Monday, November 16, 2020

Truyện ngắn: Chú Tư Mạnh

 Những năm đầu của thập niên 80 , sau 5 năm cải tạo ở Củ Chi , Tôi được về thành phố dạy 1 trường Cấp 3 ở gần nhà . Mỗi tuần chỉ có 12 tiết dạy của 3 lớp cuối cấp, chuẩn bị thi tốt nghiệp phổ thông . Rảnh rỗi dù thời gian này, cả nước đang đói . Nhưng tôi vốn vô lo , đến đâu hay đến đó, quanh quẩn với đồng lương chết đói , sống tạm qua ngày . Chẳng biết làm chi cho hết giờ, lại bày đặt Chơi Chim . Chơi ở vườn Tao Đàn, sáng sáng xách lồng chim , đạp xe ra , tụ nhau lại đấu láo và nghe chim hót . Và cũng từ đó thành lập 1 nhóm cùng ngồi với nhau .

Người cao tuổi nhất nhóm là Chú Tư Mạnh , hồi đó cũng khoảng 50 . Chú cao to như Tây , ăn mặc chải chuốt và thanh lịch như công chức cao cấp thời trước . Giọng rặt Nam bộ và hành xử cũng khá hào phóng với mọi người . Gia đình Chú thuộc loại giàu có , hồi đó đa số đều đi xe đạp hoặc xe gắn máy cũ mèm , Chú chơi xe Honda đời mới do đám viễn dương đem về bán , chiếc nào cũng giá mấy lượng vàng . Đôi khi cuối tuần , Chú lại đến bằng xe hơi Peugeot có tài xế lái . Lúc đầu , ai cũng tưởng Chú là cán bộ có chức vụ về hưu , nhưng dần dần hỏi chuyện hoá ra không phải . Chú là dân buôn bán từ xưa đến giờ . Chuyên bán vàng . Lúc đó nhà nước cấm dữ lắm , nhưng nhu cẩu xã hội vẫn có , nên Chú vẫn tiếp tục nghề xưa , dù là mua chui bán lậu . Chú có đến 3 căn nhà , toàn mặt tiền đường lớn , mà cái nào cũng to . Tụi tui cứ thắc mắc không hiểu với tài sản như thế mà sao gia đình Chú lại thoát được mấy lần đánh tư sản khốc liệt vậy ? Hoá ra là Chú có người em ở rừng về , làm chức gì lớn lắm trong uỷ ban thành phố , nên tài sản Chú được an toàn mà nghe đâu lại càng nhiều hơn khi có sự trợ thủ đắc lực của Chú Em . Sáng nào cũng vậy , Chú đều chơi dĩa bò kho bánh mì có bốn miếng thịt lớn , Chú bảo Chú rất thích món này , ăn hoài không thấy ngán . Thường thường , Chú ăn 2 miếng , còn 2 miếng bà chủ đã biết ý , luôn gói lại đưa Chú mang về cho 2 con chó Fox bé tí tì ti . Thời đó đói ăn , cả tháng làm giáo viên như tôi mới mua tiêu chuẩn được nửa kí thịt heo bạc nhạc với mỡ , nên thấy Chú ăn sáng như vậy , tụi tôi thấy Chú quá sang trọng , nên dù ngồi với nhau , tiếng nói của Chú vẫn có giá trị hơn hẳn . Người giàu sang lúc nào cũng thế , giữa mọi người họ vẫn có vị thế cao hơn 1 bậc , bởi họ nhiều tiền hơn đương nhiên tiếng nói của họ được vị nể hơn . Chúng tôi càng nể Chú hơn nữa khi gặp 2 đứa con của Chú . Chú có 2 đứa con , trai lớn gần 30 , cô con gái nhỏ khoảng 25-26 tuổi . Cả 2 đều rất lễ phép và cũng vừa lập gia đình . Mỗi lần đi đâu xa hoặc  cuối tuần về quê chồng quê vợ , con Chú đều ra tận nơi sân chim để chào và xin phép Chú về thăm Cha thăm Mẹ . Lần nào cũng cúi đầu , khoanh tay chào hết mọi người khi đền cũng như lúc đi . Chú hãnh diện về điều này , mà tụi tôi cũng đồng ý về sự hãnh diện đó của Chú . Cái thời buổi nhiễu nhương , ông thằng thay đổi tá lả thế này , nề nếp gia phong lộn tùng phèo mà còn được những đứa con như thế thì hãnh diện là quá đúng rồi !

Nhưng hoá ra là đóng kịch cả, là mưu mô cả . Lần hồi, các màn kịch cứ he hé và lần lượt diễn ra, tụi tôi nhiều khi không tin được , không ngờ cuộc đời lại có nhiều chuyện khốn nạn đến thế . Khi xã hội Việt Nam bắt đầu mở cửa là lúc màn kịch bắt đầu .

Đầu tiên là căn nhà ba tầng ở Bùi Thị Xuân , căn nhà lâu nay giao cho anh con trai lớn ở và bán buôn . Một ngày đẹp trời vợ chồng anh về thưa với vợ chồng Chú là anh ta muốn sửa sang lại để biến thành khách sạn , bởi bắt đầu sẽ có khách du lịch về , doanh nghiệp qua , đón đầu như vậy mới thắng lớn được . Nghe bùi tai quá , vợ chồng chúng nó từ xưa đến nay ngoan ngoãn , biết lo làm ăn , chưa hề làm mất lòng 2 vợ chồng Chú . Thế là sang tên cho chúng để chúng chúng mở doanh nghiệp , xin giấy phép xây cất . Lại còn cho chúng mượn 300 lượng vàng làm vốn . Hai vợ chồng an tâm phần thằng Hai . Chúng nó làm ăn thành công thì mình lo chi tuổi già , xem như chia gia tài trước cho chúng . Giải quyết nhẹ bâng .

Lại đến cô con gái , cũng 1 đêm mát trời , con gái nằm gãi lưng cho mẹ vừa thủ thỉ : Vợ chồng con cũng đã lớn rồi , ba má cho chúng con ra riêng đặng lo cho tương lai . Ba má giao cho tụi con cái nhà ở đường Nguyễn Đình Chiểu đang cho thuê , tụi con dọn về đó mở tiệm vàng , bây giờ nhà nước cho tư nhân mua bán vàng , làm ăn tốt lắm . Ba má vẫn ở nhà này , tuổi già cần yên tĩnh mà ở chung thế này nhiều khi các con của con quấy quá làm phiền ba má . Nói nghe lọt tai quá , nghĩ cũng hợp lí quá , sang tên nhà , đưa thêm 300 lượng làm hàng bán . Lúc đưa vàng , vợ chồng Chú bắt phải có mặt Con Rể , hai vợ chồng cùng ký giấy mượn của vợ chồng Chú 200 lượng , còn 100 lượng kia cho hai đứa bây làm vốn . Thế là xem như xong chuyện của hai đứa con , hai vợ chồng Chú vui vẻ để lại tiếp tục sống cuộc đời hạnh phúc .

Đùng 1 cái , anh con trai lớn không biết làm ăn hùn hạp với ai , phải cầm cố nhà cửa , khách sạn . Rồi 1 ngày cả nhà trốn mất . Vượt biên . Khách sạn bị tịch thu , cửa khoá to đùng với tờ giấy dán chéo ghi : Vượt biên , phản quốc với mấy dấu đóng đỏ lòm . Chú Tư Mạnh ốm mấy tháng , Vợ Chú lên cơn đau tim phải vào cấp cứu . Thôi ! Của đi thay người , chỉ mong gia đình nó đến nơi bình an . Nhưng rồi , tin đến chẳng bình an , anh con trai , con dâu và đứa cháu nội bị bão đánh chìm đâu đó ngoài biển sâu . Vợ Chồng Chú suy sụp hẳn , Chú vật vờ như mộng du , thương con , thương cháu đến đứt cả ruột . Một năm sau , không chịu thấu nỗi đau , không dằn nổi những cơn đau tim , Vợ Chú qua đời . Đến thắp nhang cho Thím , nhìn thấy mái tóc mới qua mấy đêm đã bạc trắng của Chú , chúng tôi xót xa cho bi kịch dồn dập đổ xuống gia đình của Chú . Cô con gái và chàng rể quấn khăn tang lo hậu sự , nước mắt vẫn lả chã nhưng trong đầu cũng đang tính chuyện mốt mai . Thế rồi khi tro cốt của Vợ Chú an vị ở Chùa , ngày cúng thất đầu tiên , hai vợ chồng cô con gái vẫn còn mang áo tang đề nghị với Chú : Má mất rồi , Ba tuổi đã lớn , ở đây 1 mình chẳng có ai chăm sóc gần gũi , gia đình mình giờ chỉ còn Con với Ba , Ba bán căn nhà này đi , cho chúng con mượn thêm , làm ăn bây giờ hơn nhau ở chỗ vốn nhiều mới mong thắng lớn , về ở với vợ chồng con , để con được săn sóc ba tuổi về già , lúc đau ốm , đỡ buổn lo , quạnh quẽ . Nghe đúng quá mà . Bây giờ chỉ còn mình nó , không ở với nó thì ở với ai ? Một mình giữ tiền chi cho nhiều , đưa cho chúng làm ăn , có phải là sinh lợi hơn sao . Nỗi buồn chưa lắng xuống , nên Chú Tư giao việc bán mua cho vợ chồng cô con gái , dọn về ở cùng con . Thế là cuối cùng , Chú chỉ còn độc ngôi nhà này .

Lúc đầu , ông Con Rể sắp đặt cho Chú ở lầu 1 , lên xuống cho dễ . Phòng này trước đây cháu ngoại của Chú ở , bây giờ nó dọn lên phòng trên . Phòng tiện nghi , có cửa sổ , có máy lạnh , giường nệm êm , Chú tự nghĩ thế cũng tốt , cũng là nhà của mình mà . Chú lại ra Chơi Chim với nhóm , dù không thường xuyên lắm . Tóc Chú trắng xoá , khuôn mặt buồn không còn vui vẻ như trước , nhưng hàng ngày vẫn dĩa bò kho bốn miếng thịt , ăn hai miếng đem về hai miếng cho hai con chó Fox bé tí tì ti .

Nhưng cuộc sống vẫn chưa yên . Hai vợ chồng cô con gái bắt đầu kiếm chuyện . Đầu tiên là mấy con chim . Trước đây ông con rể khi ra chỗ Chơi Chim thường xách lồng ra xe cho Chú , lặt cào cào cho chim ăn , hàng ngày phụ trách vệ sinh mấy lồng chim cho Chú . Bây giờ ông Con Rể ngạo ngược bảo chim cò bẩn cả nhà , trưa nghỉ 1 tí cũng không yên bởi tiếng hót lanh lảnh của nó . Chú Tư tắm chim , phơi nắng cho chim , hắn đi ngang đá lồng lăn lông lốc và bảo : chật chội , vướng víu quá ! Bực cả mình ! Đôi mắt Chú ngày càng buồn , miệng Chú càng ngày càng ít nói . Rồi từ lầu 1 , chúng dời Chú lên phòng sân thượng , ông con rể bảo cho Chú lên đấy để Chú tiện gần gũi với chim , để chim phía dưới mất vệ sinh , thức ăn rơi ruồi bu , kiến đậu , lông chim bay ảnh hưởng sức khoẻ của mọi người . Chú bằng lòng với sự sắp xếp của nó , dù mỗi lần lên xuống cầu thang , Chú phải nghỉ thở mấy lần . Hồi còn ở dưới , đến bữa cô người làm hoặc cháu ngoại còn lên mời Chú xuống nhà ăn cơm . Từ hồi lên trên này , chúng chẳng kêu , chẳng báo . Khi nào đói , Chú lặng lẽ lần mò xuống ăn . Thức ăn lỏng chỏng như đồ thừa , nhiều lần ngồi ăn , Chú rớt nước mắt . Chú thèm được 1 bữa cơm gia đình sum họp , đầy tiếng nói cười với những ánh mắt thương yêu . Mất hết rồi ! Chẳng tìm đâu thấy nữa . Hàng ngày , Chú xách lồng chim ra ngồi với chúng tôi chốc lát , đó là niềm vui còn sót lại trong ngày của Chú , Chú xem chúng tôi như người nhà , nên những chuyện buồn , bất hạnh của Chú , Chú đều kể cho chúng tôi nghe . Chú vẫn còn ăn món bò kho , nhưng không gói thịt về cho chó nữa vì chúng cũng đã bị cậu con Rể đá chết rồi .

Nghe tin Chú bệnh , nhóm chúng tôi đến thăm Chú . Bước qua cửa , chúng tôi được đón bằng cái nguýt dài của cô Con Gái , cái ánh mắt bực bội của chàng Con Rể . Chúng chẳng chào 1 tiếng , chẳng hỏi 1 câu làm chúng tôi ngỡ ngàng , sao con người biến đổi 1 cách lạ kỳ như vậy ? Chú Tư đón chúng tôi nơi phòng khách , kế bên cửa sổ nhìn ra sân , Chú không dám nhìn thẳng mắt ai , ánh mắt như muốn xin lỗi , ngượng ngùng . Ngồi chưa nóng đít , anh con rể vừa nhả khói thuốc vừa nói vọng vào từ ngoài sân : Ba đưa mấy Chú lên lầu , lát nữa tui có khách . Chú Tư nhìn ra , ánh mắt 1 thoáng như toé lửa , rồi hạ nhiệt ngay , cụp xuống đầy uất hận . Thấy không tiện , tụi tôi rút , ra về cũng không có 1 lời chào . Ai cũng chép miệng : Tội nghiệp Chú Tư . .

Cuối năm 92 , nhóm chúng tôi tản hàng , anh Ba cộng hoà đi HO chuyến áp chót , anh Nam mắt kiếng đi diện đoàn tụ gia đình , tôi bỏ dạy sau 1 màn ác chiến với tay hiệu trưởng vừa nhậm chức , tôi rời bục giảng , mở công ty , chen chân làm doanh nghiệp . Công việc bận rộn , chẳng còn thời gian đâu mà chim với cò , nên cũng chẳng có dịp để gặp Chú Tư Mạnh . Đôi khi gặp đám Chơi Chim ở Tao Đàn , hỏi thăm tin tức về Chú , có người bảo gặp , có kẻ bảo không , định bụng bữa nào ghé thăm Chú 1 bữa . Tình cờ 1 hôm đi qua nhà Chú , thấy người ta đập xây cao ốc mới , hỏi thăm mới biết nhà đã thay chủ , không biết  gia đình Chú dọn đi đâu , có người bảo đã đi hết ra nước ngoài . Tôi bặt tin Chú Tư từ đó , lòng vẫn mong chú khoẻ , hy vọng ở nước ngoài , có viện dưỡng lão , Chú được vào đó cũng đỡ khổ thân .

* * *

Tết Nguyên Đán năm 2005 , thay vì tổ chức thăm hỏi , tặng quà cho trẻ bị bệnh ở khoa Nhi bệnh viện Ung bướu như mọi lần , công ty chúng tôi đổi hướng đi đến thăm những người già ở nhà dưỡng lão Thị Nghè . Thấy các bé còn nhỏ đã mắc bệnh nan y , thương cho chúng chưa hưởng gì ở cuộc đời đã mang bệnh chờ chết , đau xót lắm . Nhưng dù sao các cháu khi bệnh , đứa nào cũng có mẹ , hoặc cha , hay ông hay bà thay phiên chăm sóc . Còn ở đây , trong thế giới người già , là nỗi cô đơn cùng cực . Hầu hết các cụ ở đây đều không có gia đình , người thân , hoặc bị con cháu bỏ rơi . Họ cô độc trong những ngày tháng cuối của cuộc đời , họ chờ đợi trong vô vọng những ánh mắt thương yêu của người thân , họ khát khao được nhìn mặt , cầm tay cháu con , nhưng không bao giờ toại nguyện . Họ chậm chạp trong sinh hoạt và chậm chạp đến lần với cõi chết . Những căn phòng ẩm ướt , những áo quần chẳng lành lặn , những gói , những bao không biết đựng gì để đầy trên giường , dưới chân  họ . Họ mừng khi thấy chúng tôi đến , họ vui khi nhận được quà , nhưng ánh mắt vẫn nặng trĩu nỗi muộn phiền . Ở cuối phòng , có 1 cụ già cứ lấy tay che mặt khi chúng tôi trao quà , tránh ánh mắt của tôi .

Tôi xong việc của mình , định ra , bỗng Ông Cụ buông tay , vươn cánh tay vẫy vẫy . Ông Cụ gầy gò , da bọc xương , hai xương vai nhô lên như hai mảnh nhọn , bụng trương lên như trống . Tóc lơ thơ rụng gần hết , mắt đục lờ với khuôn mặt nhăn nhúm , vàng khè . Trên khuôn mặt đó , tôi tìm thấy 1 nét quen thuộc của ai đó mình đã từng gặp trong đời . Tôi chưa nhớ ra .

Ông Cụ vẫn vẫy , tôi đi ngược trở lại và ông nắm lấy bàn tay tôi , nói nhỏ : Anh Ngọc phải không ? Có còn nhớ tôi không ? Tôi Tư Mạnh đây . Tôi giật mình , gai ốc bỗng rờn rợn , trời ơi ! Chú Tư Mạnh đây sao . Cuộc đời sao vậy trời . Sao Chú lại ở đây , sao Chú ra nông nỗi này ?

Tôi ngồi xuống ôm chặt lấy Chú , Chú cũng ôm tôi và Chú khóc , nước mắt ướt đẫm vai Tôi , và Tôi cũng khóc theo Chú . Hai người ôm nhau khóc 1 hồi , có Ông Cụ giường bên nhìn Tôi với ánh mắt chẳng có chút thân thiện : Con cháu , anh em gì mà bỏ rơi Ông Cụ mấy năm liền , giờ còn khóc lóc gì ? Chú Tư xua tay : Không phải , không phải đâu , người quen thôi mà .

Chúng tôi ra ngoài sân , ngồi trên ghế đá nói chuyện . Tôi hỏi Chú hay là mình qua bên đường uống cà phê . Chú gật , ánh mắt thoáng chút vui . Tôi xin phép cán bộ dẫn Chú ra ngoài . Hai chúng tôi băng qua đường , Chú đi khập khiễng , tôi phải dìu Chú đi . Tôi hỏi Chú muốn ăn gì không , Chú nhìn tôi , ngập ngừng : Tôi … thèm ăn dĩa bò kho … dĩa bò kho 4 miếng thịt và ổ bánh mì thật dòn . Tôi chảy nước mắt ngồi nhìn Chú ăn , Chú ăn ngon lành , miếng thịt trệu trạo trong cái miệng móm mém gần hết răng của Chú .

Và rồi Chú kể cho tôi nghe tại sao Chú có mặt ở đây mấy năm nay ,

Anh biết không , con Hiếu , con gái khốn nạn của Tôi , anh còn nhớ nó chứ ? Tôi đặt nó tên Hiếu mà nó bất hiếu ác nhơn . Nó lấy hết tiền của tôi rồi lừa cho tôi vào đây . Hồi đấy , sau cái lần tôi bệnh mấy anh em vào thăm , thấy chúng nó tồi tệ quá mức rồi , tôi chịu hết nổi nên nói với vợ chồng nó trả vàng cho tôi để tôi đi kiếm chỗ khác ở , dứt tình Cha Con . Nhưng chúng lật lọng , bảo chẳng nợ gì tôi . Tức quá tôi thưa , tôi còn đủ giấy tờ mà . Toà xử chúng phải trả nợ cho tôi . Chúng lần lửa mãi , và có trả tôi 1 lần 10 cây vàng , hẹn cuối năm thanh toán hết . Rồi bỗng dưng 2 vợ chồng nó thân thiện , săn sóc Tôi dữ lắm . Mua đồ này thức nọ cho tôi ăn , sắm áo quần mới cho Tôi mặc , đối xử với tôi rất nhẹ nhàng . Tôi nghĩ , thôi thì con mình đã biết suy nghĩ lại , gia đình , thân thuộc tôi chẳng còn ai , có đứa em trai thì bệnh ung thư chết mấy năm rồi . Làm Cha Mẹ phải biết tha thứ cho con . Được mấy tháng thì 1 hôm nó nói mời cả nhà đi du lịch Nhật Bản , Tôi vui lắm , hăm hở sửa soạn đồ đạc để đi đến 10 ngày . Nhưng đến phút chót , lấy cớ có việc bất ngờ , cả nhà nó ở lại , đành bỏ vé , nên tôi đi 1 mình . Đi du lịch cùng đoàn nên có bạn có bè cũng vui . Hôm đầu điện thoại về , còn nghe nó trả lời , hôm sau cũng còn , nhưng đến hôm thứ 3 thì gọi mãi không được . Tôi sốt ruột nhưng cũng đành chờ cho đến ngày cuối , do vậy chuyến du lịch bỗng mất vui . Nào ngờ khi về đến nhà thì cửa đóng im ỉm , bấm chuông mãi thì có người thò đầu ra nắng , cái mặt lạ hoắc . Hỏi anh ta là ai ? Anh ta hỏi vặn lại Tôi là ai ? Tôi bảo tôi là chủ nhà , anh ta cười hô hố bảo tôi điên , rồi bảo anh ta đã mua căn nhà này rồi , đừng có kiếm chuyện . Tôi như từ cung trăng rớt xuống , mồ hôi ra lạnh cả người và nằm thẳng cẳng giữa lề đường . Hàng xóm thấy vậy chở Tôi đi nhà thương , đến khi tỉnh , được mọi người kể mới biết gia đình nó đi Mỹ định cư cả tuần lễ nay rồi , ai cũng tưởng tôi đã cùng đi với chúng nó . Thế ra Nó lừa Tôi , Nó giả vờ thương yêu Tôi để Tôi mất cảnh giác , nó lừa Tôi đi du lịch để nó giao nhà và ra đi . Nó cướp hết số vàng mà vợ chồng Tôi cho nó vay . Nó khốn nạn thế đấy , nó mưu mô hiểm ác vậy đấy . Thế là Tôi trở thành kẻ vô gia cư . Còn ít vàng tôi để ở nhà , chắc nó cũng lấy đi rồi , tôi chẳng có cách nào để sống nên khi hết bệnh ở nhà thương , nhà-cầm-quyền đưa tôi vào đây ở mấy năm nay .

Tôi nghe mà bàng hoàng , không tin nổi nếu như không gặp Chú Tư ở đây . Tôi không ngờ trên đời lại có những đứa con như vậy . Rồi cuộc đời nó có an lành để sống không ? Con cái chúng sẽ nghĩ gì khi biết được cha mẹ chúng đã đối xử với ông chúng như thế ? Tôi thật sự khiếp hãi khi nhìn thấy con người ta vì đồng tiền mà bán cả lương tri .

Tôi khuyên Chú đi bệnh viện vì thấy Chú yếu quá , nhưng Chú bảo Chú không muốn chữa bệnh , Chú chỉ mong được đi mau để khỏi phải đau khổ và dằn vặt . Chú xin tôi 1 điều là gắng đến thăm Chú và khi nào Chú mất , làm ơn đem tro cốt của Chú để vào chùa cùng nơi với Vợ Chú .

Đó lại là lần cuối cùng tôi gặp Chú , Chủ Nhật sau tôi ghé Chú thì Chú đã đi rồi , trên tay tôi vẫn còn mang cặp lồng món bò kho 4 miếng thịt mà Chú ưa thích . Tôi lặng lẽ mang hủ tro cốt của Chú vào Chùa , làm thủ tục để cạnh hủ tro của Vợ Chú , từ nay 2 vợ chồng sẽ mãi gần nhau và Chú đi được vậy cũng là điều giải thoát cho 1 kiếp người . Mong Chú đến nơi không còn khổ đau , gian dối và lừa lọc . Mong Chú yên nghỉ nghe Chú Tư Mạnh .

Đỗ Duy Ngọc

Sunday, November 15, 2020

Xe lửa/vonat thời tôi đi học ở Hung

Hình ảnh lưu lại từ FB-csoport Hungarian Treasures

Azok a 70-es évek (Szocializmus hagyatéka)

Thursday, November 12, 2020

Từ Khải Hoàn Môn - Paris Nhớ Erich Maria Remarque

diadalív árnyékában là cuốn sách tiếng Hung đầu tiên mà tôi đọc. Tiếc là những cuốn sách tiếng Hung này quá ít, nên vốn liếng tiếng Hung của tôi vốn hẻo càng hẻo sau ngót 50 năm hầu như ko sử dụng.

TBT LÊ DUẨN ĐÃ “CHỈNH” THỦ TƯỚNG CHND TRUNG QUỐC “CHU ÂN LAI” NHƯ THẾ NÀO ?

 Trung Quốc đã trao đổi nhiều với Mỹ và ép buộc chúng ta phục vụ như là một con bài để mặc cả theo cách này. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua trận, ngay lập tức, họ sử dụng Trung Quốc để tạo điều kiện rút quân ở miền Nam Việt Nam. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận vấn đề này.

Trước khi Nixon đi Trung Quốc, mục đích chuyến đi của ông ta là giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ. Chu Ân Lai đã đến gặp TBT Lê Duẩn. Chu Ân Lai nói với ông: 

“Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí“.

Ông trả lời: 

“ Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi - đất nước của tôi - hoàn toàn không phải của các đồng chí. 

Các đồng chí không có quyền nói về vấn đề Việt Nam và các đồng chí không có quyền thảo luận các vấn đề đó với Mỹ. Hôm nay, các đồng chí, chính tôi sẽ nói với các đồng chí điều mà thậm chí tôi chưa hề nói với Bộ Chính trị, rằng đồng chí đã nêu ra vấn đề nghiêm trọng và vì thế tôi phải nói:

“Năm 1954, khi chúng tôi giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, tôi đã ở tỉnh Hậu Nghĩa. Bác Hồ đã điện nói với tôi rằng, tôi phải vào miền Nam để tập hợp các lực lượng ở đó và nói chuyện với đồng bào miền Nam về vấn đề này.   

“Tôi đi bằng xe tải vào miền Nam. Trên đường đi, đồng bào ra chào đón tôi vì họ nghĩ rằng chúng tôi đã giành chiến thắng. Đau đớn vô cùng! Nhìn đồng bào miền Nam, tôi đã khóc. Vì sau đó, Hoa Kỳ sẽ đến và tàn sát người dân một cách khủng khiếp.  Khi vừa tới miền Nam, ngay lập tức, tôi đã điện cho Bác Hồ để xin ở lại miền Nam và không trở lại miền Bắc để tôi có thể đánh thêm mười năm nữa hoặc hơn. 

“Đồng chí đã gây khó khăn cho tôi như thế này ( muốn nói đến vai trò của Chu Ân Lai trong việc chia cắt Việt Nam tại Geneva năm 1954 ) đồng chí có biết không“?

Chu Ân Lai nói: 

“Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” 

Nguồn full: http://redsvn.net/bai-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-le-duan.../

Wednesday, November 11, 2020

Có phải là số phận

 KHÔNG CÓ GÌ LÀ SỐ PHẬN, TẤT CẢ CHỈ LÀ THỬ THÁCH, TRỪNG PHẠT HAY BÙ ĐẮP.

Voltaire

Monday, November 9, 2020

NGƯỜI BẮC ÂU: SỐNG ĐƠN GIẢN, ÍT HAM MUỐN VẬT CHẤT

 Người Bắc Âu được đánh giá là những người “biết sống” nhất trên thế giới này. Họ sống rất tự nhiên, đơn giản và hạnh phúc – chính là những điều mà con người hiện đại mong muốn hướng tới.

Để ý một chút, người ta nhận thấy, ở các quốc gia ở Bắc Âu đa phần không có nhà cao tầng to lớn, người dân ăn mặc rất mộc mạc, đi những chiếc xe cũ kỹ và ăn những món ăn đơn giản.

Người Bắc Âu: Sống đơn giản, ít ham muốn vật chất để tâm linh an bình

Cứ sau 7 giờ tối, gần như trên các ngả đường đều rất yên ắng, không có cuộc sống “xa hoa trụy lạc” vào ban đêm, cũng không có những dịch vụ cao cấp xa xỉ, kích thích thần kinh con người. Vậy, hạnh phúc của những người dân Bắc Âu đến từ đâu?

Người Bắc Âu thường xuyên nhắc đến cụm từ “Chất lượng cuộc sống”. Người Thụy Điển có câu châm ngôn: “Tiền là thứ có thể để dành được còn thời gian thì không để dành được. Bạn sử dụng thời gian như thế nào thì nó sẽ quyết định chất lượng cuộc sống của cuộc đời bạn.”

Giữa: “Cuộc sống đầy đủ nhà cao cửa rộng, tiền bạc và xe hơi sang trọng” và “Cuộc sống có đầy đủ vợ chồng, con cái, sân vườn”, người Bắc Âu sẽ lựa chọn cái vế thứ hai bởi vì thứ mà họ muốn là “phẩm chất” (chất lượng) chứ không phải là “vật chất”.

Nếu sống luôn trong trạng thái vội vã, bận rộn, bạn có nghĩ rằng linh hồn của mình sẽ không theo kịp thể xác không? Người Bắc Âu lựa chọn cách sống “chậm một chút”, nhưng họ có thể tìm được hạnh phúc thực sự từ đây.

- Sống đơn giản – Giảm ham muốn vật chất, trở về với tâm linh yên bình

Hoàn cảnh thiên nhiên hà khắc khiến cho thói quen tiết kiệm đã trở thành điều tất nhiên ở Bắc Âu. Họ quan niệm rằng: “Cơm không thể không ăn, nhưng không nhất thiết phải ăn quá ngon. Tiền không thể không có, nhưng không nhất thiết phải có quá nhiều.”

Cuộc sống đơn giản của người Bắc Âu rất dễ để người khác nhận ra. Nó thể hiện trong cách ăn mặc, không quan trọng là đắt hay rẻ nhưng cần phải phù hợp. Những phụ nữ 70-80 tuổi thường mặc áo khoác màu nhạt kết hợp chân váy, đi giày nữ tính, khăn trùm đầu phong cách nữ hoàng Anh. Nhìn họ vừa nữ tính vừa trang nghiêm nhưng cũng không mất đi vẻ cuốn hút.

Ngoài ra, nếu nhà ai đó mới sinh em bé thì những nhà hàng xóm hay bạn bè đều sẽ mang những bộ quần áo cũ đã được giặt rũ thơm tho đến cho em bé sử dụng. Điều này là rất bình thường và có vẻ như nó cũng trở thành một thói quen lâu đời của người Bắc Âu.

Nếu một anh chàng thanh niên, một ông lão hay một cô gái đang đi trên đường mà bất chợt gặp bạn bè, thì quán cà phê ở đầu đường hay cuối ngõ sẽ là lựa chọn đầu tiên của họ. Một cốc cà phê nồng nàn trong không gian tĩnh lặng sẽ khiến họ ấm áp và thân thiết hơn.

Đường ở một số quốc gia Bắc Âu thường hẹp, ở thành thị thì phần lớn nó không phải những con đường thẳng mà là những ngõ, hẻm.

Người dân nơi đây chủ yếu sử dụng những loại xe ô tô cá nhân cỡ nhỏ. Rất nhiều người họ đều là đạp xe đạp đi làm. Bảo vệ môi trường đối với họ không phải là một loại “mốt” mà là một sự “cao thượng”.

- Hiệu suất cao – Làm việc để cuộc sống tốt hơn

Cả ngày nhàn rỗi, không làm việc gì và làm việc cả ngày từ sáng đến tối muộn là hai trạng thái mà người Bắc Âu không lựa chọn.

Công việc của họ không quá khắt khe về thời gian, họ có thể làm thêm được việc khác nhưng họ không chọn cách ấy mà sẽ ngồi uống cà phê với bạn hay đọc sách. Dù vậy, bạn đừng nghĩ rằng, người Bắc Âu suốt ngày chỉ biết uống cà phê nhé! Điều kiện tiên quyết để họ được hưởng cuộc sống hạnh phúc là từ một thể chế phúc lợi do chính thái độ và hiệu suất làm việc của họ đem lại. “Đừng suy xét đến thu nhập, trước tiên hãy hỏi mình thích hay không thích, bởi vì công việc mình phải thích thì mới làm tốt được nó”, đây là quan niệm của người Bắc Âu. Cho nên, đối với người Bắc Âu mà nói, công việc không phải là một loại “dằn vặt, giày vò”.

Vì đề cao năng suất, nên người Bắc Âu nghĩ mọi cách để sáng tạo, như vậy để họ có nhiều thời gian hơn cho việc nghỉ ngơi và cho gia đình. Nhìn vào số lượng giải Nobel hay những giải thưởng danh giá khác trên thế giới chúng ta sẽ thấy rõ điều này.

Có nhiều thời gian hơn, người Bắc Âu sẽ tận hưởng cuộc sống bằng các kỳ nghỉ. Người Bắc Âu nổi tiếng là những người yêu du lịch. Họ thường xuyên đi hưởng thụ, ngắm cảnh đẹp trong nước cũng như trên toàn thế giới.

-Yêu gia đình – vui chơi cùng con cái

Trong cuộc sống của người Bắc Âu, chỉ cần vừa có kỳ nghỉ là họ sẽ cùng gia đình tận hưởng những ngày vui đùa bên nhau, cùng tắm biển, tắm nắng, trượt tuyết, cưỡi ngựa…

Người Bắc Âu rất đề cao giá trị gia đình, người chồng trong gia đình sẵn sàng hủy bỏ những buổi gặp gỡ ăn uống với bạn bè sau giờ làm để dành thời gian cho vợ con.

Điều đầu tiên sau khi tan ca trở về nhà chính là mọi người giành thời gian cho gia đình. Họ cùng nhau nấu ăn, vui đùa, kể chuyện, có rất ít người ở lại bên ngoài. Cho dù là có muốn làm thêm thì họ cũng phải chọn thời gian để tránh ảnh hưởng đến gia đình.

Ví dụ, người chồng sẽ chọn đi làm tăng ca vào lúc 3 giờ sáng bởi vì họ cho rằng buổi sáng ít nhất còn có người vợ ở nhà dùng bữa sáng cùng các con. Như vậy, người chồng sẽ chỉ bị mất đi khoảng 1 tiếng đồng hồ là thời gian gia đình gặp gỡ nhau ăn sáng. Làm thêm giờ vào buổi sáng sớm, nghe thì có vẻ khó tin, nhưng điều này lại cho các ông bố có thêm thời gian vào buổi tối để gia đình được ăn tối cùng nhau.

Một người cha tên là Fredrik nói: “Nếu như một ngày, tôi không nhìn thấy bọn trẻ, không kể cho chúng một câu chuyện, không hôn lên đầu chúng thì tôi không thể làm được bất cứ điều gì”

Họ cho rằng, khoảnh khắc hạnh phúc nhất chính là những đứa trẻ leo lên đầu gối và ôm lấy cổ bố chúng, hôn một cái trước khi đi ngủ. Họ cảm thấy khoảnh khắc ấy chính là một loại thành tựu, một loại hạnh phúc trong cuộc đời.

Đối với người đàn ông Bắc Âu mà nói, gia đình và con cái không phải là nền tảng giúp người đàn công tìm kiếm sự thành công, mà là một phần quan trọng nhất tạo nên chất lượng cuộc sống của họ.

AN HÒA (St)

Sunday, November 8, 2020

Vợ chồng và cuộc sống gia đình

 CHUYỆN ĐẠI SỰ...

Hồi mới cưới, sáng sáng hai vợ chồng đều nằm ôm nhau âu yếm trò chuyện. Vợ vẫn thường hỏi “Trưa anh thích ăn gì?”

Anh luồn tay vào áo vợ thủ thỉ “Anh chỉ thích ăn bánh bao thôi.”

Hồi vợ có bầu đứa lớn, tối nào trước khi đi ngủ anh cũng nằm xoa bụng vợ độc thoại mấy lời yêu thương.

Vợ vẫn thường làm mặt nũng nịu “Đêm anh thích ăn gì?”

Anh luồn tay vào áo vợ trêu chọc “Anh ăn chay thôi, cây nhà lá vườn bưởi vợ hí hí.”

Rồi con bé được 20 tháng, công việc lại bận rộn nên vợ thuyết phục bà nội cho cai sữa. Nhưng sáng sáng cái cảnh chồng thơ con mọn vẫn diễn ra như thường. Vợ đầu bù tóc rối vừa vội vàng thay đồ vừa nhắc đi nhắc lại những việc từ trong nhà ra ngõ.

- "Trưa anh thích ăn gì để em còn đi chợ?"

Anh nhìn vợ cười cười “Mướp xào.”

- “Mùa này làm gì có mướp, em có bầu đâu mà anh ăn dở vậy.”

- "Thì ngoài chợ không có mướp, anh ăn mướp nhà cũng được.”

Vợ nghe đến đó biết bị trêu đểu, liếc nhanh xuống ngực rồi hậm hực lườm một cái rõ dài.

- "Đây chỉ có mướp thôi chê mướp thì ra đường ăn phở đi nhé.”

Và thế ngày hôm đó vợ giận dỗi đình công cho hai bố con sáng mì tôm chiều phở nhưng đêm vẫn lại món “mướp xào”.

Rồi anh thấy vợ chăm chỉ bỏ heo, hỏi bỏ làm gì thì kêu chuyện đại sự không thể tiết lộ. Nhưng anh tình cờ thấy vợ bàn chuyện làm ngực với mấy chị đồng nghiệp . Các mẹ bỉm sữa, mẹ 1 con, mẹ 2 con, mẹ nào cũng hô hào khẩu hiệu “phải đẹp thì mới giữ được chồng, ngực phải nở mông phải cong…bla bla đến khổ.”

Mỗi ngày vợ bỏ heo 50k hôm nào nhiều thì được 100k, có hôm bỏ 10k mắt vẫn long lanh hy vọng.

Nhưng rồi vợ đẻ đứa thứ hai chi phí sinh hoạt nhân thêm,công việc của anh lại cần thêm chút tiền chạy vạy. Tối đó vợ đập heo, anh bảo để anh vay thêm bạn bè cũng được, heo em để lo chuyện đại sự của em, đừng đập.

Vợ lắc đầu “Em vẫn còn xoay sở được thì không để anh phải cầu cạnh bạn bè, nợ tiền nợ tình mình không trả được lại khó ăn nói với người ta.”

Đêm đó anh ôm vợ thủ thỉ “Thế còn chuyện đại sự của em thì sao?” . Vợ cười “Thôi để thằng út 2-3 tuổi em bỏ heo sau, giờ quan trọng là chồng thương em thôi, chuyện đó làm hay không làm cũng được.”

Ở với nhau thoáng cái đã hai mặt con nhưng chẳng nhớ bao lâu rồi anh mới lặng lẽ quay lại nhìn vợ, nhìn thật kĩ cơ thể của người đàn bà nơi mà người ta sẽ thấy sự hy sinh được cụ thể hoá trên từng đường nét.

Lần đầu tiên anh cảm thấy được sự mất mát, anh hiểu tại sao vợ không bật đèn khi chúng mình thân mật và không đứng trước gương quá lâu như lúc xuân thì. Anh hiểu tại sao vợ đầu đội trời chân đạp đất không kêu ca nhưng lại chỉ vì vài câu đùi voi ngực mướp là tủi lòng khóc lóc.

Vợ ơi, bưởi có giá của bưởi, mướp cũng có giá của mướp, chắc gì những người đàn ông tay cầm bưởi ngon mà giấc ngủ đã tròn. Có đáng không , khi vì vài phút đã mắt thích tay mà phản bội tình nghĩa phu thê, làm tổn thương người hy sinh cho mình cả một đời vô điều kiện.

Và thế là đại sự của phụ nữ, đại sự của những người vợ quay đi quẩn lại vẫn chỉ là chuyện chăm con giữ chồng, chuyện vun vén cho tổ ấm của mình được yên lành đi qua những ngày bão.

Và thế là đại sự của đàn ông, đại sự của những người chồng chính là đối đãi với người vợ làm sao để cô ấy luôn cảm thấy hạnh phúc, cảm thấy hãnh diện bởi được trân trọng, trân trọng tình yêu, trân trọng sự hy sinh và trân trọng cả những cơ thể không còn được hoàn hảo theo năm tháng…

Sưu tầm.

( của anh Andy Trương )

Saturday, November 7, 2020

Lẽ đời

 NGHỆ THUẬT TUỔI GIÀ

Xưa nghe người ta nói

Thủ tương Chu Dung Cơ

Có IQ cao lắm.

Cao đến mức bất ngờ.

Vừa rồi ông có viết

Bản tổng kết khá hay

Về nhân tình thế thái.

Xin tóm lược thế này.

Tháng năm trôi nhanh lắm.

Chẳng mấy chốc đã già.

Giờ thanh thản nhìn lại,

Điểm những gì đã qua.

Qua một ngày, đơn giản

Là ta mất một ngày.

Nhưng nếu biết sống đúng,

Là ta lãi một ngày.

Tiền không phải tất cả,

Nhưng cũng không là gì.

Khi sinh ta chẳng có,

Chết cũng chẳng mang đi.

Đừng coi trọng nó quá,

Càng không nên ki bo.

Cần tiêu, cứ thoải mái.

Cần cho thì cứ cho.

Tiền mua được sức khỏe

Thì hãy mua cho mình.

Tiền mua được cái sướng,

Càng nên mua cho mình.

Kiếm được tiền đã khó.

Khó hơn - biết tiêu tiền.

Mình phải làm chủ nó.

Ngược lại sẽ rất phiền.

*

Những tháng năm còn lại

Được sống thì sống đi.

Vậy hãy sống vui vẻ,

Khổ hạnh mà làm gì.

Cần mặc thì cứ mặc,

Cần chơi thì cứ chơi.

Đừng sợ công nghệ mới.

Già, sống là nghỉ ngơi.

*

Suy cho cùng, tiền bạc

Là của cháu con mình.

Công danh là quá khứ.

Sức khỏe mới của mình.

*

Bố mẹ yêu con cái

Là vô tận, vô cùng.

Con cái yêu bố mẹ

Có hạn và chung chung.

Con tiêu tiền bố mẹ

Coi như chuyện đương nhiên.

Hiếm khi thấy bố mẹ

Ngửa tay xin con tiền.

Ngôi nhà của bố mẹ

Là ngôi nhà của con.

Nhưng ngôi nhà của con

Không phải nhà bố mẹ.

Xưa nay luôn vẫn vậy.

Bố mẹ suốt cả đời

Sinh con, nuôi con lớn,

Chỉ mong chúng thành người.

Mà không chờ báo đáp.

Coi như nghĩa vụ mình.

Ai mong chờ báo đáp

Là tự làm khổ mình.

*

Ngộ nhỡ mình đau ốm,

Biết trông cậy ai đây?

Đặc biệt khi ốm nặng,

Phải nằm viện dài ngày.

Vợ và con không thể

Lúc nào cũng ngồi bên.

Họ mệt mỏi, rốt cục

Phải nhờ cậy đồng tiền.

*

Bí quyết của thanh thản

Là triết lý thông minh:

Trên - lắm kẻ thành đạt.

Dưới - ít ai bằng mình.

*

Sống, phải lòng rộng mở,

Tốt bụng với mọi người.

Vui vì làm việc thiện.

Vui vì giúp được đời.

Giàu sang chỉ tạm bợ,

Rồi ai cũng xuống mồ.

Sống thị và sống tốt

Hơn ghế cao, chức to.

Đời có hay có dở,

Lúc sướng, lúc gian nan.

Gặp khó, cứ bình tĩnh

Và không quá cầu toàn.

*

Tuổi già là cái tuổi

Sẽ không thực sự già

Nếu ta biết có được

Một cách sống hài hòa.

Vui, không vui thái quá.

Không thái quá khi buồn.

Quá nhàn thành buồn tẻ,

Đau đầu vì quá ồn.

*

Đừng nghĩ già là hết,

Không còn nhu cầu chơi.

Hãy tìm trò thích hợp

Mà sống khỏe với đời.

Cả chuyện tâm, sinh lý,

Cả đối với người già

Cũng phải giữ đều đặn

Cho khí huyết lưu hòa.

*

Cái Sinh Lão Bệnh Tử

Là quy luật của trời.

Lúc phải chết thì chết,

Xứng đáng một con người.

Không cưỡng được số mệnh,

Nuối tiếc mà là gì.

Ta đặt dấu chấm hết

Rồi thanh thản ra đi.

Thai Ba Tan

Kádár-korszak: Tiền/học bổng thời sv

Friday, November 6, 2020

Con đường đã mất...

 Con đường xưa nhất Sài Gòn

Đường Tự Do (sau 1975 là đường Đồng Khởi), vào thời Pháp thuộc mang tên Catinat và ít lâu trước đó gọi là đường số 16. Con đường này đã có từ thời nhà Nguyễn khi lập thành Gia Định. Đầu con đường giáp với bờ sông Bình Giang (Sài Gòn), từng là nơi vua nhà Nguyễn đến nghỉ ngơi và… tắm (Bến Ngự). Dân chúng hầu như ai cũng biết đến con đường này. Đó là nơi sinh hoạt của giới thượng lưu Sài Gòn.

Có rất nhiều tài liệu và hình ảnh về đường Catinat qua các thời kỳ do người Pháp và người Mỹ ghi lại đủ biết con phố này rất ấn tượng như thế nào! Tác giả Nguyễn Tiến Quang tại Pháp ghi nhận: “Pallu de la Barrière, một trong những người Pháp đầu tiên, đã miêu tả con đường số 16 này vào năm 1861, như sau: “Du khách đến Sài Gòn nhìn thấy bên hữu ngạn con sông một đường phố mà hai bên bị đứt quãng bởi những khoảng trống lớn. Phần lớn nhà cửa làm bằng cây lợp lá cọ ngắn; số khác ít hơn, làm bằng đá. Mái nhà lợp bằng ngói đỏ làm vui mắt và tạo được cảm giác yên bình…”. Tính cách quan trọng của con đường Catinat thể hiện ở chỗ nó được thực dân Pháp sử dụng làm trung tâm của bộ máy thuộc địa.

Theo một số sử liệu, Catinat là tên một Thống chế Pháp sinh năm 1637 và mất năm 1712, phục vụ dưới thời vua Louis XIV. Giữa thế kỷ XIX, Pháp lấy tên Catinat đặt cho một chiếc tàu chiến từng tham gia trận đánh Sài Gòn năm 1859 và dựa vào chi tiết này, De La Grandière đặt cho con đường số 16 tên Catinat (trường hợp tương tự cũng xảy ra với rạch Thị Nghè, được Pháp gọi là Arroyo d’Avalanche).

Năm 1864, Nha Giám đốc Nội vụ (Direction de  L’Intérieur), người dân đương thời gọi là “Dinh Thượng Thơ”, được xây dựng, nhìn ra đường Catinat, phía đối diện dinh Thủy sư Ðề đốc. Viên chức lãnh đạo cơ quan này, xét về mặt cai trị, chỉ xếp sau Thống đốc Nam Kỳ, trực tiếp chỉ huy các tham biện Pháp và quan lại Việt Nam cấp huyện, phủ, đốc phủ sứ. Ðầu thập niên 1880, ngay trên lộ trình con đường chạy qua, mọc lên ngôi nhà thờ Notre Dame, về sau được cư dân Sài Gòn gọi là Nhà thờ Ðức Bà hay Vương Cung Thánh Ðường. Sau lưng nhà thờ là đường Norodom, lấy tên ông hoàng xứ Cambodge (Campuchia) đến thăm Sài Gòn vào đầu năm 1867, nhân cuộc đấu xảo canh nông đầu tiên tổ chức tại đây.

Năm 1886, Pháp khởi công xây trụ sở Sở Bưu chính và Viễn thông (nay là Bưu điện) trên khu đất đối diện với mặt tiền nhà thờ, nằm giữa con đường Catinat và đường Paul Blanchy (nay là Hai Bà Trưng). Cuối đường Catinat, có một tháp nước cao, được xây dựng năm 1878 nhằm cung cấp nước uống cho cư dân trong vùng. Tuy nhiên, đến năm 1921, với sự phát triển của dân cư, tháp nước này không đáp ứng được yêu cầu nên bị đập bỏ. Ngày 1-1-1900, nhà hát Tây (nay là Nhà hát thành phố) được khánh thành trên giao lộ đường Bonard (nay là Lê Lợi) và Catinat, trở thành nơi biểu diễn thường xuyên của những đoàn hát từ phương Tây đến.

Ðường Catinat thuở ban đầu kéo dài tới đường Mayer (Hiền Vương/Võ Thị Sáu). Khi qua giao lộ với đường Norodom (Thống Nhất/Lê Duẩn) thì gọi là Catinat prolongée (Catinat nối dài). Sau khi Pháp đặt tháp nước và thành lập quảng trường Thống chế Joffre thì đoạn đường này mới đặt tên lại là Blancubé và Garcerie. Cuối cùng đường Catinat còn dài 630 mét, từ đầu đường Bến Bạch Ðằng đến Vương Cung Thánh Ðường là kết thúc.

Trong Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca, xuất bản năm 1909, tác giả Nguyễn Liên Phong miêu tả đường Catinat như sau:

                                “Nhứt là đường Ca-ti-na

                                  Hai bên lầu các, phố nhà phân minh,

                                   Bực thềm lót đá sạch tinh,

                                   Các cửa hàng bán lịch thanh tốt đều,

                                    Máy may mấy chỗ quá nhiều,

                                     Các tiệm tủ ghế dập dìu phô trương,

                                      Ðồ sành, đồ cẩn, đồ đương,

                                      Ðồ thêu, đồ chạm trữ thường thiếu chi…

                                       Nhà in, nhà thuộc, nhà chà,

                                        Nhà hàng ăn ngủ với nhà lạc son (xoong),

                                         Phong lưu cách điệu ai bằng,

                                          Ðường đi trơn láng, đèn giăng sáng lòa,

                                           Thứ năm, thứ bảy, thứ ba,

                                            Với đêm chúa nhựt hát nhà hát Tây…”.

Qua miêu tả trên, ta thấy hình ảnh nhộn nhịp của phố Catinat đã hoàn chỉnh từ những năm đầu của thế kỷ 20, nếu so với các con phố thương mại trung tâm như Charner (Nguyễn Huệ) Bonard (Lê Lợi). Ngoài những khách sạn, nhà hàng có từ thuở ban đầu, tạo nên một hình ảnh Á Ðông, từ năm 1954 về sau, các văn phòng, hiệu buôn, khách sạn, nhà hàng bắt đầu thay đổi hình dạng theo kiểu kiến trúc tân thời, không còn lưu lại nét cổ xưa riêng biệt.

Giới văn phòng, văn nghệ sĩ, thương gia đã làm nên cái trục “văn hoá không tên” qua ba địa điểm café, nhà hàng thường lui tới. Ðó là Givral – La Pagode – Brodard, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.

Một là nhà hàng Givral ngay góc đường Tự Do và Lê Lợi. Xưa kia nguyên là tiệm thuốc Tây đầu tiên ở Sài Gòn. Cũng theo tài liệu của Nguyễn Tiến Quang, tiệm khai trương năm 1865, chủ nhân là Lourdeau, sau làm Xã trưởng Sài Gòn (1870). Ít lâu sau, hiệu thuốc được giao lại cho Holbé, tiến sĩ dược khoa, một nhân vật khá nổi tiếng của đất Sài Gòn xưa, từng làm Phó Chủ tịch Phòng Thương mại Sài Gòn, Phó Chủ tịch Hội đồng quản hạt Nam Kỳ (Conseil colonial de la Cochinchine). Holbé từng điều chế ra một loại biệt dược có tên “Gouttes Holbé” dành cho những tay nghiện á phiện cai nghiện. Về sau, nhà thuốc Tây về tay Renoux, rồi Solirène và mang tên vị chủ nhân này trong một thời gian dài, trước khi bị thay thế bởi nhà hàng Givral.

Nhà văn Văn Quang (Nguyễn Quang Tuyến) ghi lại hồi ức của mình: “Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ nghị viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia, chuyện phe nhóm, gia nô và không gia nô, chuyện tình bà nghị ông nghị…” cứ nghe mấy ông này là có đủ tin giật gân trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi hỗ tương: anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên, ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây”.

Hai là nhà hàng La Pagode nằm ở góc đường Lê Thánh Tôn và Tự Do. Nhiều người rất nhớ khung cảnh của nhà hàng cà phê La Pagode mà mình lui tới. Nhà văn Văn Quang nhớ lại: “Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Ðình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Ðạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Ðình Toàn…”.

Cuối cùng là quán café Brodard nằm ở góc Tự Do – Nguyễn Thiệp. Bên kia đường là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt. Bà chị này hành nghề cai quản các em từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng”. Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những “anh hùng hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính Tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các đại gia, tiểu gia thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, doanh nhân có xế bốn bánh đủ để chở các em đi ăn đêm.

TN.

Nguồn: Ly Lê 

Classical architecture: Patio

 Andalusian patios are central open spaces in the courtyard houses of Al-Andalus (Spain). The stone patios are an architectural evolution of the Roman atrium.

(Wikipedia)

Ảnh: from DiscoverImages.com

Thursday, November 5, 2020

Bên dòng sông xanh

BlueHour

Nếu đó là quê hương?

 A father said to his daughter “You have graduated with honors, here is a car I bought many years ago. It is a bit older now. But before I give it to you, take it to the used car lot downtown and tell them I want to sell it and see how much they offer you for it. 

The daughter went to the used car lot, returned to her father and said, “They offered me $1,000 because the said it looks pretty worn out.” 

The father said, now “Take it to the pawn shop.” The daughter went to the pawn shop, returned to her father and said,”The pawn shop offered only $100 because it is an old car.” 

The father asked his daughter to go to a car club now and show them the car. The daughter then took the car to the club, returned and told her father,” Some people in the club offered $100,000 for it because it’s a Nissan Skyline R34, it's an iconic car and sought by many collectors” 

Now the father said this to his daughter, “The right place values you the right way,” If you are not valued, do not be angry, it means you are in the wrong place. Those who know your value are those who appreciate you......Never stay in a place where no one sees your value.

Never!

Địa chỉ & kỷ niệm ko quên trong ký ức: Khách sạn Tròn/Körszálló

Fél évszázadnyi történetet, rengeteg betont és az egyik legszebb fővárosi kilátást rejti a Szilágyi Erzsébet fasornál tornyosuló Hotel Budapest. A szocialista presztízsberuházásként 1967-ben épült Körszálló nemcsak a szocializmus egyik legmenőbb hoteljének számított, de a kor éjszakai életét is meghatározta: budai aranyifjak, nyugati diplomaták, sportolók, hírességek mulattak és szálltak meg itt. Kelet és nyugat találkozott.

Address: Budapest, Szilágyi Erzsébet fasor 47, 1026 Hungary

(trích từ We Love Budapest)

1975 (Ảnh: Hungarian Treasures)

Hiện tại: View 1

Hiện tại: View 2

Entrance

Wednesday, November 4, 2020

Thời kỳ quá độ: Tiến tới 1 xh văn minh nhất Quả Đất

Thời bị chê là hủ lậu/phong kiến, đến trường "tiên học lễ hậu học văn", người đời bảo nhau: "Giấy rách phải giữ lấy lề", "Đói cho sạch rách cho thơm"... cái gì ăn, cái gì cúng phải đâu ra đấy.

Nay đổi mới, đến đời 'đớp đểu ăn dày', người đời chẳng ai bảo ai, đua nhau bon chen chụp giật, ăn chẳng chừa thứ gì, từ đồ ăn đồ cúng đến cả ...đồ thờ.

Từ cao trào đến thoái trào

 Lịch sử từ Đảng cs Đông Dương đến Đảng Lao động VN và nay là đảng cs VN đã cho thấy: Ban đầu là 1 tổ chức của những người tiên phong, xả thân/tâm huyết. Từng là thời kỳ của những người ưu tú đầy lãng mạn. Và bây giờ là của những người nhất thời, ăn theo thuở ở theo thời, tùy lúc chỉ chực chờ dứt áo đi luôn...

Trang thơ Hungary: Sợ hãi và Hy vọng

CÓ MỘT NGƯỜI ĐI TRÊN NHỮNG NGỌN CÂY [thơ dịch]

PAS: Hôm nay ngày 1/11 là ngày Các Thánh (All Saints) ở bên này, cũng là ngày nhớ đến những người đã khuất.

Nhớ đến bài thơ này, đã rất chạm đến mình khi đọc bản tiếng Hung và đã dịch ra tiếng Việt mấy năm trước. Post lại chia sẻ với các bạn.

CÓ MỘT NGƯỜI ĐI TRÊN NHỮNG NGỌN CÂY - Kányádi Sándor 

Có một người đi trên những ngọn cây

thắp lên và tắt đi những vì sao định mệnh

Ai cũng sợ trừ những người tuyệt vọng

chẳng còn gì để mất mới bàng quan

Bản thân tôi đeo nỗi sợ trời ban

Trước nay được trời thương vì biết sợ

Tôi không biết nếu một ngày tôi lỡ

ngã xuống rồi người có thắp cho tôi

Ngọn nến thiêng cho tôi được đổi đời

Cho hồn tôi sinh về ngôi sao mới

Hay bóp nát tôi thành nắm tro đen tối

Hiu quạnh lang thang chẳng chỗ tái sinh về

Có một người đi trên những ngọn cây

Người ta nói quyền năng trùm vũ trụ

Cát bụi cỏ cây người đều làm chủ

Hy vọng là đây Sợ hãi cũng là đây!

Phan Anh Sơn dịch

Tuesday, November 3, 2020

Quan chức, lãnh đạo có cần bằng cấp từ thạc sĩ trở lên?

 Mấy hôm nay buồn lo nhiều khi thấy cảnh đồng bào miền Trung gian nan với bão, lụt. Thiên tai nầy trầm trọng hơn ngày xưa một phần là do hậu quả của tình trạng phá rừng và việc xây dựng các  dự án thuỷ điện không đúng theo quy hoạch bảo vệ rừng. Được biết nhiều chính quyền địa phương thiếu các chuyên gia chuyên môn sâu về thuỷ điện, về môi trường. 

  Hôm nay đọc tin thấy báo cáo của Ban Tổ chức Trung ương cho biết có 67/67 (100%) đảng bộ trực thuộc Trung ương đã hoàn thành đại hội nhiệm kỳ 2020-2025, đã bầu được 3.330 nhân sự cấp ủy. Đặc biệt tôi chú ý thông tin có 66,7% cấp ủy viên có trình độ thạc sỹ trở lên. Ban Tổ chức TƯ và nhiều tờ báo đăng tin đã dùng tiêu chí nầy để đánh giá là chất lượng của cán bộ cấp ủy rất cao, cao hơn kỳ trước 23 điểm phần trăm. 

   Đọc tin nầy tôi thấy buồn. Buồn là ở VN vẫn xem bằng cấp trên đại học là tiêu chí để đánh giá cán bộ, một suy nghĩ sai lầm mà chỉ ở VN mới có. Hơn nữa, nhiều người, kể cả tôi, đã nêu vấn đề nầy từ mấy chục năm trước mà vẫn không thay đổi.  Con số 66,7% là vô cùng lớn. Ngay tại một nước tiên tiến như Nhật, con số tương ứng có lẽ chỉ độ vài phần trăm!

    Cách đánh giá cán bộ như ở ta chỉ làm cho văn bằng giảm giá trị, làm cho tệ nạn chạy theo bằng cấp trầm trọng hơn. Ở các nước khác, cán bộ quan chức cấp cao hay cấp lãnh đạo chỉ cần tốt nghiệp đại học, và trong quá trình công tác phải thường xuyên tự (hoặc được) bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn trong lãnh vực mình phụ trách. 

    Ở VN thạc sĩ, tiến sĩ quá nhiều trong khi chuyên gia về các lãnh vực (như thủy văn, môi trường nói ở trên) thì thiếu hụt nhiều. 

   Nhân đây tôi đề nghị các nhà báo khi nói về các lãnh đạo hay quan chức chỉ nên nói chức vụ của họ (Bí thư, thứ trưởng, vụ trưởng, v.v..), không nên thêm Tiến sĩ... dù họ có học vị ấy vì học vị ấy chẳng liên quan gì đến công việc lãnh đạo hay quản lý của họ.

Trần Văn Thọ