạc của những nhà có con du học từ Liên Xô về. Tôi nghe nhiều nhất trong một nhà ở tầng 2 vì nhà này có cái radio "Rigonda" nghe đĩa rất đã. Hành trang nhạc nước ngoài theo tôi sang Hung chỉ có vậy.

Khi mới sang Hungari, trong số các bạn VN cùng khóa 1972, tôi cũng hay qua phòng của Khánh vì đều là dân Hà Nội và cùng ở 1 tầng @ NEI (ban đầu, tôi và Bình "to" không nhập bọn với nhóm 3 tên 'Khánh-Việt-Trung' vì thời gian đầu ở NEI tôi hay đi chơi và chụp hình với hội miền Nam, còn Bình "to" thì hình như gắn bó với những tên "Đức văn" hơn do đi theo đoàn từ Đại Từ, Thái Nguyên). Tôi còn nhớ khi đó tôi không ưa HTB vì mặc mấy cái áo màu mè quá, trong đó tôi ghét nhất cái áo màu hồng như đồ đàn bà con gái...  còn Bình "to" thì khệnh khạng mồm miệng oang oang rất ngứa mắt, nhức tai... 

Riêng Khánh thì gần như tökéletes vì ngoài tính cách "ăn ở" hết sức quy củ, không chê chỗ nào được rất riêng của mình, tôi mến Khánh ở chỗ tên này có vốn nhạc hơn hẳn tôi, Khánh biết chơi guitar rất bài bản và hiểu biết nhiều về nhạc cổ điển. Từ Khánh mà tôi thích Tchaikovsky vì ở VN thì tôi chỉ nghe nhạc cổ điển cho biết chứ không để tâm vào một nhạc sĩ nào dù có những bản nhạc mà tôi nhận thấy nhiều đoạn đáng chú ý. Về sau, Khánh còn chỉ tôi đánh đàn, rất tiếc là tôi mới học được từ Khánh có 2 bài, bài đầu tiên là bài "Ngôi sao ban chiều" còn bài kia có tiết tấu nhanh hơn thì tôi quên mất tên. Nếu chuyên chú và chăm chỉ hơn thì tôi cũng có thể có ngón đàn tàm tạm gọi là khả năng âm nhạc ko chuyên. 

Năm học ngoại ngữ, tôi chỉ nghe nhạc từ băng và đĩa. Về sau, vào ngày nghỉ hay những lúc rảnh rỗi, tôi thích theo dõi chương trình nhạc ưa thích trên TV và radio của Hung (FM). Vì rất mê những chương trình nhạc chọn lọc này nên tôi thường xem báo RTV (Részletes Rádióműsor, Tv műsor) để biết giờ phát và đánh dấu những bài mình đã biết đồng thời tìm hiểu thêm về những bài mới. Tôi hầu như không thể bỏ qua những chương trình này, trừ khi lao ra sân đá bóng (dù rất tiếc) nhưng không thể có được cả hai nên phải chọn điều mà không phải chỉ mình muốn là được (vì vậy mà tôi rất ghét mấy thằng máu gái bỏ bê bóng đá, thậm chí tôi còn xếp bọn này vào loại "chết vì gái". Bây giờ nghĩ lại thấy mình tức cười quá :)). Tôi thích cả nhạc nước ngoài và nhạc Hung, dĩ nhiên là nhạc nước ngoài thường được đánh giá cao hơn, kể cả nhạc hòa tấu gồm những bài hát nổi tiếng của các nước.

Về nhạc hòa tấu, Paul Mauriat là dàn nhạc rất quen thuộc ngay từ thời NEI, về sau tôi nghe nhiều hơn từ đĩa và radio. 


Tôi có ý tưởng này khi đọc lại những bài viết của HTB trong mục "Từ phương trời ấy". Với trí nhớ của cậu ta, tất cả hiện ra thật sinh động như những đoạn phim, rất rõ nét, chân thực và đầy cảm xúc. Một thời trẻ trung đẹp đẽ và say mê. HTB là một cây bút tuyệt vời khi đã dành nhiều thời gian để dồn tâm trí của mình vào những dòng chữ ghi lại những ngày đẹp ấy. Phải nói rằng, tất cả đều là những bài viết hay nhất, đáng đọc nhất, thể hiện đúng tính chất và nội dung của blog này mà chính cậu ấy đã bộc bạch ở "Mục đích thành lập Blog VIDI 72-73". Có thể gọi những gì được tập hợp lại trong loạt bài này như Một Thời Để Nhớ hay như Hoàng tử đã ghi lại trong ký ức của chúng ta là Chuyến Phiêu Lưu Mơ Mộng Hungari/Magyarországi álom kaland.

Tôi đã nói đến những mảnh ghép của chúng ta, như 1 bức tranh mosaic, tôi cảm ơn HTB và cũng nghĩ như HTB khi góp ý về blog này gần đây. Cần chăm chút như người làm vườn với cây cỏ/hoa trái trên mảnh vườn chung này, nơi góp nhặt/lưu lại những gì làm chúng ta nhớ nhất/nhớ mãi về tuổi trẻ, về đất nước và con người Hungary, kể cả những ảo vọng và vấp ngã dại khờ của một thời ngu ngơ... vì thế mà chẳng chỉ là hoa thơm trái ngọt, kể cả quả cay trái đắng cũng là những thứ không thể thiếu, nào có hề gì vì đời là thế.

Và như thế, những cảm nhận Từ phương trời ấy là chuyên mục dành cho chúng ta, là tập hợp của những cảm xúc khi nhớ lại và suy nghĩ để chia sẻ với nhau những gì chất chứa trong lòng mà đến bây giờ chẳng còn của riêng ai vì cũng như của cải/vật chất rồi cũng tan theo năm tháng.

Mong mỏi của tôi là chân thật, hy vọng nó không rơi vào hư vô và tan biến vào nó.

(còn nữa)