Wednesday, April 14, 2021

Thành công ko chỉ là đi ngược dòng và vượt khó khăn...

 Tỷ phú Rockefeller dạy con từ chối kết giao với hai loại người: Câu trả lời chứa đựng bí quyết thành công của dòng họ giàu hàng đầu thế giới suốt hơn 100 năm qua

MỘT NGƯỜI KHÔN NGOAN SẼ KHÔNG BAO GIỜ THAN KHÓC TRƯỚC SỐ PHẬN VÀ LUÔN TÌM MỌI CÁCH ĐỂ ĐI ĐẾN TẬN CÙNG CỦA CÁC THỬ THÁCH.

Rất lâu trước khi Jeff Bezos trở thành người giàu nhất thế giới thì ngôi vị đó thuộc về ông vua dầu mỏ John D. Rockefeller – tỷ phú đầu tiên của nước Mỹ vào năm 1916. Vào thời điểm đó, tài sản của Rockefeller trị giá gần 2% nền kinh tế quốc gia và ước tính vào khoảng 24 tỷ USD ngày nay. Ông được cho là người Mỹ giàu nhất lịch sử, tính đến thời điểm này. Cho tới này, sau hơn 100 năm, gia đình Rockefeller vẫn là một trong những gia đình giàu nhất thế giới.

Không chỉ khiến cả thế giới kinh ngạc về tài trí phi thường, Rockefeller còn để lại di sản trí tuệ tuyệt vời thông qua 38 lá thứ ông viết cho con cái mình. Chúng chưa đựng những tinh hoa mà ông muốn truyền lại cho thế hệ sau.

Bất kể là tài phú hay người đang đi tìm kiếm thành công, trong mối quan hệ gia đình hay quan hệ xã giao, bạn đều có thể tìm được những lời khuyên vô cùng chất lượng trong những bức thư của Rockefeller.

Chẳng hạn như trong một bức thư có nhắc tới việc lựa chọn người kết giao, tỷ phú Rockefeller từng viết thư cho con trai rằng: "Từ khi còn nhỏ, ta đã từ chối kết giao với 2 loại người. Loại người hoàn toàn đầu hàng và hài lòng với hiện trạng của bản thân. Loại thứ 2 là những người không thể thực hiện mục tiêu tới cuối cùng".

Mỗi người nên có sức mạnh để làm cho bản thân trở nên tốt hơn. Thậm chí, có thể nói rằng đó là ý nghĩa của sự tồn tại và phát triển của mỗi người. Kết quả của chọn lọc tự nhiên chính là sự tồn tại của những loài khỏe mạnh nhất, thích ứng tốt nhất. Và con người cũng không nằm ngoài quy luật đó. Tuy nhiên, một số người vẫn mù quáng tin vào sự "thuận theo dòng chảy", bằng lòng với hiện trạng của bản thân, ngại cạnh tranh, sợ sự thất bại.

Tại sao cuộc sống lại khó khăn? Bởi chúng ta đang đi ngược lại dòng chảy. Con đường phía trước thực sự khó khăn, bạn luôn phải chiến đấu chống lại bản tính của mình để vươn lên. Quá trình này luôn chứa đựng sự đau đớn, gian khổ. Nó giống như một trận chiến kéo dài, có người đầu hàng ngay từ ban đầu, có người chịu thua giữa trận chiến. Vì như vậy, họ có thể thoải mái sống và trốn trong vùng an toàn của mình.

Bởi vậy mới có câu: Hầu hết mọi người đều chết ở độ tuổi 20 hoặc 30 nhưng chưa được chôn. Sau độ tuổi này, họ chỉ còn là cái bóng của chính mình. Phần còn lại của cuộc đời họ dành để bắt chước chính bản thân trước kia, lặp lại chúng hàng ngày một cách máy móc và giả tạo hơn.

Bạn muốn có cuộc sống hơn người, nhất định bạn cần có sức mạnh để đương đầu với những tổn hại lớn nhất. Thế giới này rất công bằng, nếu bạn muốn điều tốt nhất, hãy dũng cảm tiến lên để giành lấy. Người vượt qua được những trở ngại đau đớn nhất sẽ trở thành người chiến thằng, còn ngược lại, hãy chấp nhận trở thành người bình thường với cuộc sống bình thường.

Nếu tìm hiểu về cuộc đời Rockefeller, chúng ta sẽ thấy quá trình xây dựng sự nghiệp của ông trải qua những đau khổ, đấu tranh đầy khốc liệt từ con số 0 đến đỉnh cao ngạo nghễ của vị trí người giàu nhất thế giới mọi thời đại. Con người không ai hoàn hảo và có rất nhiều điều phiền toái trong cuộc sống, nhưng một khi bạn chấp nhận bản thân thì bạn sẽ đúng. Tu dưỡng bản thân là bài kiểm tra nghiêm túc và khó vượt qua nhất đời người.

Một người tin chắc vào giá trị bản thân, tự lực tự cường, dám nghĩ dám làm sẽ không bằng lòng với hiện trạng của bản thân. Thực tế, chỉ cần con người không từ bỏ chính mình thì vĩnh viễn họ sẽ không thất bại. Đừng bao giờ hài lòng, thỏa mãn với hiện trạng tầm thường của chính mình, bởi chỉ những người dám vươn lên mới có thể thành công.

Một người khôn ngoan sẽ không bao giờ than khóc trước số phận. Rockefeller cho rằng, những người hoàn toàn buông xuôi và an phận với hiện tại "sẽ chỉ biết than thở vì số phận tồi tệ mà không bao giờ biết đánh giá bản thân, khiến cho bản thân trở nên tốt hơn. Họ để sự tiêu cực chiếm trọn trái tim mình".

Rockefeller tin rằng, cho dù đó là một người bằng lòng với hiện tại hay một người không thể thực hiện mục tiêu đến tận cùng, họ đều có một chung một loại "độc tố tư tưởng" và họ có thể dễ dàng lây nhiễm độc tố đó cho người khác. Đó chính là sự tiêu cực.

Muốn bay cùng phượng hoàng thì bản thân bạn phải là một con chim đẹp. Muốn đua với hổ và sói, bạn cũng phải có bản lĩnh của mãnh thú. Muốn có thành công, bạn phải tương tác nhiều với những người tích cực, dám nghĩ, dám làm, mạnh mẽ đương đầu trước khó khăn. Một môi trương tiêu cực, toàn người lười biếng và một môi trường nhiều người năng động, tích cực, nơi nào giúp bạn dễ dàng thành công hơn? Câu trả lời là hiển nhiên.

Thành công thực ra không quá khó: một là bạn hãy hoàn thiện bản thân, hai là hãy chủ động lựa chọn môi trường sống và bạn bè để kết giao.

Ngô Thanh Biền

Tuesday, April 13, 2021

Nhân bản khác nhân đạo thế nào?

 Người Việt mình thích dùng chữ do học theo hai ông thầy Tàu và Tây. Có điều lại hay lập lờ, số người không biết, thích nói chữ, dùng sai là chuyện thường. Một số người biết, lại lợi dụng cách dùng sai để tránh né hoặc thủ đắc. 

     Dùng sai lâu hóa thành đúng. Thành thử lập lờ không minh bạch trong suy nghĩ. Chẳng hạn nhân bản nhiều người hiểu na ná như nhân đạo. Thực ra hai từ đôi lúc có thể trái ngược. Nhân đạo là đạo lý làm người, biết bênh vực người yếu, bảo vệ cái phải, thuộc về nhân đạo. Nhân bản là lấy tính người làm gốc. Con người vốn yếu đuối, xấu tính, có thể sai lầm. Biết thông cảm với họ, thuộc về nhân bản, biết chăm lo cho nhu cầu đời thường của họ cũng thuộc về nhân bản.

      Nhân đạo (hoặc nhân bản hiểu theo nghĩa nhân đạo), là một từ đã bị nhàm trở thành cliche, nên hay bị lợi dụng, nói ra không ai cãi được, nhưng không có gì là cấp tiến. Đôi khi có thể ngụy trang, biện hộ cho những cái không thực cấp tiến. Nếu nhân bản đúng và đủ nghĩa của nó sẽ hết sức cấp tiến, nó dạy người ta biết thông cảm với lỗi lầm, nhu cầu thể xác, nhưng không quên tôn vinh những cái cao đẹp. Nếu có giải pháp đi kèm sẽ là một bước tiến rất lớn, trong một xã hội rất nhiều giá trị giả và nhái hiện nay.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, April 12, 2021

TẠI TÔI MÀ NGUYỄN THÚY HẠNH BỊ BẮT

 

Vượt qua mọi mong ước của tui và Nguyễn Thúy Hạnh, trưa ngày 9/4 cơ quan điều tra đã trích xuất Nguyễn Thúy Hạnh ra khỏi trại giam số 2 ở Thường Tín đưa về chung cư Royal để chúng tôi gặp nhau.

Điều tui ân hận nhất là khi Hạnh bị bắt đã không có mặt tại nhà, để nghe những lời cuối, những dặn dò cuối trước khi phải xa nhau chắc chắn là khá lâu.  

Lúc hạnh bị bắt, vào lúc 10g05 phút ngày 7/4, tui đang ở chiến khu L, hai chúng tui đang chát với nhau rất vui vẻ. Tui đang bày Hạnh cách vào opera để lấy lại tài khoàn Minds, Hạnh vui lắm, tui bày Hạnh từng bước, xong mỗi bước tui hỏi được chưa, Hạnh trả lời được tui mới bày bước tiếp theo, đến bước cuối cùng là lấy password, tui hỏi được chưa, không thấy Hạnh trả lời nữa, cũng không thấy nàng vào đọc câu hỏi của tui. Ban đầu tui tưởng Hạnh đã vào được Minds nên mãi mê, nhưng đến vài giờ sau đó vẫn không thấy Hạnh vào xem và trả lời, đây là chuyện lạ, Hạnh không bao giờ ngưng chat với tui nửa chừng mà không nói lý do hoặc không nói lời yêu thương trước khi ngưng. Tui lại nghĩ đến giờ Hạnh đi tập Yoga, nên tắt máy để tập. Nào ngờ ngay lúc đó Hạnh bị công an ập vào bắt, máy tắt ngay lúc đó. 

Khi bị bắt, Hạnh đang ngồi ngoài hành lang trước cửa căn hộ người chị để chờ chị đi chợ về. Buổi trưa hôm đó chị ấy mời Hạnh sang ăn cơm và để chị em tâm sự vì tết vừa rồi do dịch nên không thăm viếng được nhau. Hạnh bị 20 người áp tải đưa ra khỏi khu chung cư ở đường Lạc Long Quân, vừa lúc chị ấy đi chợ về, Hạnh còn xin quay lại đưa con gà cho chị ấy mà không được nói lời nào.

Hạnh bị đưa về căn hộ Royal city để làm thủ tục khám xét nhà. Công an bảo Hạnh cho số điện thoại của tui để họ liên lạc, Hạnh không nhớ, Hạnh chỉ nhớ hai số cũ của tui, nhưng hai số đó bị gọi quảng cáo và bị nghe lén nhiều quá nên tui đã bỏ từ lâu rồi, số mới của tui Hạnh không nhớ, công an bảo mở máy ra gọi, Hạnh thừa thông minh để không mở máy. Sau đó an ninh tìm ra số của Dũng em ruột Hạnh nhà ở cạnh đó để gọi qua chứng kiến, nhưng Dũng đang đi công tác xa không về được. 

Do vậy hôm bắt Hạnh đưa đi không một người thân nào chứng kiến, không có tui để nói lời chia tay… tui ân hận và đau xót về điều này.

Không ngờ hôm ngày 9 họ đã đưa Hạnh về nhà để chúng tui gặp nhau được trong một giờ đồng hồ. Có lẽ là theo nguyện vọng của Hạnh. Ngay lúc đó nhân viên điều tra nhắc Hạnh là nói với anh Chênh không đưa thông tin về chuyện này, tui nghĩ trong các điều kiện để đáp ứng yêu cầu được đưa về nhà của Hạnh có điều kiện này, do vậy giữ lời hứa, tui đã không đưa tin ngay lên cho mọi người biết dù biết mọi người đang rất trông mong. Nhưng nhiều bạn bè ở cùng chung cư đã thấy sự việc nên báo cho Đặng Bích Phượng và Nguyễn Lân Thắng biết đưa tin lên ngay sau đó. 

Một giờ đồng hồ đó với chúng tui vô cùng quý giá, nhưng xúc động quá tui chẳng nói với Hạnh được nhiều, còn Hạnh mãi lo lắng cho tui, mãi căn dặn tui phải giữ gìn sức khỏe, mãi chỉ cho tui anh phải ăn uống những thứ này, thứ này còn ở trong nhà để giữ sức khỏe… làm hơn 10 nhân viên an ninh có mặt lúc đó cũng phải bật cười nói, mình ở tù thì không lo lại lo cho ông tự do sung sướng ở ngoài. Hạnh còn nhắc tui nhiều lần là nói với người thân và bạn bè bên ngoài là Hạnh thoải mái và bình an nên đừng lo lắng chi cho Hạnh.

Hạnh là thế đó, luôn lo cho mọi người hơn là lo cho bản thân mình. Hạnh làm giám đốc đối ngoại cho một tập đoàn mía đường lớn nước ngoài nên lương rất cao, Hạnh lại kinh doanh thêm nên rất nhiều tiền, nhưng Hạnh không dùng hàng hiệu, vẫn đi chiếc xe cub 82 mua cách đây hơn 30 năm, vẫn dùng điện thoại cùi bắp ( sau này vì bảo mật Hạnh mới nghe lời tui mua chiếc iphone cũ giá 7 triệu đồng), vẫn một cái túi xách mua chợ trời… Hạnh để dành tiền gởi cho nhiều gia đình, bạn bè bị bắt hồi chưa có quỹ 50 K. Hạnh giúp đỡ nhiều bà con ruột thịt nghèo khó của Hạnh ở quê Hải Dương, Hạnh gởi tiền trợ cấp hàng tháng cho chị ruột nghèo khó và bị bệnh của tui ở Đà Nẵng nữa.

Về sau nghĩ hưu, rồi mãi lo đi biểu tình phải ngưng chuyện làm ăn, Hạnh không còn dư dã, nên muốn giúp đỡ bạn bè bị bắt bớ gặp khó khăn đành phải lên mạng vận động, mỗi lần như vậy được hưởng ứng rất nhiệt liệt, kêu gọi giúp đỡ cho một người lại thừa tiền giúp thêm cho vài người nữa. Quỹ 50 K ra đời trong bối cảnh như vậy.

Hồi đó nhiều anh em trong hội Anh Em Dân Chủ, đều là bạn bè thân thiết của Hạnh, bị bắt và ra tòa, cần tiền thuê luật sư, Hạnh đứng ra kêu gọi quyên góp, số tiền gởi về vượt gấp đối so với yêu cầu. Sau khi gởi các gia đình lo luật sư, tiền thừa Hạnh nghĩ ngay đến các gia đình tù nhân lương tâm đang khó khăn khác, Hạnh xin ý kiến của những người đóng góp, chia số tiền ấy cho các gia đình trên. Vài bạn bè khuyên Hạnh đóng luôn quỹ lại để mọi người khỏi gởi tiền vào nữa, tui bảo Hạnh cứ để nguyên và chuyển thành quỹ hổ trợ tù nhân lương tâm, tên 50K là ý kiến của Nguyễn Hoàng Vi. Nếu Hạnh đừng nghe lời tui thì Hạnh đã không bị bắt như ngày hôm nay. 

Từ ngày gặp tui, Hạnh luôn nói, có anh bên cạnh em tự tin hẳn lên, em làm được mọi chuyện mà không thấy bị trống lưng. Hạnh dựa vào tui mà sẵn sàng làm mọi chuyện nguy hiểm, để bây giờ đối diện với hiểm nguy tui chẳng làm được gì cho Hạnh.

Tui với Hạnh riêng nhau nhiều thứ, khác nhau nhiều thứ, nhất là tính cách. Tui hời hợt, cẩu thả, phóng túng, hay đùa cợt, cả với những việc nghiêm túc và nguy hiểm tui cũng hay đùa bỡn. Trái lại, Hạnh sống rất mẫu mực, ngăn nắp, nghiêm túc và rất thành thực trong sáng trong mọi việc. Chúng tui khác nhau nhiều thứ lắm, nhưng có một cái rất giống nhau, rất chung, chính cái đó đã nối kết chúng tui mãi mãi. Đó là lý tưởng, tui và Hạnh chung một lý tưởng. Trong phạm vi đó, tui với Hạnh giống nhau đến không ngờ, giống từ quan điểm lớn đến những suy nghĩ nhỏ vụn vặt. Chưa bao giờ tui và Hạnh tranh luận với nhau về quan điểm trước bất kỳ sự kiện nào. Khi nổ ra sự kiện nào đó, chính trị hay đời thường, gây tranh cãi căng thẳng trong cộng đồng, Hạnh đứng về phía A, y như rằng tui cũng đứng về phía A mà không cần phải bàn thảo nhau trước. Do vậy trước giông tố gây chia rẽ trong phong trào, trong cộng đồng xã hội, trong nhiều gia đình vì khác nhau quan điểm, tui và Hạnh chưa hề khác ý kiến nhau. Chuyện đó nên đi biểu tình, nhiều khi chẳng ai tham gia, tui và Hạnh vẫn cùng nhau tiến hành. Chuyện đó không nên làm là tui với Hạnh tức khắc không làm, chuyện đó phải làm, là tui với Hạnh cùng làm bằng mọi giá…

Giữa lúc căng thẳng vì bị gần 10 nhân viên an ninh bao vây chặt cứng quanh căn hộ và chung cư suốt ngày đêm trong 10 ngày, khi vụ Đồng Tâm nổ ra, chúng tui như ở trong tù, không được bước ra khỏi cửa, thực phẩm phải do đứa cháu mang đến rồi nhân viên an ninh mang lên, có thể bị bắt bất cứ khi nào, nhưng nghe Trịnh Bá Phương gọi đến, cô đứng ra nhận giúp tiền phúng điếu viếng tang cụ Kình, Hạnh mở loa ra cho tui nghe vừa đưa mắt nhìn tui, rồi trả lời đồng ý với Phương ngay, khi thấy tui gật đầu. Nếu lúc đó tui lắc đầu, thì Hạnh đã không bị bắt như ngày hôm nay. Nhận lời đưa tài khoản cho Phương rồi, Hạnh và tui mới ngồi bàn và lường hết hậu quả, biết sẽ vô cùng nguy hiểm, nhưng không thể không chia lửa cho Phương, nó cũng đang bị bao vây chặt và bị bắt bất cứ lúc nào vì liên lạc được vài dân oan Đồng Tâm để liên tục đưa tin cập nhật sự kiện, nó lại chỉ một mình, còn chúng tui có hai người, không thể nào để cho nó cô đơn. Hạnh và tui không bàn thảo chuyện đó nhưng cả hai đều mặc nhiên nghĩ vậy. Tui chỉ bàn với Hạnh là đừng để lẫn lộn với quỹ 50 K, Hạnh lấy tài khoản VCB mà Hạnh mở ra từ thời còn kinh doanh nay bỏ không, để dùng. Chỉ ba ngày, sau khi Trịnh Bá Phương đăng lời kêu gọi, tui và Hạnh chia sẻ lại, tiền đổ về ào ạt, số dư đã lên 570 triệu đồng. Mọi người quá thương xót và kính phục cụ Kình đồng thời cũng tin tưởng vào uy tín của Nguyễn Thúy Hạnh và Trịnh Bá Phương. 

Rồi tui bắt đầu ngửi ra mùi căng thẳng, tui bảo Phương và Hạnh tuyên bố đóng ngay tài khoản, ngưng nhận tiền phúng điếu. Tuy vậy tiền vẫn tiếp tục đỗ về. Do tui và Hạnh quá cẩn trọng, không để nhập nhằng với quỹ 50K nên hỏng việc, nếu dùng tài khoản của quỹ 50K, có I banking, Hạnh có thể chuyển tiền đi được trước khi bị phong tỏa. Tài khoản VCB bỏ lâu không dùng đến nên không làm I banking. Còn chúng tui bị giam trong nhà nên không ra ngân hàng rút tiền được.

Hạnh day dứt, mất ăn mất ngủ vì để mất khoản tiền quá lớn của mọi người, Hạnh cứ thấy mình có lỗi, tui khuyên giải gì Hạnh cũng không vơi đi, luôn nghĩ ra cách để lấy lại. Mới đây, sau khi xử phúc thẩm Đồng Tâm xong, Hạnh ủy quyền cho luật sư Ngô Anh Tuấn viết đơn yêu cầu bộ công an giải tỏa tài khoản phúng điếu. Luật sư gởi đơn lên bộ vài ngày thì Hạnh bị bắt. Nhiều bạn bè cho rằng lá đơn đòi tiền đó là giọt nước cuối cùng làm tràn ly nước vốn cân bằng do sự tính toán cân đo hơn thiệt của nhà cầm quyền trước việc bắt hay không nên bắt Nguyễn Thúy Hạnh. Tui cũng đồng quan điểm đó.

Chuyên án lập ra để bắt Nguyễn Thúy Hạnh đã có từ trước khi nổ ra vụ Đồng Tâm. Từ đó cho đến ngày bị bắt, Hạnh liên tục bị canh gát, bị theo dõi, bị triệu tập làm việc. Những lần làm việc đều tập trung vào quỹ 50 K, đều gây áp lực để buộc Hạnh đóng quỹ. Thậm chí an ninh còn cho người gặp riêng Hạnh gợi ý nếu Hạnh đóng quỹ lại sẽ giải tỏa tài khoản tiền phúng điếu cụ Kình. 

Biết nguy hiểm, tui và nhiều bạn bè của Hạnh khuyên Hạnh nên đóng quỹ lại, nhưng Hạnh vì quá gần gũi với các gia đình tù nhân lương tâm nghèo khó, biết họ trông chờ vào số tiền nhỏ nhoi vài triệu hàng tháng ấy như thế nào nên cứ lần lại mãi không chịu đóng quỹ. Tuy nhiên Hạnh cũng thấy rằng nếu không đóng quỹ thì tài khoản cũng bị phong tỏa và mất tiền, hoặc bị bắt cũng không còn quỹ nữa, nên vào tháng 12/2020, Hạnh đóng tài khoản, chấm dứt hoạt động từ thiện cứu giúp các gia đình tù nhân lương tâm khó khăn. Hạnh bần thần mất ngủ mấy ngày đêm vì quyết định này.

Chỉ có cái tâm trong sáng và tấm lòng vị tha như Hạnh mới làm cho quỹ 50K thành công vượt mức mong đợi và gây lo ngại cho nhà cầm quyền. Ban đầu tài khoản của Hạnh nhận phần lớn tiền từ các nhà hảo tâm nước ngoài, số người trong nước còn ít và còn dè dặt, chỉ gởi số tiền rất nhỏ và thường là ẩn danh. Nhưng càng về sau, số bà con hảo tâm trong nước đông dần lên, vượt qua số nhà hảo tâm là kiều bào, vượt qua sợ hãi, công khai tên tuổi, gởi số tiền càng ngày càng lớn hơn. Chính điều này làm nhà cầm quyền e ngại nên quyết ngăn chặn Hạnh. 

Hạnh điều hành quỹ công khai minh bạch và chính xác thu chi đến từng đồng bạc lẻ. Ví dụ nhận $100, giá thị trường là 2.251.000 đồng thì Hạnh nhập vào quỹ đúng y bon số tiền đó không thiếu một đồng lẻ. Số tiền về nhiều, Hạnh không để đọng lại lâu, lo chuyển đi tức khắc và quyết toán liền mỗi đợt, do vậy mỗi tháng Hạnh quyết toàn đến hai hoặc ba lần, mỗi lần quyết toán đều công khai danh sách người góp và số tiền thu vào, rồi công khai số tiền gởi cho các gia đình tù nhân lương tâm, số tiền còn thừa nhập vào đợt quyết toán sau. Đợt quyết toàn trước nối với đợt quyết toán sau qua số tiền còn thừa và gắn kết bằng một đường link, ai cũng vào xem và kiểm tra được từ đầu đến cuối. Tất cả các đợt quyết toán đó, từ ngày mở đầu cho đến ngày đóng quỹ, nối kết với nhau, tạo ra một hệ brochain đơn tuyến khá vững chắc và minh bạch không thể nào sửa đổi để gian lận được. An ninh và dư luận viên vào canh quỹ hàng ngày, cộng trừ từng đồng để cố bắt lỗi Hạnh nhưng không thể. Và chính vì điều đó mà Hạnh phải đi tù. Nếu Hạnh có gian lận tiền nong của quỹ thì họ tung hô lên để làm mất uy tín Hạnh, mọi người hết tin không gởi tiền nữa, quỹ tự chết mà không cần phải bắt Hạnh để mang tiếng đàn áp việc làm từ thiện.

Tiền của quỹ 50 K duy nhất là để hỗ trợ cho gia đình TNLT, không hỗ trợ bất cứ chuyện khác dù là giúp đỡ vài anh em đang bị khó khăn đột xuất. Nhiều anh em bị đánh, bị cướp điện thoại và tài sản khi đi biểu tình, phải đi bệnh viện chữa trị, Hạnh cũng không xuất tiền quỹ ra hỗ trợ dù đang dư. Ngay cả việc đi xa thăm các gia đình TNLT, đi lên trại giam đồng hành với gia đình TNLT, Hạnh đều xuất tiền riêng lo chi phí đi lại và ăn uống cho mọi người, nếu đi bằng xe của tui thì tui phải tự bỏ tiền ra đổ xăng. Ngay cả đợt tui và Hạnh bị đánh tại trại giam số 6 Thanh Hóa, bị cướp hết điện thoại và số tiền của quỹ mang theo để hỗ trợ cho các gia đình TNLT ở Thanh Hóa và Nghệ An, tui và Hạnh phải xuất tiền túi ra đền vào chứ không hề hô hoán lên mất tiền để trừ vào quỹ. Hạnh không dùng tiền quỹ giúp anh em bên ngoài bị đàn áp vì nếu làm vậy sẽ bị quy chụp ngay tội tài trợ cho khủng bố. Quỹ 50 K là để giúp nhân đạo cho các gia đình rơi vào hoàn cảnh khó khăn khi lao động chính bị bắt đi tù.

An ninh và dư luận viên hay chất vấn tại sao không làm từ thiện cho tất cả đồng bào bị khó khăn mà chỉ từ thiện cho gia đình tù. Xin thưa, lo cho người nghèo khó có quỹ phúc lợi xã hội của nhà nước lấy từ thuế của dân, tiền từ quỹ này nếu có cũng không hề đến tay gia đình có tù chính trị đang bị địa phương cô lập. 

Hơn nữa làm từ thiện chung chung như vậy thì ai làm cũng được, cả xã hội đang làm, các cơ quan báo chí, tôn giáo, các cá nhân đều làm được, và mỗi lần họ đứng lên kêu gọi có hàng trăm tỉ đồng đổ về dễ dàng vì người hảo tâm đóng góp không phải sợ hãi. Nhưng số tiền đó không có đồng nào chạy về gia đình có tù chính trị đang bị cô lập dù họ đang rất khó khăn. Người lập quỹ cũng rất sợ hãi không dám trao tiền cho các gia đình có tù chính trị.

Mọi người đều sợ hãi, nên trong cả nước chỉ có các anh Nguyễn Quang A, Nguyễn Tường Thụy, Trương Dũng, Ngô Duy Quyền và Nguyễn Thúy Hạnh đứng ra làm, trong đó Thúy Hạnh làm thành công hơn nên bị bắt. Tường Thụy bị bắt trước Hạnh, nhưng vì hội nhà báo độc lập chứ không phải vì quỹ bầu bí tương thân.

Mỗi ai bị bắt đều làm Hạnh thương lo, mất ăn mất ngủ, thấy mình như có lỗi và mắc nợ những bạn bè đó. Hạnh bị sốc nhất là khi cả gia đình Trịnh Bá Phương bị bắt. Hạnh yêu thương Trịnh Bá Phương như con, quý mến Cấn thị Thêu hết mực. Mình Trịnh Bá Phương bị bắt đã gây sốc cho Hạnh rồi, huống chi bắt đến cả ba người, trong đó chị Thêu đã từng đi tù hai lần vì tham gia đấu tranh. Kế đến là Đoan Trang cũng làm cho Hạnh sốc nặng. Hạnh yêu quý và lo lắng cho Trang vì em đang bị bệnh lại phải trốn tránh khắp nơi. Biết trước sau Trang cũng bị bắt, nhưng khi nghe tin Hạnh rụng rời hết tay chân, cả ngày không làm được việc chi, cứ đờ đẫn ra…

Hạnh không chỉ lo tiền nong cho các gia đình TNLT, Hạnh còn đến tận nhà để bỏ công sức ra giúp nếu như có điều kiện. Hạnh từng nhiều ngày vào bệnh viện chăm sóc hai ông bà già Khánh Trâm. Mới đây Hạnh mấy ngày vào bệnh viện chăm con giúp cho vợ Lê Thanh Tùng khi cô ấy phải bận việc khác... Hạnh thương yêu và chia sẻ khó khăn của các gia đình TNLT bằng cả trái tìm của mình...

Bắt giam một tấm lòng trong sáng như vậy nhà cầm quyền đã tự trưng ra cho mọi người thấy họ là của phe bóng đêm.

Hôm Thúy Hạnh được đưa trở lại nhà lần cuối để gặp tui, tui xúc động nhiều, Hạnh rất bình tỉnh và an nhiên, Tui chẳng nhớ ra điều gì để nói với Hạnh, trong khi đó Hạnh dặn dò tui nhiều điều cần thiết, như ghi mã số khóa nhà (tui dùng vân tay nên quên mã khóa), ghi mã ATM lương hưu của Hạnh, nhờ công an đưa chìa khóa và thẻ gửi xe chiếc 82 cùi mà nàng chạy đến nhà chị sáng hôm đó rồi bị bắt nên xe vẫn còn đó, còn ghi cho tui cả địa chỉ nhà chị ấy để tui khỏi vất vã hỏi tìm, rồi nàng chỉ tui thức ăn, mở tủ chỉ tui mấy lọ thuốc bổ quý của cháu Phúc tặng, bảo tui uống để bồi bổ sức khỏe…

Khi họ đưa Hạnh ra thang máy để đi, tui chỉ được nhìn theo, thấy dáng Hạnh bé nhỏ bị vây chặt giữa đám 10 người to lớn, phải nhướng lên mới nhìn thấy tui, Hạnh vẫn bình thản và tự tin nhìn tui mắt ráo hoảnh, tui nói: Hãy để tui thay chỗ của Hạnh, tui đáng bị bắt hơn… rồi nước mắt tui tự nhiên tuôn ra, tui phải quay vội đi để Hạnh không thấy tui mềm yếu, nên đã không thấy cảnh nàng bước vào thang máy. Tui chạy vội vào nhà bật khóc một mình. Thế mà tui cứ tưởng tui mạnh mẽ hơn nàng.

Huỳnh Ngọc Chênh

Đọc Hai Quê Hương của Nguyễn Xuân Thọ

 Tôi dành 2 ngày để đọc cuốn Hồi ức này. Trong biển sách được tặng hoặc vì quý mến bè bạn phải dự ra mắt và mua sách, thú thực, không phải cuốn nào những người như tôi cũng đều cắm cúi đọc. Đơn giản vì quỹ thời gian mà thôi. Còn phải làm bao nhiêu việc mà tôi gọi là “thuế làm người Việt” và còn…phải viết báo mà vợ chồng tôi từng gọi là “đi cày” để sống nữa.

Nhưng tôi đã đọc Nguyễn Xuân Thọ (Tho Nguyen) như là phải đọc. Mỗi người VN đều là một cuốn tiểu thuyết, tôi tin như vậy. Nếu chúng ta chăm viết sách và có khả năng viết sách như người Mỹ, tôi tin rằng chúng ta có hàng chục triệu đầu sách loại hư cấu và phi hư cấu. Vâng, không ở đâu dài chiến trận và cũng dài hậu quả khủng khiếp như ở VN. Không ở đâu con người bị quăng quật và cuối cùng, giỏi sinh tồn như người Việt cho dù, như ai đó đã nói, sau 1975, người Việt chúng ta đã tan thành nhiều mảnh văng đi khắp thế giới. 

Đây là một cuộc đời không đại diện cho ai nhưng ít ra, cũng là số phận dích dắc giống hàng vạn người như anh ta: con nít miền Nam được (hay bị) đi tập kết – lớn lên hẩm hiu cùng với miền Bắc kiệt quệ  - ra nước ngoài học việc để biết mình thuộc xứ sở lạc hậu cỡ nào - lại quay về nơi đó phục vụ công cuộc và… rốt cùng dứt áo ra đi hẳn, mang tiếng tha hương. Biết một cuộc đời là để biết một sợi chỉ khác đã xâu vào cùng với nó biết bao nhiêu câu chuyện vừa bi tráng, cơ mật, vừa bi hài, tựu trung vào mỗi hai chữ: bị kịch.

Buổi ra mắt sách, rất nhiều người lần đầu biết Nguyễn Xuân Thọ (như tôi) và họ hay đặt vấn đề “làm thế nào để có tự do như nước Đức”, hoặc là “hai nước Đức đã thống nhất như thế nào với một cái guồng đông STASI như thế”, nói chung là đọc Tho Nguyen trên FB, người ta muốn nghe những điều cho một VN tương tự mai kia.  Hồi ức của Thọ không gay cấn, không chính trị nhạy cảm cũng không để khảo cứu, cứ đọc mới biết vì sao nên đọc. Hôm ấy tôi chỉ nói rằng vui, vì viết như thế này mà Nxb Tổng hơp TP HCM in được là vui với những tín hiệu mà có đọc thì mới biết. Đây là Nxb đã in Đinh Trang Mộng của Diêm Liên Khoa đấy các bạn.

Biết một trong những người VN gan góc để giỏi giang ở Đức, ở nước Đức nhé các bạn. Biết những người Việt khác gọi là Kiều (như Thọ thì gọi là Cộng) và hai dòng người Việt ấy đã ôm lấy nhau như thế nào ở trời Âu. Biết những người Đức sau 1945 Thế chiến và sau bức tường Berlin sụp đổ để rồi chốt hạ cảm xúc với chương cuối về một người bạn của Thọ, một trí thức Đức tài ba con trai của một công thần lập quốc Đông Đức đã dấn thân, đã tù tội và đã tiếp tục dấn thân ra sao trên con đường hòa bình thống nhất nước Đức.

Tuyệt diệu các bạn. Tôi đã trào nước mắt vui và hy vọng. Những trang viết hay một cách chừng mực, chuẩn xác và những cuộc gặp đầy tình người sau rốt đã khiến phải thốt lên Cảm ơn tác giả, cảm ơn Nguyễn Xuân Thọ đã bõ công để cho chúng ta nhìn một góc quá khứ và một góc thế giới bằng chữ.

Dạ Ngân

Sunday, April 11, 2021

Nguyễn Thuý Hạnh bị an ninh bắt

 Chiều ni xuống cơ quan an ninh điều tra công an Hà Nội làm việc ba nội dung:

- Hỏi lý do bắt Nguyễn Thúy Hạnh

- Yêu cầu tháo niêm phong nhà 

- Đăng ký thủ tục luật sư 

Điều tra viên chỉ huy vụ án và trực tiếp làm việc với H đã tiếp tui.

Lý do bắt là điều 117: làm ra, tàng trữ, tuyên truyền tài liệu chống phá..., có đưa cho tui quyết định. 

Về giải tỏa niêm phong và bàn giao nhà cho tui thì hẹn sáng mai vì phải vào trại giam lấy chữ ký đồng ý của Hạnh vì căn hộ là tài sản riêng của Hạnh. OK 

Tui hỏi biên bản tịch thu đồ đạc trong  nhà thì trả lời rằng chỉ thu vài đầu sách, vài tài liệu viết tay của H và một cái iPhone của Hạnh mà thôi, còn túi xách giấy tờ, tài sản đã niêm phong để nguyên lại trong nhà, trong đó có cả thẻ ATM lãnh lương hưu của Hạnh. 

Tui hỏi về vấn đề thuốc men cho Hạnh, được trả lời là cho Hạnh mang tất cả số thuốc đủ uống trong 1 tháng, còn về sau tui phải mang vào theo toa bác sĩ . Điều tra viên cũng cho biết vì đã làm việc với Hạnh qua nhiều lần triệu tập nên biết một số căn bệnh của Hạnh nên đặc biệt chú ý như tụt huyết áp, rối loạn tiền đình. 

Điều tra viên cho biết Hạnh giam ở trại giam số 2  Thường Tín, điệu kiện rộng rãi, tinh thần thoải mái, không bị căng thẳng gì. 

Cùng đi với tôi có luật sư Ngô Anh Tuấn đến làm thủ tục đăng ký bào chữa cho Hạnh, ngoài ra điều tra viên cho biết thêm Hạnh có yêu cầu thêm luật sư Lê Văn Luân, do vậy sau khi làm việc với công an về tui ghé đến văn phòng ls Luân để ký giấy tờ yêu cầu. 

Điều tra viên cũng hướng dẫn tui cách làm thủ tục thăm nuôi, ngày mai tui sẽ vào trại giam số hai làm thủ tục này. 

Ôi !

Sao không bắt người trai nơi chiến tuyến 

Mà bắt người em gái nhỏ hậu phương

Hành vi gọi là làm ra tàng trữ phổ biến tài liệu chống phá thì tui nặng gấp 10 lần Hạnh. Tui viết cả ngàn bài phản biện tàng trữ trên blog HNC và phổ biến đến hàng triệu người, blog đó hiện nay đã trên 20 triệu lượt người vào đọc, chưa kể các bài viết trên mạng xã hội đang được các mạng khác nhân rộng ra khắp thế giới. Mấy cuốn sách mà hôm qua họ tịch thu là của tui không phải của Hạnh, bạn bè tặng, tui đọc xong thì đốt hết không để trong nhà, tuy nhiên có thể sót lại vài cuốn mà tui không để ý. 

Hạnh thì chỉ đọc ngôn tình, chẳng bao giờ đọc sách chính trị. Còn cái gọi là các tài liệu chép tay của Hạnh có lẽ là mấy tờ ghi chép gì đó để tập đàn piano và ghi chép chi tiêu này nọ. Hạnh không dùng laptop, chỉ làm thơ trên điện thoại và lưu trên đó, nhiều thơ hay lắm, tui bảo Hạnh  lấy ra in vài tập cất kỷ niệm và cho gia đình con cháu đọc nhưng Hạnh không làm. 

Tóm lại nếu khởi tố Hạnh về điều 117 thì khởi tố tui xứng đáng hơn. Tuy nhiên họ biết mấy thứ đó không gây nguy hiểm cho chế độ mà việc Hạnh làm từ thiện cứu giúp cho các gia đình TNLT mới gây nguy hiểm. Nhưng khởi tố Hạnh về tội danh làm từ thiện thì không ổn nên đành phải mượn cớ khác. 

Ngày mai tui viết tiếp về quỹ từ thiện 50K và quỹ viếng cụ Kình

PS: có lẽ mai đi trại giam tui xin vào thế chỗ cho Hạnh không biết có được chấp nhận không

Huỳnh Ngọc Chênh

Người Việt ở nước ngoài

Ông Lý Quang Diệu từng nói: Hầu như những người VN tài giỏi đã sống ở nước ngoài hết rồi.

Bài CHU TẤT TIẾN

Bắt đầu từ năm 1975, người Việt tràn ra thế giới trong các đợt di tản, thuyền nhân, bán chính thức, đoàn tụ gia đình, Ra đi trong trật tự, rồi H.O, bảo lãnh… đến nay đã 44 năm. Sự hiện diện của người Mỹ gốc Việt có lẽ là nổi danh nhất thế giới với số người đến Mỹ nhiều hơn tất cả các quốc gia khác và cũng là thành phần thiểu số có nhiều hoạt động gây tiếng vang lớn nhất so với các dân tộc thiểu số khác đã từng ngụ cư tại quê hương này từ nhiều thế kỷ. 

Các cuộc biểu tình rầm rộ, biểu dương lực lượng qua các ngày Văn Hóa Quốc Tế, các cuộc vận động ngoại giao chính thức được chính phủ tiếp đón lịch sự hay các cuộc vận động hành lang là những dấu mốc lớn sẽ được ghi lại trong lịch sử Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, sự thành công về chính trị, văn hóa, thương mại cũng như xã hội của người Mỹ gốc Việt đã làm cho người bản xứ càng ngày càng trọng nể người Việt. 

Bây giờ, không còn có một người làm chính trị nào mà dám lên tiếng coi thường dân Việt như những thập niên trước. Ngay tại Westminster city, nơi mà trước đây, đã có vị Thị Trưởng người Mỹ nói “người Việt nên về lại nước đi,” thì bây giờ đã bị chiếm lĩnh bởi đa số nghị viên và thị trưởng người Mỹ gốc Việt rồi. Nhiều thành phố, Quận Hạt đã có chính trị gia mang họ Việt Nam. Quốc Hội Liên Bang, Hạ Viện Tiểu Bang Cali, Thượng Viện Tiểu Bang Cali đã có tiếng nói của người Mỹ gốc Việt. 

Về phía chính phủ Liên Bang, đã có vài nhân vật nắm giữ chức vụ quan trọng. Trước hết là bà Mary Chi Ray, từng liên tục hai lần giữ chức vụ Phó Tổng Giám Đốc Định Cư và Tị Nạn, người trực tiếp nhận lệnh từ Tổng Thống Reagan. Rồi đến Tiến Sĩ Nguyễn Văn Hạnh giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Định Cư và Tị Nạn, người ra lệnh đóng, mở con số di dân vào Mỹ. Sau đó, ông đã làm Phụ Tá Thống Đốc California. Rồi Thứ Trưởng Bộ Tư Pháp, Giám Đốc nhiều cơ sở chính phủ Liên bang… Bên cạnh chính trường là phía Giáo Dục, Tiến Sĩ Nguyễn Lâm Kim Oanh cũng là một vị Giám đốc một cơ quan quan trọng của Bộ. Về trường học, có những Khoa Trưởng, Giáo sư nổi tiếng. Sang đến địa hạt quân sự, vẻ vang của Dân Việt đã làm cho nước Mỹ kinh ngạc. Dưới đây là tóm lược một số chức vụ quan trọng trong quân đội của Hoa Kỳ.

Ngày 5 tháng 6, 2019, Hải Quân Đại tá Nguyễn Từ Huấn đã được đề cử thăng cấp Phó Đề Đốc Hải Quân Hoa Kỳ, một lực lượng quân đội mạnh nhất thế giới cả về số lượng lẫn khí tài, khí cụ khoa học. Người có cấp bậc thấp hơn ông là Đại Tá Lê Bá Hùng. Về phía Lục Quân, người Việt đã từng hãnh diện có Thiếu tướng Lương Xuân Việt, Tư Lệnh Lục Quân Hoa Kỳ tại Nhật Bản. Trước đây, ông từng là Phụ Tá Tư Lệnh Đạo Quân thứ 8 (Eight Army). Bên cạnh ông, có Chuẩn tướng Lapthe C. Flora, thuộc Vệ Binh Quốc Gia và Chuẩn tướng William H. Seely III, thuộc Binh Chủng Thủy quân lục chiến.

Có lẽ trong quân đội không quân nhân nào mà không biết Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh, tác giả của bom áp nhiệt (thermobaric bomb), loại bom đã giúp cho việc triệt tiêu các phiến quân qua các vụ đánh tại vùng núi non hiểm trở mà trước đây đa số là thất bại. Bà hiện là Giám đốc An Ninh Biên Giới và Lãnh Hải thuộc Bộ An Ninh.

Người nữ thứ hai cũng vang lừng không kém: Tổng Giám Đốc Phan Giao. Nữ Tổng Giám Đốc điều hành các hoạt động của các hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ, hiện nay là tối tân nhất thế giới. Tuy bà không chỉ huy quân đội, nhưng bà là người có quyền thay đổi mọi chiến thuật của hàng không mẫu hạm, như biến chế thêm đường bay, rút ngắn lại số thang... làm sao cho phương cách chiến đấu của hàng không mẫu hạm tối tân hơn và hiệu quả hơn trong chiến tranh. Các vị Tướng lãnh chỉ huy các hàng không mẫu hạm đều phải hỏi ý kiến bà trong việc sắp đặt chiến thuật tấn công hay phòng ngự. Thật đáng kinh ngạc và kính phục. 

Ngoài ra, còn rất nhiều người Việt Nam trên nhiều lãnh vực như Chuẩn Tướng Không Quân Huỳnh Trần Mylene, Chuẩn Tướng Châu Lập Thể, chỉ huy trưởng Lữ đoàn Vệ Binh Quốc gia Virgina 91th, Đại Tá Nguyễn Mạnh Hùng, chỉ Huy trưởng Lực Lượng Duyên Phòng Ohio, Hạm trưởng Chiến Hạm USS Lassen: Đại Tá Lê Bá Hùng, Đại Tá Cao Hùng Navy Seal, ĐẠI Tá Hải Quân Hoa Kỳ Vũ thế Thuỳ Anh, Đại tá Danielle J Ngô, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 130 công binh lục quân. 

Về nghiên cứu vũ trụ, có Khoa Học Gia Trịnh Hữu Châu, trong phi hành đoàn tàu Columbia STS-50, đã ở trên quĩ đạo địa cầu 14 ngày. Hiện nay, tại NASA, cơ quan hàng không quân sự, cơ sở nghiên cứu khoa học vũ trụ, và cũng là “con mắt gián điệp” rộng khắp thế giới có nhiều Tiến sĩ Việt Nam làm nghiên cứu. 

Theo số liệu tổng quát, thì có 24 Đại Tá người Việt trong Hải quân Hoa Kỳ, 50 Trung Tá, trên 100 Thiếu Tá và 120 Đại Úy. Tin vui mới là Hải quân Thiếu Tá Trần Trung Tín sẽ chính thức thăng cấp Hải Quân Trung tá và được chọn làm Hạm phó Khu Trục hạm USS John S McCain trong năm 2019. 

Elizabeth Phạm (Semper Fi)

Một nhân vật cuối cùng mà không thể không nhắc đến vì quá đặc biệt: Thiếu Tá Phi công Elizabeth Phạm, người nữ đầu tiên lái một chiếc phi cơ tối tân nhất thế giới: F 18 Hornet. Loại phi cơ này có đặc điểm là từ tuốt trên cao lao xuống với một tốc độ kinh hồn là 2380 cây số một giờ để thả một quả bom rất chính xác đôi khi gần quân bạn chỉ vài trăm mét. Vì sự khó khăn này mà từ khi được chế tạo, Không quân Hoa Kỳ chưa bao giờ dám giao cho một người nữ, bởi chỉ cần một giao động trong tích tắc, phi công lái Hornet 18 này có thể tiêu diệt một tiểu đoàn bạn trong nháy mắt. Vậy mà người nữ đầu tiên lái lọai phi cơ này lại là một thiếu nữ Viêt Nam. 

Trên đây, mới chỉ là một số các tấm gương nổi bật, ngoài ra, còn cả hàng ngàn học sinh, sinh viên Thủ Khoa trên khắp các trường học của nước Mỹ. Nhiều họ Việt Nam tốt nghiệp Cử Nhân dưới 16 tuổi! Bác sĩ chưa đến 20 tuổi. Thủ Khoa, Á Khoa Hải Quân, Tiến sĩ Không Gian Hoa Kỳ… Có nhà địa chất học Việt Nam được đặt tên cho một ngôi sao mới khám phá. Còn Bác sĩ, Dược Sĩ, Nha Sĩ... thì đếm không hết. Có gia đình Việt gồm toàn 10 Y Sĩ dâu, rể…

Nói chung, người Việt mình vẻ vang thật! Hãnh diện là người Mỹ gốc Việt. Thành công rực rỡ nằm trong tay các bạn trẻ.

Saturday, April 10, 2021

Thơ tình Hungary

 CHÙM THƠ TÌNH HUNGARY 

Hôm nay 11/4 là ngày Thi ca Hungary. Đúng dịp này năm ngoái tuần báo Văn Nghệ đăng Chùm thơ tình Hungary do mình dịch. Xin post lại chùm thơ cùng Lời giới thiệu đăng trên báo năm ngoái.


LỜI GIỚI THIỆU 

Nói đến thơ tình thế giới, độc giả Việt Nam thường nghĩ tới Puskin, Olga Bergholz (Nga), Shakespeare (Anh), Heinrich Heine (Đức) hay nhiều nhà thơ Pháp. Thơ tình Hungary ít được biết đến hơn, với phần lớn độc giả có lẽ chỉ một nhà thơ lớn người Hung được biết đến là Petőfi Sándor với bài thơ nổi tiếng Tự do và ái tình của ông qua bản dịch của Xuân Diệu (qua ngôn ngữ trung gian là tiếng Pháp):

"Tự do và ái tình

Vì các ngươi ta sống

Vì tình yêu lồng lộng

Tôi hiến cả đời tôi

Vì tự do muôn đời

Tôi hy sinh tình ái."

Petőfi là một trong những nhà thơ lớn nhất của Hungary, cũng là một anh hùng dân tộc. Ông là biểu tượng của cuộc cách mạng giải phóng đất nước năm 1848 với những vần thơ hùng hồn kêu gọi cả dân tộc vùng lên:

"Hỡi đồng bào, hỡi tất cả người Hung

Đứng lên đi Tổ quốc gọi oai hùng

Ngày hôm nay hay không bao giờ nữa

Chọn Tự Do hay Nô Lệ bần cùng!"

(Bài ca dân tộc)

để rồi hy sinh năm 1849 khi mới 26 tuổi. Chỉ trong 26 năm ngắn ngủi ấy, Petőfi đã sáng tác hàng ngàn bài thơ và thơ tình là một chủ đề lớn trong thi ca của ông. Bài thơ "Anh gọi tên em là gì" trong chùm thơ này được viết vào tháng một năm 1848. Nhà thơ dành toàn bộ tình yêu của mình trong đó cho người vợ trẻ mới cưới trước đó bốn tháng. Tình yêu đó càng quý giá hơn khi chỉ hai tháng sau nổ ra cuộc cách mạng chia ly cuộc sống vợ chồng son mới vừa trọn nửa năm.

Nói đến thơ tình Hungary không thể không nhắc đến Juhász Gyula. Không phải ngẫu nhiên mà có tới hai bài thơ của ông được chọn trong chùm thơ này. Cuộc tình đơn phương kéo dài hàng chục năm của ông với một nữ diễn viên trẻ ông chỉ gặp một lần để rồi âm thầm theo đuổi trong tuyệt vọng đã sản sinh ra chùm thơ Anna nổi tiếng đến nỗi nhiều lần trở thành đề thi văn học phổ thông. Có phải tình yêu? – Tình yêu với ông suốt đời chập chờn là câu hỏi, ông theo đuổi kiếm tìm, chấp nhận rằng:

"Hãy cứ đau đi, cứ đau dịu ngọt

Cứ ngốc nghếch, cứ lỡ lầm sai sót"

Nhiều lúc tưởng rằng:

"Năm tháng đến lại đi

Em cũng xa dần vào ký ức"

để rồi cuối cùng nhận ra rằng "Anna, em là mãi mãi"

"Cuộc đời tôi lầm lỡ bởi vì em

Em hiện hữu, muôn đời em ngự trị"

József Attila cũng là một nhà thơ lớn. Ngày sinh của ông được lấy làm ngày Thi ca của Hungary. Ông là một nhà thơ cách mạng nhưng bên cạnh đó mảng thơ trữ tình cũng chiếm một phần quan trọng trong sự nghiệp thơ ca của ông. Ta cảm nhận được tình yêu nồng cháy trong bài thơ Đêm hè, thịt da ta chạm vào nhau của ông trong chùm thơ này:

"Mùa hạ trời đêm

Bao thèm khát rơi vào anh cháy bỏng

Thịt da ta chạm vào nhau rát nóng

Cả cuộc đời như dồn hết vào đây"

Nhưng tình yêu đâu chỉ là những giây phút nồng nàn “Thịt da ta chạm vào nhau”, là những rung cảm khó nắm bắt của con tim khi ta tự hỏi “Có phải tình yêu”, là khi ta ngây ngất chiêm ngưỡng người bạn tình bên cạnh với bao cảm xúc không biết “Gọi tên em là gì”, chỉ biết rằng “Em là mãi mãi”. Tình yêu thực sự khi ta có thể là bạn chơi, cùng nhau chơi trò chơi cuộc đời như trong bài thơ Em ơi, em có muốn cùng chơi của Kosztolányi Dezső

"Này em ơi em có muốn cùng chơi

Muốn cùng nhau chơi suốt cả cuộc đời"

Kosztolányi Dezső  trước hết là một nhà văn. Có phải vì vậy mà ông nhìn tình yêu với góc độ thường nhật đỡ bay bổng hơn chăng. Tình yêu có muôn màu muôn vẻ. Sau những khoảng thời gian khắc khoải theo đuổi và rồi bùng cháy của buổi đầu gặp nhau, quen nhau và yêu nhau, đến với nhau thì còn cả một cuộc đời dài chung sống với nhau phía trước. Thật là đẹp nếu chúng ta có thể

"Chơi mà sống, chơi mà thành sự thật

Rải đầy hoa đôi ta nằm xuống đất

Muốn không em Cái Chết cũng cùng chơi?"

Xin trân trọng giới thiệu chùm thơ tình Hungary này

Petőfi Sándor - ANH GỌI TÊN EM LÀ GÌ

Anh gọi tên em là gì?

Khi miên man lúc hoàng hôn xuống

Mắt anh chạm vào mắt em

Thấy ngôi sao mai sáng rực

Anh đăm đăm như thấy lần đầu

Ngôi sao mà,

Mỗi tia sáng ánh lên

Là dòng suối tình yêu trong mát

Chảy vào anh về biển tình bát ngát

Anh gọi tên em là gì?

Anh gọi tên em là gì?

Khi em gửi cho anh cái nhìn hiền hậu

Như cánh chim câu dịu dàng sang đây đậu

Bộ lông ấm mềm hơn lụa hơn tơ

Chạm vào thật thích

Anh gọi tên em là gì?

Anh gọi tên em là gì?

Khi giọng em vang lên,

Ngân nga cây mùa đông giá mà nghe được

Thì cành khô kia cũng nẩy lộc đâm chồi

Vì cứ tưởng chim họa mi đang hót

Ngỡ mùa xuân bao mong đợi đã về

Anh gọi tên em là gì?

Anh gọi tên em là gì?

Khi môi em chạm vào môi anh

Tâm hồn ta tan vào nhau trong nụ hôn nồng cháy

Thế giới dẫu bao la cũng biến đi hết thảy

Hạnh phúc vĩnh hằng tràn ngập hồn anh

Anh gọi tên em là gì?

Anh gọi tên em là gì?

Người mẹ sinh thành của hạnh phúc nơi anh

Tiên nữ giáng sinh của thấu trời tưởng tượng

Em hơn cả mọi điều anh mơ ước

Em là thực tại chói lòa!

Em là duy nhất của lòng anh,

Món quà quý hơn thế giới

Ôi người vợ hiền xinh đẹp của anh ơi!

Anh gọi tên em là gì?

***

József Attila - ĐÊM HÈ THỊT DA TA CHẠM VÀO NHAU

Mùa hạ trời đêm

Bao thèm khát rơi vào anh cháy bỏng

Thịt da ta chạm vào nhau rát nóng

Cả cuộc đời như dồn hết vào đây

Nơi em chạm nồng nàn say đắm

Anh nhận ra đã từ lâu lâu lắm

Từ thuở biết đi tìm, người anh muốn là em!

Ôi gần xa và tất cả lạ quen

Có hiểu nổi về nàng không trời đất

Bản thân tôi không thể nào kham tất

Em quá nhiều cho một mình anh.

Ong bay rì rầm và thiên thạch vút nhanh

Tất cả làm nền cho tôi tuyên bố

Đồi nho kia bên cạnh nàng rất nhỏ

Chẳng là gì trời buổi sớm bình minh

Nụ hôn của tất cả đàn bà em mang nó trong mình

Làm anh sợ, rất nhiều khi anh sợ

Bởi hai ta quấn vào nhau nhiều quá

Sợi dây tình em cuộn cứ rối thêm

Chẳng hề chi ta vẫn khát vẫn thèm

Khi đá nặng đè lên anh dưới mộ

Và nhẹ nhàng em cưỡi gió về mây!

***** 

Juhász Gyula - ANNA, EM LÀ MÃI MÃI

Năm tháng đến lại đi

Em cũng xa dần vào ký ức

Trong tim tôi em chẳng còn thường nhật

Bờ vai em tôi không nhớ nữa rồi

Giọng nói thuở nào có lúc lướt qua tôi

Tuy biết vậy đã chẳng còn theo nữa

Rậm rạp rừng đời vùi sâu chuyện cũ

Gọi tên em tôi bình tĩnh lại rồi

Đã chẳng còn run trước ánh mắt người

Em chỉ một trong vô vàn ai khác

Thuở xa xưa thời trai trẻ điên rồ…

Chẳng thế đâu, em đừng có nghi ngờ

Chớ vội tin tất cả là vô nghĩa

Chớ vội tin ta chẳng còn gì nữa

Cuộc tình tàn em sẽ chẳng còn đây...

Em vẫn còn đây khi cà-vạt không ngay

Em vẫn hiện thân khi lỡ lời tôi nói

Trong những lá thư xé mà không gửi

Trong câu chào tôi nhầm gọi tên em

Cuộc đời tôi lầm lỡ bởi vì em

Em hiện hữu, muôn đời em ngự trị

Amen!

*****

Juhász Gyula - CÓ PHẢI TÌNH YÊU

Chẳng biết là gì, chỉ thấy thích thôi

Ngơ ngẩn hồn bay theo lời em nói

Tưởng ánh hoàng hôn về đây chiếu rọi

Ngôi sao ban chiều lấp lánh vời xa.

Chẳng biết là gì ngọt lịm thịt da

Khi ánh mắt em nhìn tôi bất chợt

Như giọt nắng vàng cuối chiều còn rớt

Dẫu trời đêm lạnh lẽo sắp về rồi

Chẳng biết là gì, chỉ thấy vậy thôi

Cuộc sống xung quanh bỗng dưng thật đẹp

Trái tim tôi em vuốt ve làm phép

Nấm mộ buồn theo gió bỗng vụt tươi

Chẳng biết tại sao mà thích thật nhiều

Hãy cứ đau đi, cứ đau dịu ngọt

Cứ ngốc nghếch, cứ lỡ lầm sai sót  

Xin lỗi em, nếu đó Tình Yêu!

*****

Kosztolányi Dezső - EM CÓ MUỐN CÙNG CHƠI

Này em ơi em có muốn cùng chơi

Muốn cùng nhau chơi suốt cả cuộc đời

Có muốn cùng đi vào nơi bóng tối

Làm trẻ con quan trọng chuyện tầm phào

Mặt nghiêm trang đầu bàn tiệc ngồi cao

Đem rượu rót để đong đong đếm đếm

Châu báu ngọc ngà cũng đem ra ném

Áo ngày xưa than thở mặc mà buồn

Rồi chẳng cần chi lại đã mừng rơn...

Này em ơi em có muốn cùng chơi

Chơi cùng nhau mọi thứ ở trên đời

Chơi đông lạnh chơi thu dài heo hắt

Chơi uống trà thơm ngát ấm làn hơi.

Này em ơi em có muốn cả đời

Hết mình sống với trái tim trong sạch

Thỉnh thoảng giật mình tiếng gì lách cách

Tháng mười một về di dạo ở ngoài xa.

Muốn không em chơi chim thú đa đa

Đi tàu hỏa, đi thuyền, đi du lịch

Chơi mộng mơ, chơi những gì em thích

Chơi làm người tình hay chơi đóng kịch

Khóc giả vờ hay sặc sỡ nghĩa trang.

Muốn không em sống mãi ở địa đàng

Chơi mà sống, chơi mà thành sự thật

Rải đầy hoa đôi ta nằm xuống đất

Muốn không em Cái Chết cũng cùng chơi?

PHAN ANH SƠN Dịch và giới thiệu

(Báo Văn Nghệ số 15, 12/4/2020  )

http://baovannghe.com.vn/chum-tho-tinh-hungary-1-2-20554... 

#phananhson_dichtho

Friday, April 9, 2021

Đi & thấy...

Đi phương tiện công cộng cũng rất cần đẹp trai...

Tác giả: Trương Anh Ngọc

Viết xong cái post về xe Vinbus điện thì lại nhớ những năm tháng ở nước ngoài thỉnh thoảng lại bỏ xe ô tô ở nhà và nhảy xe bus hoặc xuống tàu điện ngầm đi khắp nơi. Đấy chính là những phương tiện tuyệt vời cho việc đi lại mà ta không cần phải lo nghĩ đến chuyện lái xe hoặc đến các nơi mà phải vất vả tìm chỗ đỗ xe hoặc phí gửi xe quá cao (điều thường thấy ở trung tâm các thành phố lớn). 

Chỉ cần bôi tí nước hoa, lăn nách khử mùi, ăn mặc nhẹ nhàng, đầu tóc gọn gàng, thế là đi bộ đến các bến và chờ cái xe sẽ đưa mình đến nơi cần đến thôi. Đơn giản, gọn nhẹ, không lo lắng gì chuyện tắc đường hay bãi đỗ xe, cứ thế mà đi. Đi như thế đã thành một thói quen của mình khi không ở Việt Nam rồi, trong các chuyến công tác, các chuyến đi du lịch, đi cả ngày như thế cũng được mà không chán. Giờ chỉ mong sẽ lại như thế ở Hà Nội nói riêng và nhiều thành phố lớn của mình nói chung.

Mình có cả xe máy (một cái Vespa) lẫn ô tô, khi nào đi đâu thì lấy xe đi thôi, rất tiện. Nhưng cái sự tiện ấy nhân lên hàng chục triệu lần (vì những người khác sử dụng phương tiện cá nhân cũng như mình, không khác gì) đã và đang đem đến rất nhiều vấn đề mà ai cũng thấy, như tắc đường, ô nhiễm và rất stress, rất tốn thời gian. Mà các hệ thống giao thông công cộng ở mình thì chưa tiện, chưa đồng bộ và chưa thể là phương án tối ưu nhằm thay thế phương tiện cá nhân.

Mơ một ngày thật gần được toe toét thế này trên một chiếc xe bus thân thiện với môi trường ở mình...

Ảnh chụp tháng 10/2013, Roma, Italia, trên một chuyến tàu điện nổi

Thursday, April 8, 2021

Thế giới trong ĐDVH: Mỹ và chính sách chống lại những ảnh hưởng từ TQ

 Trong một lá thư gửi Bộ trưởng Giáo dục Miguel Cardona, Hạ nghị sĩ Michelle Steel và Thượng nghị sĩ Marsha Blackburn đã dẫn đầu một nhóm hơn 20 nhà lập pháp kêu gọi Bộ chú ý đến mối quan ngại về sự hiện diện của các Viện Khổng Tử của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại các cơ sở giáo dục của Mỹ và những hiểm họa của chúng đối với nền học thuật và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ.

Trước các mối đe dọa đối với nền học thuật và an ninh quốc gia của Hoa Kỳ từ hệ thống Viện Khổng Tử, một cơ quan tuyên truyền của ĐCSTQ, các nhà lập pháp của Đảng Cộng hòa trong tuần này đã thúc giục Bộ Giáo dục xem xét thay thế Đài Loan như một giải pháp tránh sự kiểm duyệt của ĐCSTQ để cung cấp chương trình giảng dạy tiếng Quan thoại và văn hóa Trung Hoa tại các cơ sở đại học, cao đẳng Hoa Kỳ.

Được coi là trung tâm ngôn ngữ và văn hóa, các Viện Khổng Tử do Bắc Kinh tài trợ đã thu hút sự giám sát chặt chẽ về vai trò của họ trong việc truyền bá tuyên truyền của Trung Quốc và biểu hiện mất tự do học thuật ngột ngạt trong các trường đại học trên khắp thế giới. Họ được tài trợ và phần lớn là nhân viên của Văn phòng Hội đồng Tiếng Hoa Thế giới hay còn gọi là Hán Biện, một tổ chức phi lợi nhuận tự nhận là phi chính phủ nhưng được ĐCSTQ kiểm soát trực tiếp, theo báo cáo của tiểu ban điều tra của Ủy ban An ninh Nội địa Thượng viện.

Các nghị sĩ Steel và Blackburn đang dẫn đầu việc mở rộng Sáng kiến ​​Giáo dục Hoa Kỳ-Đài Loan, được thành lập bởi Cục Văn hóa và Giáo dục của Bộ Ngoại giao vào tháng 12/2020. Sáng kiến ​​này tìm cách phát triển thêm các chương trình dạy tiếng Quan thoại trong các cơ sở của Hoa Kỳ.

“Chúng tôi kêu gọi Bộ Giáo dục (DOE) khám phá các lựa chọn thay thế không bị kiểm duyệt để hỗ trợ việc giảng dạy tiếng Quan thoại và văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là những chương trình do Đài Loan cung cấp”, các nghị sĩ viết trong thư.

Các quan chức Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Trump đã chỉ trích hệ thống Viện Khổng Tử vì lo ngại rằng các học viện truyền bá tuyên truyền cộng sản, hạn chế tự do học thuật và tạo điều kiện cho hoạt động gián điệp của ĐCSTQ trong học đường của Hoa Kỳ.

Theo Hiệp hội Học giả Quốc gia (NAS), tính đến ngày 25/3, có tổng cộng 50 tổ chức Viện Khổng Tử hiện đang tồn tại ở Mỹ, trong đó có 8 tổ chức dự kiến ​​sắp đóng cửa. Trong số này, 44 viện đặt tại các trường cao đẳng và đại học của Mỹ và 1 viện tại một tổ chức giáo dục tư nhân - Viện Trung Quốc. Ngoài ra còn có 5 Viện Khổng Tử tại các trường phổ thông từ mẫu giáo đến lớp 12 (K)-12.

Cho đến nay, đã có 74 Viện Khổng Tử đóng cửa hoặc đang trong quá trình đóng cửa, theo NTD

Wednesday, April 7, 2021

Người nhân nghĩa

 NỮ DU KÍCH HUYỀN THOẠI VIỆT NAM

(Người từng chỉ huy 30 người đánh bại 1 tiểu đoàn bộ binh Mỹ)

Năm 1965, đội nữ du kích Củ Chi được thành lập. Bảy Mô trở thành chỉ huy trưởng đầu tiên của Trung đội này.

Ngày 8-1-1966, quân Mỹ mở cuộc hành quân đại quy mô mang tên Crimp đánh vào Củ Chi. Với 12.000 quân, gồm 2 lữ đoàn (Lữ đoàn 2 và 3 thuộc Sư đoàn bộ binh số 1 - Anh Cả Đỏ), 1 tiểu đoàn công binh Úc, 8 tiểu đoàn Thủy quân lục chiến và Biệt kích Việt Nam Cộng hòa), 300 máy bay chiến đấu, 24 lượt rải bom B52, 600 pháo, 600 xe cơ giới…

Bảy Mô được giao nhiệm vụ chỉ huy đội nữ du kích giữ trận địa Nhuận Đức.

Một buổi sáng sớm trong chuỗi ngày căng thẳng này, một tiểu đoàn Mỹ đánh thẳng vào trận địa giăng sẵn của Bảy Mô. Bị phản kích bất ngờ, lính Mỹ bắn vu vạ rồi bật ngược trở ra, để lại một số tử thi. Nắm rõ "tính tình" quân Mỹ, thay vì rút lui, Bảy Mô cho quân áp sát đội hình địch. Vì vậy, khi quân Mỹ gọi pháo bắn "dọn bãi" đều rơi phía sau lưng đội hình của Bảy Mô. Mãi đến trưa, pháo ngừng bắn, mọi người đòi thu quân, Bảy Mô vẫn lệnh cho mọi người bám trận địa vì thấy máy bay trinh sát quần thảo trên bầu trời. Bảy Mô biết địch sẽ còn đổ quân.

Phục kích đến 2 giờ 30 phút chiều, bỗng từ mũi thước ngắm khẩu súng, Bảy Mô trông thấy lần lượt 4 người lính Mỹ bò ra từ bụi rậm. Họ trải một tấm vải dù ngay vị trí quả mìn gài của Bảy Mô. 4 người ngồi 4 góc khui đồ hộp đặt giữa tấm khăn rồi lấy thư, hình ảnh vợ con ra xem. 4 người lính Mỹ ôm nhau khóc ròng rồi đốt các lá thư và hình ảnh vợ con.

Lúc đó chiến sỹ liên lạc của Bảy Mô rất nôn nóng lấy danh hiệu "Dũng sỹ diệt Mỹ" nên đòi bắn. Bảy Mô kiên quyết không cho.

Nhớ lại chi tiết này, bà Bảy Mô kể: "Tôi đoán 4 anh lính Mỹ đó lấy hình ảnh vợ con và thư từ của những người vừa chết trong trận đánh buổi sáng. Có thể những người chết là bạn thân của họ. Tôi nghĩ, họ cũng có lương tâm như mình nhưng do bị ép buộc cầm súng đi xâm lược. Lúc đó, họ không cầm súng bắn vào mình. Vì vậy, tôi không thể bắn".

4 người lính Mỹ khóc chán chê rồi rút đi, để lại đống đồ hộp.

Uất ức vì không được lấy danh hiệu "dũng sỹ", ông Năm Nh. - chiến sỹ liên lạc đã ôm đống đồ hộp của 4 người lính Mỹ đến báo cáo với Chi bộ chuyện Bảy Mô không căm thù Mỹ. Trong cuộc họp Chi bộ tối hôm đó, ông Bí thư đùng đùng quát mắng. Bảy Mô trần tình nguyên do. Hiểu ra, ông Bí thư Chi bộ làm thinh, không khen chê cũng không kỷ luật. Cuộc họp chuyển sang nội dung bố trí đội hình đánh địch vào sáng hôm sau.

Câu chuyện tưởng chừng chìm vào bí mật nếu đêm đó không có một biến cố.

Sau cuộc họp tối hôm đó, ông Ba Th. - một cán bộ du kích - chạy về phía địch xin đầu hàng. Để "làm quà" đầu hàng, ngoài chuyện khai báo cách bố trí lực lượng chiến đấu của ta, ông Ba Th. còn kể chuyện Bảy Mô tha mạng của 4 anh lính Mỹ. 1 trong 4 người lính Mỹ đó đã tiếp cận Ba Th. để hỏi chi tiết câu chuyện.

Đó là Trung úy John Penycate. Ám ảnh chiến tranh và cái chết, John Penycate đã ghi chép vào sổ tay cá nhân mẩu chuyện đó như ghi nhận một ân nghĩa đối với người nữ du kích phía bên kia chiến tuyến. Từ câu chuyện này, John Penycate nung nấu tư tưởng chống đối cuộc chiến tranh phi nghĩa của quân đội Mỹ đối với nhân dân Việt Nam. Câu chuyện John Penycate và 3 anh lính Mỹ được quân du kích tha mạng lan khắp các doanh trại Sư đoàn 1 Mỹ đã góp phần tác động tâm lý bãi chiến trong sư đoàn.

John Penycate đã nhờ người gửi vào căn cứ một thùng quà cho Bảy Mô xem như đó là nghĩa cử tri ân.

Năm 1970, bà Bảy Mô được rút về làm Phó huyện đội trưởng Củ Chi. Sau đó được Tướng Nguyễn Thị Định rút về R cho học quân sự ở đơn vị H12, tức Trường Sỹ quan Lục quân miền Nam. Học xong, Bảy Mô được giữ lại làm cán bộ huấn luyện sỹ quan, chuyên khoa du kích.

Kết thúc chiến tranh, Bảy Mô vẫn tiếp tục giảng dạy tại Trường Sỹ quan Lục quân cho đến năm 1978. Do sức khỏe yếu và cũng do kinh tế gia đình quá khó khăn, Bảy Mô xin ra quân với hàm Trung úy. Hộp tiếp đạn khẩu súng K54 mà Bảy Mô sử dụng được trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam.

Chỉ quen chiến đấu, không hòa nhịp kịp với cuộc sống đời thường, bà Bảy Mô bươn chải đủ thứ nghề kiếm sống. Bà trôi dạt về tận Tây Ninh sống trong cảnh thiếu trước hụt sau.

Phần John Penycate, sau khi trở về Mỹ đã trở thành nhà văn và tích cực tham gia vào làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam. Năm 1985, ông trở về Việt Nam đến Củ Chi tìm ân nhân Bảy Mô. Không ai còn biết bà Bảy Mô trôi dạt nơi đâu. Qua những người cựu chiến binh ở vùng Đất Thép Củ Chi, John Penycate đã có được cái nhìn toàn cục cuộc chiến bảo vệ đất nước của vùng đất này. Và cũng qua những người cựu chiến binh, ông ta cũng biết thêm cuộc đời ân nhân Bảy Mô của mình.

Đầu năm 1989, John Penycate liên kết với nhà báo, đạo diễn truyền hình Tom Mangold cho xuất bản quyển sách "The tunnel of Cu Chi" (nhà xuất bản Berkly New York). Quyển sách đã ca ngợi cuộc chiến đấu chính nghĩa, nhân văn của nhân dân Việt Nam qua hình tượng những người du kích Củ Chi. Trong đó, quyển sách dành hẳn một chương ca ngợi nữ du kích Bảy Mô.

Quyển sách trở thành best seller ở Anh, Mỹ. Ngay sau đó, lần lượt các nhà xuất bản Hodder, Stougton (London), Albin Michel (Paris) tái bản hàng triệu bản.

Mangold là một nhà báo, đạo diễn truyền hình cư trú ở Anh nhưng nổi danh khắp bán cầu phương Tây với các loạt phóng sự, điều tra chiến tranh.

Giữa năm 1989, nhà văn John Penycate và đạo diễn truyền hình Tom Mangold trở lại Củ Chi lần nữa với quyết tâm tìm bằng được Bảy Mô. Sau cả tháng dò hỏi, cuối cùng họ cũng tìm được bà tại ... Bệnh viện Tây Ninh. Bà kiệt sức vì chống chọi với cái nghèo.

Nhà văn John Penycate và đạo diễn truyền hình Tom Mangold nhờ Sở Ngoại Vụ Tây Ninh tổ chức một cuộc đón tiếp long trọng Bảy Mô tại một khách sạn của Công ty du lịch Tây Ninh để tặng sách.

Khi đến nơi, thấy tấm thảm đỏ, bà Bảy Mô rụt rè bỏ dép bên ngoài. John Penycate vội quỳ sụp xuống mang dép vào chân của bà rồi nói: "Bà là ân nhân của tôi. Ở đây, bà là người quan trọng nhất".

Khi kết thúc cuộc trò chuyện để quay phim tài liệu, John Penycate chân thành hỏi bà: "Bây giờ bà mong muốn gì? Bà có muốn tôi giúp bà một số tiền để cất nhà không?"

Bà Bảy Mô chân tình kể bằng giọng mộc mạc: "Trời ơi! Lúc đó đang khổ gần chết. Trong bụng thèm nói tôi cần tiền. Dì suy nghĩ lung lắm. Nếu nói cần tiền nó sẽ khinh mình. Sau khi đắn đo suy nghĩ, dì trả lời vầy, tôi cần đất nước hòa bình, không ai xâm lược. Ai xâm lược, tôi sẽ hô hào con cháu đánh nữa".

Cái mộc mạc chân quê của bà Bảy Mô đã khiến nhà văn John Penycate và đạo diễn truyền hình Tom Mangold xúc động đến rưng rưng nước mắt.

Bà Võ Thị Mô (Bảy Mô) thời trẻ

Nguồn: Phạm Thúy Hậu st (FB-Trái tim người lính)

Tuesday, April 6, 2021

Đế quốc Mông Cổ

 Tồn tại trong thế kỷ 13-14, là Đế quốc Du mục lớn nhất trên thế giới, Thành Cát Tư Hãn đã mở rộng đế chế của mình trải từ Đông Âu đến bờ biển Nhật Bản, bao gồm vùng Sibêri, cao nguyên Iran và Trung Đông, một phần tiểu lục địa Ấn Độ và mở rộng xuống phía Nam đến Đông Nam Á.

Mông Cổ nổi tiếng với đội quân tàn sát bằng sức mạnh hủy diệt đã lập nên 1 Đế chế rộng lớn với câu nói: "Ta là sự trừng phạt của trời. Nếu các ngươi không sai phạm, trời đã không cử ta xuống đây". Thành Cát Tư Hãn được nhớ đến vì sức mạnh ý chí mãnh liệt, khả năng thuyết phục và đặc trưng Mông Cổ của mình.

Một trong những đặc trưng đó ở ông là thiên tài quân sự, muốn thống lĩnh cả thế giới phải có 1 đạo quân như trên trời tràn xuống, đó là 1 đạo quân thiện chiến chưa từng có. Chiến binh Mông Cổ là những khinh kỵ binh cơ động linh hoạt với nhiều chiến thuật nhanh chóng và bất ngờ.

Để thực hiện việc xâm chiếm/mở rộng lãnh thổ, Thành Cát Tư Hãn tổ chức đội quân Mông Cổ thành các nhóm theo cơ số 10 (10 lính là một arban (thập hộ), 100 là một zuun (bách hộ), 1.000 là một myangan (thiên hộ), 10.000 là một tumen (vạn hộ) và mỗi một nhóm binh sĩ có một thủ lĩnh có trách nhiệm báo cáo với cấp trên cho đến tận tumen. Cơ cấu mệnh lệnh này tạo ra một sự mềm dẻo cao và cho phép quân đội Mông Cổ có khả năng tấn công ồ ạt, chia thành các nhóm nhỏ hơn để bao vây và dẫn dắt kẻ thù vào ổ mai phục hay chia thành các nhóm nhỏ 10 người để áp chế các nhóm tàn quân đã tan vỡ và đang trốn chạy. Quân đội Mông Cổ là đội quân rất mềm dẻo vì sự kiên định của binh sĩ. Mỗi người lính Mông Cổ có thể có từ 2 đến 4 ngựa cho phép họ phi nước đại trong vài ngày mà không cần nghỉ ngơi hay bị mệt mỏi. Binh sĩ Mông Cổ cũng có thể sống vài ngày chỉ cần uống máu ngựa và ăn thịt bò Tây Tạng khô khi thời tiết khắc nghiệt.

Binh lính Mông Cổ là các khinh kỵ binh (kỵ binh nhẹ) so với các kỵ sĩ châu Âu, điều này cho phép họ tiến hành các chiến thuật và rút lui nhanh chóng. Đây là một thông lệ đối với các đội quân linh hoạt. Người Mông Cổ dưới thời Thành Cát Tư Hãn và các hậu duệ của ông là sự hoàn hảo của loại hình quân khinh kỵ bắn cung. Một trong những chiến thuật mà người Mông Cổ sử dụng trong chiến tranh là sự giả vờ rút lui giữa trận đánh, quân Mông Cổ có thể rút lui bất thình lình, làm cho quân đối phương tin rằng người Mông Cổ đã thua trận. Chỉ sau đó trong một khoảng cách nhất định thì họ mới hiểu là đã bị quân Mông Cổ bao vây và cuối cùng là hàng trận mưa tên bắn về phía họ. Người Mông Cổ không thích hợp với các cuộc cận chiến, họ thích tấn công từ một khoảng cách nhất định bằng cung tên, tận dụng khả năng bắn cung điêu luyện khi đang cưỡi ngựa vốn là ưu thế của họ. Vũ khí chủ yếu của người Mông Cổ là cung của người Hung và kiếm lưỡi cong, nhẹ và hiệu quả để mang vác và đánh nhau hơn là kiếm dài và nặng của người châu Âu.

Triết lý quân sự của Thành Cát Tư Hãn nói chung là đánh bại kẻ thù với ít tổn thất và rủi ro nhất cho người Mông Cổ, dựa trên lòng trung thành và tài năng trong việc lựa chọn các tướng lĩnh và binh sĩ.

Thành Cát Tư Hãn còn sử dụng một cuộc chiến khác để tác động vào tinh thần của đối phương. Nếu nhận thấy ở đó có sự chống cự và thấy đó là 1 vị trí quan trọng, ông có thể đưa ra cơ hội để họ đầu hàng và cống nộp. Nếu lời đề nghị bị từ chối, ông sẽ tiêu diệt cả thành phố hay thị trấn đó nhưng lại để cho một số người chạy trốn nhằm loan truyền tin về tổn thất của họ cho cư dân của các thành phố khác. Khi những tin đồn về sức mạnh của đội quân Mông Cổ đã lan rộng thì sẽ rất khó cho các thủ lĩnh của các thành phố đó trong việc thuyết phục người dân của họ chống lại Thành Cát Tư Hãn. Quan điểm của ông đối với các kẻ thù là: đầu hàng và chịu cống nộp hoặc là chết. Khi họ đã đầu hàng, Thành Cát Tư Hãn thông thường giữ cho thành phố đó được nguyên vẹn và đảm bảo cho họ sự bảo vệ để họ trở thành nguồn nhân lực và quân nhu cho các chiến dịch trong tương lai. Nếu họ chống lại, ông thực hiện quyền sinh sát của người cai trị một cách tàn nhẫn. Người ta cho rằng ông đã tiết kiệm nhiều tổn thất sinh mạng cho quân đội Mông Cổ nhờ chiến tranh tâm lý và sự hăm dọa đối với kẻ thù.

Công nghệ là một mặt quan trọng trong chiến thuật của ông. Những thiết bị vây hãm là một phần quan trọng trong các cuộc chiến, đặc biệt trong việc tấn công các thành phố đã tăng cường phòng thủ. Ông sử dụng các nhà kỹ thuật Trung Quốc am hiểu về các thiết bị vây hãm trong quân đội của mình. Các thiết bị này được tháo rời và vận chuyển bằng ngựa và được lắp ráp lại ở nơi mà chúng cần sử dụng.

Mặt khác, các tướng Mông Cổ là những chiến binh với mức độ độc lập cao trong các quyết định khi họ tỏ rõ lòng trung thành với Thành Cát Tư Hãn trong một thời gian dài. Người ta cho rằng, để chuẩn bị cho chiến tranh, các thủ lĩnh có thể cử 200 kỵ binh đi theo 4 hướng khác nhau để do thám các hoạt động của kẻ thù và đôi khi binh sĩ có thể đi tới 300 km trong 1 hay 2 ngày, điều này là thông thường trong thời đại của đội quân Mông Cổ.

Mặc dù chiến lược của người Mông Cổ (sẽ) có sự thay đổi tùy theo phản ứng của kẻ thù, nhưng chiến thuật cơ bản của họ vẫn chỉ là một. Quân Mông Cổ giao chiến theo hàng dọc, thông thường có ba cánh quân, hai cánh bên hông có thể tách ra từ cánh quân trung tâm khi họ tính toán xem nơi nào họ có thể thọc vào. Các cánh quân bên hông có quân số tương đương có thể đi sâu vào lãnh thổ kẻ thù và bắt đầu chôn vùi kẻ thù bằng các toán quân được chia thành các cơ, đội 10, 100, 1.000, 10.000 binh sĩ với các thủ lĩnh của họ, nó tạo ra một lực lượng chiến đấu rất tinh tế và có tổ chức cao, gần như không thể ngăn chặn nổi bởi những đội quân nông dân của người châu Âu hay Trung Quốc. Khi họ hiện diện ở một nơi nào đó và do thám các thành phố và cánh đồng xung quanh, họ có thể bằng cách nào đó nhập lại với cánh quân trung tâm và đưa ra đòn đánh quyết định với đội quân chính của kẻ thù. Tư tưởng và ưu thế của việc sử dụng các lực lượng bên hông là lan truyền đe dọa, khủng bố (người Mông Cổ rất giỏi việc này), thu thập tin tức tình báo từ các kẻ thù của họ và loại bỏ các đơn vị nhỏ hơn của kẻ thù để cho họ không thể hỗ trợ lẫn nhau. Nói cách khác, nó là một dạng của khái niệm phân chia và chế ngự. Các cánh quân bên hông này gửi các thông điệp thông qua tình báo cho các cánh quân khác về những gì xảy ra trên hướng của họ và họ có cần sự hỗ trợ từ các cánh quân đó hoặc hỗ trợ các cánh quân đó hay không. Quân đội Mông Cổ có các cuộc giao chiến với các đội quân nhỏ lẻ trên các cánh đồng trước khi tiêu diệt lực lượng đối địch chính, điều này làm tăng ưu thế của họ trong việc loại trừ khả năng thông tin từ nơi này sang nơi khác của đối phương. Người Mông Cổ giỏi chiến tranh vây hãm, giỏi làm lệch dòng chảy của các dòng sông cũng như cắt đứt lương thực, thực phẩm cho các thành phố và gửi những người tỵ nạn tới các thành phố khác để tạo sức ép về kinh tế-xã hội cho các thành phố này (lương thực, thực phẩm, nơi ăn ở v.v).

Với cách thức đó, đội quân của Thành Cát Tư Hãn đã đánh bại những kẻ thù của mình. Các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn trên khắp khu vực Á-Âu để bành trướng lãnh thổ đã đem lại sự thống nhất và phát triển giao lưu buôn bán, đồng thời ông cũng thi hành chính sách tự do tôn giáo, cho phép tín đồ mọi tôn giáo được tự do hành đạo. Tuy nhiên, Thành Cát Tư Hãn cũng nổi tiếng bởi sự tàn bạo với những người chống đối. Theo ước tính, đội quân của Thành Cát Tư Hãn đã giết hơn 40 triệu người tại các lãnh thổ mà họ xâm chiếm.

Tóm lược từ nhiều nguồn (Net)

Monday, April 5, 2021

Tại sao VN lẹt đẹt?

 Không biết việc Việt Nam mãi lẹt đẹt nhược tiểu thì lỗi phần lớn ở tầng lớp elite hay ở tầng lớp bình dân, hay ở một lớp người cơ hội mà ta hay gọi là Việt gian?

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Sunday, April 4, 2021

Đất nước hình thành từ thất bại sau 1 trận đánh

 Thay đổi văn hoá, kị binh nhẹ và giáp nặng giáo dài

    Kỵ binh nhẹ Hungary từng là nỗi khiếp sợ cho toàn thể Âu châu. Vó ngựa của Hungary đã vào Paris, đến Tây Ban Nha, đi lại trên nước Ý như chỗ không người. 

    Kỵ sĩ Hung sử dụng cung tên, đoản kiếm và rìu. Cung tên bắn xa, đoản kiếm ưu thế so với trường kiếm trong cận chiến, rìu phá tan giáp trụ nhẹ. Cả châu Âu đầu tư vào kỵ binh nhẹ để mong đối địch với kỵ sĩ Hungary. Nhưng vô vọng, cưỡi ngựa, bắn cung, sử rìu và đoản kiếm phải có dòng máu Hungary. Không ai hơn được họ. Các đoàn kỵ binh hàng chục ngàn người vẫn tiếp tục xé các binh đoàn có thể đông hơn, nhưng chậm chạp vụng về thành từng mảnh nhỏ và nghiền nát các mảnh đó. 

      Tuy vậy, tại trận Augsburg, chú nhóc tì Otto của Đức đã xuất hiện với các khối trận hình vuông, khiên dày, giáp nặng và cứng, kết hàng chặt chẽ. Các viên tướng Hung trải trăm trận, xung kích từ sáng đến tối không tài nào phá vỡ được khối thiết giáp, bị lính Đức thừa dịp chĩa giáo dài ra xiên như xiên chả. Kết quả các tướng kiệt hiệt nhất đều bỏ mạng tại Augsburg. 

     Tuy vậy, quân Hung thua trận và thương vong do say mê công kích. Họ bỏ đi, không bị truy đuổi nên vẫn còn lực lượng. Đa số người Hung vẫn nghĩ đó chỉ là tai nạn. Đối với họ kỵ binh nhẹ, cung tên, rìu, đoản kiếm là đỉnh cao đã được tôn vinh, trải qua bách chiến bách thắng. Thiết giáp nặng là một lũ vụng về, một kỵ sĩ Hungary có thể đối địch cả chục người như bỡn. Chỉ có một tướng trẻ là Geza, nghĩ nát óc vẫn không thể ra cách khắc chế thiết giáp nặng và giáo dài. Nếu quy mô vài trăm người, chỉ cần một toán kị binh vài chục người có thể làm cỏ trong nháy mắt. Nhưng nếu có vài ngàn quân thiết giáp, không có cách xuyên thủng, càng hùng hổ càng bị xiên bởi giáo dài.

      Geza trở thành vua Hungary, ông quyết tâm từ bỏ văn hoá truyền thống, với vinh quang chiến trận và sở trường kị binh nhẹ. Ông biết chắc rằng, nếu cứ tiếp tục với các giá trị văn hoá viển vông như vậy, dân tộc Hung sẽ trở thành kẻ thù của toàn châu Âu và chỉ có hai con đường: tuyệt diệt hay bị tống cổ khỏi châu Âu như một lũ mọi rợ.

      Geza gửi con trai là Istvan sang Đức và làm rể cho một công tước Đức. Ông biết rằng mình không còn thời gian thay đổi cả một nền văn hoá, nên gửi gắm điều đó lại cho con là Istvan. Geza qua đời, Istvan nối ngôi, quyết theo đạo Thiên Chúa để hội nhập với Châu Âu. Giới quý tộc kị sĩ chống lại chủ trương này. Cầm đầu là Kopany, lãnh chúa vùng Zala, vai chú của Istvan, một trong những tướng kiệt hiệt nhất của quân kị Hung. Để có tư cách chiếm ngai vàng của Istvan, Kopany tuyên bố là hôn phu của mẹ Istvan để có tư cách giành ngôi báu và đem quân về thành Veszprem để tóm cổ thằng nhóc hỗn láo. Khi quân kị của Kopany đến gần Veszprem thì gặp các đội thiết giáp nặng của Đức từ phía nhà vợ của Istvan huy động tới đã bày trận sẵn. Kị binh lớp lớp xung trận đều không thể phá được khối trận dày đặc bị giáo dài xiên như xiên chả. 

     Đến chiều, quân của Kopany mệt mỏi, chỉ còn lại 2-3 phần, đội ngũ tan tác, toan rút lui, thì các khối phương trận dày đặc đã bịt kín mọi phía. Các khối sắt thép từ từ ép lại giáo đâm tua tủa nghiền nát từng nhóm kị binh hoảng loạn và vô vọng. Kopany bị giết, chặt đầu treo lên cổng thành Veszprem. Xác bị xé làm 4 mảnh gửi đi treo trên các thành còn lại của Hungary. Hungary chính thức chấm dứt văn hoá kẻ cướp và từ giã nghệ thuật cưỡi ngựa, bắn cung, làm hiến pháp, xây dựng nhà thờ, trường học, trồng lúa mì, nấu rượu nho, trở thành dân tộc văn minh. Istvan được phong Thánh trở thành vị quân chủ lỗi lạc nhất lịch sử, tên tuổi gắn liền với Hiến pháp Hung. Dân tộc Hung nổi tiếng thông minh. Bắt đầu từ việc sử dụng giáo dài thô vụng, chậm chạp, khắc chế kị binh nhẹ tưởng như là tinh hoa nghệ thuật dân tộc.

Tp. Augsburg ngày nay

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Saturday, April 3, 2021

Xin học toán

 —- chuyện bịa là chính, ai không thích chuyện bịa xin đừng đọc rồi lại phàn nàn chuyện bịa. Tặng anh Quang Phan, Lê Minh, Nguyễn Cao Bình, Nghiep Nguyen, Sang Ung, Nguyen Q Quy, và Hung Anh Nguyen.

Câu lộc bộ toán mình mở hơn năm năm định kỳ tuyển sinh hàng năm hai lần, một lần đầu năm, một lần cuối hè.

Khi tuyển sinh câu lộc bộ kiểm tra trình độ toán của phụ huynh để đảm bảo thế hệ kế cận đủ năng lực học hành. Tạm gọi là xem có biết gửi xe đạp không để nói chuyện súp von tơ, biến thế.

Toán thì mênh mông, cho nên đôi lúc chỉ giới hạn trong một lĩnh vực. Kỳ rồi có chuyện đáng nhớ khi một phụ huynh từ Việt Nam mới sang Canada đăng ký dự tuyển sinh.

Câu hỏi:

- Anh có biết về logic hay không?

Trả lời:

- Tất nhiên là tôi biết, mà biết sâu là đằng khác. Không những tôi chỉ biết logic, mà còn biết cả giải tích, vi phân, tính toán rời rạc, ...

- Vâng vâng, chỉ hỏi thế anh vui lòng dừng, vì biết nhiều quá ở Canada là anh vào nhóm trình độ vượt nhu cầu, cũng sẽ bị loại.

- !

- Sau đây anh sẽ nhận được một số câu hỏi, nếu anh vượt qua được một trong số các câu, cháu sẽ được tuyển!

- Tôi sẵn sàng!

Câu hỏi 1:

- Có hai người vào đảng một thời gian, lên vị trí tốt, cùng làm chung một đơn vị, khi phát hiện có một vụ tham nhũng hai ông cùng tham gia, một ông nhận được thông báo là bị phát hiện có tham nhũng, một ông không được báo gì. Theo anh ông nào sẽ tìm cách “khắc phục hậu quà”?

- Dễ quá, dĩ nhiên là ông bị phát hiện!

- Sai, ông không được báo gì đi khắc phục ngay mới tránh được thông báo về bản thân ông ấy

- Ừ nhỉ!

Câu hỏi 2:

- Có hai người vào đảng một thời gian, lên vị trí tốt, cùng làm chung một đơn vị, khi phát hiện có một vụ tham nhũng hai ông cùng tham gia, một ông nhận được thông báo là bị phát hiện có tham nhũng, một ông không được báo gì. Theo anh ông nào sẽ tìm cách “khắc phục hậu quà”?

- Câu này vừa hỏi xong! Dĩ nhiên là ông không phát hiện!

- Sai, ông bị phát hiện dĩ nhiên phải đi khắc phục không thì chắc chắn đi tù!

- Ừ nhỉ!

Câu hỏi 3:

- Có hai người vào đảng một thời gian, lên vị trí tốt, cùng làm chung một đơn vị, khi phát hiện có một vụ tham nhũng hai ông cùng tham gia, một ông nhận được thông báo là bị phát hiện có tham nhũng, một ông không được báo gì. Theo anh ông nào sẽ tìm cách “khắc phục hậu quà”?

- Bây giờ tôi biết câu trả lời rồi! Dĩ nhiên là cả hai!

- Sai, ông bị phát hiện thấy ông kia cùng tham gia mà không được báo gì, thì chuyện điều tra có vấn đề, đã có vấn đề thì lo gì. Ông không nhận thông báo cũng thấy thế mà còn thấy ông bị phát hiện bình chân như vại thì cũng chả việc gì phải lo!

- Ừ nhỉ!

- Ahh tập trung vào. Sau đây là câu hỏi cuối. Cơ hội cuối cùng cho anh!

Câu hỏi 4:

- Có hai người vào đảng một thời gian, lên vị trí tốt, cùng làm chung một đơn vị, khi phát hiện có một vụ tham nhũng hai ông cùng tham gia, một ông nhận được thông báo là bị phát hiện có tham nhũng, một ông không được báo gì. Theo anh ông nào sẽ tìm cách “khắc phục hậu quà”?

- Tôi không hiểu! Câu lộc bộ định giở trò gì đây? Câu trả lời dĩ nhiên là không ai làm gì!

- Sai, làm gì có chuyện đã vào đảng, lên vị trí tốt, cùng làm chung, cùng tham gia vụ việc tham nhũng bị vở lỡ mà không lo đi khắc phục hậu quả, còn ở đó mà suy luận logic!

- Ôi trời!

Sau đó câu lộc bộ loại câu hỏi này ra ngoài danh sách câu hỏi tuyển sinh.

Các độc giả có những câu hỏi có thể làm cho các phụ huynh quay cuồng, chóng mặt, xin vui lòng nhắn gửi qua Mesenger. Câu lộc bộ vô cùng cám ơn!

Đoàn Hồng Nghĩa (ELTE.vidi90)

Friday, April 2, 2021

Bài thơ cho em: EM BIẾT KHÔNG - Kányádi Sándor

Kányádi Sándor (1929 - 2018) là một trong những nhà thơ đương đại lớn nhất của nền văn học tiếng Hungary. Mình viết như thế vì ông là người con của vùng đất Hungary bị cắt cho Rumani sau thế chiến thứ nhất. Ông sáng tác bằng tiếng Hung ở ngoài biên giới, dùng tiếng mẹ đẻ như sợi dây giữ hồn dân tộc gắn bó cộng đồng thiểu số người Hung ở nước ngoài. Ông rất được yêu kính ở Hungary, ở đây không có thông lệ có tượng đài kỷ niệm cho người sống, riêng ông được đặc cách có một cái ghế băng dành riêng cho mình trên một bến Metro chỉ vì ông nhắc đến nguyện vọng này trong một bài thơ nhỏ.

Thơ ông dung dị, rất chạm đến người đọc, như bài thơ dưới đây

EM BIẾT KHÔNG - Kányádi Sándor

Em biết không,

anh không bao giờ ân hận

vì đã yêu em,

dù rằng tình yêu ấy

đã làm đảo lộn cuộc đời anh

Em biết không,

anh không bao giờ thất vọng vì em,

dù nhiều lần anh không hiểu

những việc em làm,

nhiều lần anh lo lắng cho em,

sợ em làm điều dại dột.

Em biết không,

xung quanh anh ít dần đi đồ đạc,

chúng bỏ anh đi,

hoặc anh rời xa chúng,

khi những sợi dây kết nối càng trở nên đứt đoạn,

thì cảm xúc càng mạnh hơn trói buộc khó rời

Em biết không,

khi anh rơm rớm khóc về một điều gì đó,

kỷ niệm đẹp ngày xưa,

thì có suy nghĩ này an ủi,

rằng có trong anh một điều kỳ diệu,

không bỏ anh đi,

không có gì lấy đi, mang đi được,

dù là lòng ghen tị,

hay ác ý của người đời.

Em biết không,

anh nuôi dưỡng mình bằng điều đó,

giúp cho anh không gục ngã trong đời,

hay nếu ngã rồi, đứng  lên lại được thôi,

giúp lại mỉm cười nếu như anh khóc...

và có lẽ mai này,

khi lần cuối cùng anh đi vào giấc ngủ

thì vì điều này anh vẫn dậy, vẫn đứng lên!

(PAS dịch, 28/3/2021)

Ảnh minh họa: chiếc ghế băng dành riêng cho ông ở một bến Metro, phía trên là bài thơ của ông nói về nguyện vọng đó

(cũng là minh họa cho bài thơ này, khi ghế xưa còn đó nhưng người đã xa)

#phananhson_dichtho

===================

Nguyên bản tiếng Hung

Kányádi Sándor: TUDOD

Tudod

soha nem bántam meg,

hogy megszerettelek,

pedig felbolygatta ez a szeretet

az egész életem,

Tudod,

soha nem csalódtam benned,

pedig sokszor nem értettem

a cselekedetedet,

sokszor féltettelek,

leginkább magadtól féltettelek,

Tudod,

lassan fogynak körülöttem a dolgok,

a dolgaim,

vagy messzire kerülnek tőlem,

vagy csak én távolodok,

ahogy szakadoznak a szálak,

az érzés egyre jobban magához láncol,

Tudod,

mikor megkönnyezek valamit,

ami szép volt,

megvigasztal a gondolat,

hogy lakozik bennem egy csoda,

ami nem hagy el,

amit nem vehet el tőlem

sem az irigység

sem a rosszindulat,

Tudod,

ebből az érzésből táplálkozom,

miatta össze sem csuklom,

ha elesek is, érte felállok,

ha sírok is elmosolyodok,

talán,

ha végleg elalszom,

érte akkor is felébredek.

Phan Anh Sơn

Thursday, April 1, 2021

Ngọn nến chưa tắt

Câu chuyện thắp nến cầu tự

Trên đường đi Vatican, linh mục tình cờ gặp cô bạn thời niên thiếu đang chờ chuyến bay tiếp theo. Ông thốt lên:

- Maria, trông bạn vẫn như xưa! Bạn dạo này thế nào?

- Mình vẫn khoẻ.

Trò chuyện một lát, linh mục được Maria cho biết là cô ấy đã có chồng hơn năm năm, nhưng không có con, dù đã tìm mọi cách. Linh mục an ủi:

- Đừng buồn! Khi đến thánh đường Peter, mình sẽ thắp cho bạn một ngọn nến cầu cho các bạn có con.

Hai người lại tiếp tục trò chuyện.

Bẵng đi năm năm, một hôm linh mục đang chuẩn bị dùng bữa tối thì có tiếng chuông. Ông mở cửa, có một người đàn ông to cao, đẹp trai, gương mặt mệt mỏi, hỏi ông có phải là linh mục không. Sau đó ông ta tự giới thiệu mình là Robert, chồng của Maria:

- May quá! Đã tìm được ông! Ông có nhớ là ông nói chuyện thắp nến xin con với Maria cách đây năm năm không? Ông có biết là sau đó chúng tôi có con: hai cặp sinh đôi, một bộ sinh ba. Cứ mỗi năm một lần! Bây giờ tôi vừa biết cô ấy đang có thai bốn đứa!

Nói xong ông đưa cho linh mục một phong bì, tiền mặt, séc, và vé máy bay khứ hồi đi Rome.

- Ồ, Robert! Bạn đâu có cần phải khách khí như thế. Niềm vui của hai bạn cũng là của tôi. Các bạn không cần phải cảm ơn tôi vì việc này.

Robert biến sắc:

- Ô không! Đây không phải là chuyện cám ơn đâu. Ông làm ơn đến Vatican thổi .. cho cái nến chó chết tắt mẹ nó đi!

Đoàn Hồng Nghĩa (ELTE.vidi90)

Wednesday, March 31, 2021

CHUYỆN PHÒ

 Mười lăm tuổi nó bỏ học theo người ta đi làm thuê ở một bar to nhất nhì Huyện để kiếm tiền phụ mẹ. Mười sáu tuổi nó bán trinh lần đầu tiên cho một lão đại gia do bà chủ quán cà phê môi giới. Nó cầm mười ba triệu đồng mà tủi phận nước mắt như mưa. 

Bà chủ bán cà phê bảo:

- Mày khóc làm đéo gì. Nếu mày yêu một thằng ất ơ nào đó thì cuối cùng cũng chỉ ngủ với nó là hết phim. Rồi thì nó bỏ mày đi với con khác thì đéo được tiền mà cũng vẫn đau. Đau mà được tiền còn hơn.

Bố nó là một thằng chồng khốn nạn và là một ông bố tồi. Nó đi làm phò cũng một phần do thằng bố nó.

Chả làm gì cho vợ con nhờ thì chớ suốt ngày rượu chè, cờ bạc rạc rài rồi về lôi mẹ con nó ra đánh.

Lúc đầu nó khiếp đảm những trận đòn của bố nó trút xuống đầu mẹ nó. Chị em nó gào thét rồi oằn lưng đỡ đòn cùng mẹ.

Bây giờ nó chẳng còn thấy đau tức lồng ngực, mặt nóng ran và cúi gầm xuống khi bố nó say chửi nó là con phò, con đĩ , nó quyết liệt xông vào lôi giật bố nó ra khi bố nó đánh mẹ nó can tội mẹ nó không biết dạy để nó đi làm đĩ.

Mười ba triệu đồng bán thân xác lần đầu của nó mất tăm ngay sau khi thằng bố nó say riệu ngã sấp mặt xuống cống nước phải đi bệnh viện cấp cứu.

Nó cầm tờ giấy tiền viện phí mà đau đớn nhớ lại cái lão già hơn cả tuổi bố nó. Lão to cao lực lưỡng như con gấu, cảm tưởng như lão thọc vào xé phanh nó làm đôi. Lão đè lên thốc xuống liên hồi làm nó chết đi sống lại. Lão cắn bóp nhào nặn rồi kéo ngược nó lên cao... mấy tiếng đồng hồ khủng khiếp ấy chỉ đủ cho một tờ hoá đơn thanh toán viện phí này thôi. 

Nó bước đi lảo đảo như không phải bước bằng đôi chân của nó. Bởi vì biết bao lâu hai chân nó cứ dạng rộng ra trên cái giường trong nhà nghỉ như hai chân gà bị bẻ quặt ngược lại,mãi mới khép được vào.

Nó càng ngày càng đẹp, càng đẹp càng lắm bà chủ mời gọi. Người ta tranh nhau để giành nó về. Giờ nó dạn dĩ trước người lạ. Nó không còn thấy ngại ngùng và lơ ngơ mặt cúi gằm nhìn đất như trước đây nữa.

Mỗi lần bố nó mở mồm định chửi nó liền bảo: Ông câm ngay đi, tôi làm phò đấy, phò thì đã làm sao? Nếu không có con phò non này hỏi xác ông còn không hay chó nó tha rồi.

Thằng bố nó giờ nhìn thấy người ngợm nó xăm ngang dọc toàn tranh ảnh mực tàu đâm ra cũng ngại. Thường thì người ta luôn cảm thấy có chút khác biệt giữa người hiền lành và người xăm trổ đầy mình.

Mẹ nó cũng bớt khổ hẳn khi nó làm phò được hai năm. Bao nhiêu tiền dọc ngang Hải Phòng - Hà Nội nó tích cóp đưa hết cho mẹ nó xây lại cái nhà và cho thằng em đi học.

Nó dám cầm hai chai bia Hà Nội phang thẳng vào đầu con mụ đánh ghen túm xé quần xé áo nó giữa đường. Lúc ban đầu bà ta chửi rủa nó cứ đứng yên chịu trận. Nguyên cái chai bia táng thẳng vào mặt vào đầu bà ta do bà ta cố tình định xé tan quần áo nó sau khi đã cho nó vài cái tát. Nó nghĩ đằng nào cũng tan người, tao sẽ khô máu với mày can tội có chồng không biết giữ để nó đem tiền đi bao gái lại còn đánh ghen.

Sau vụ đánh toác đầu vợ người ta, nó dằn mặt và cấm cửa thằng bồ. Nó cho người đe doạ nếu còn gây sự với nó nó san bằng tất cả vì đời nó chẳng có gì để mất.

Chị vợ kia hãi vãi linh hồn. Nó thì bỏ hẳn nghề bồ nhí mới làm được mấy tháng với một thằng khách đầu tiên để sang đầu quân cho một má mì khét tiếng ở cái miền Biển duyên hải này.

Nó đẹp, vẫn rất đẹp với đường nét tự nhiên, sự săn chắc tự nhiên, nước da vừa phải không trắng xanh xao yếu ớt. 

Có những lần nó đi khách tận xứ Thanh. Nó đẹp kiểu kín đáo lặng lẽ nên hay được đem làm quà biếu tặng. Ở xứ Thanh lần ấy nó mới biết thế nào là bữa thịt sống rửa bằng bia và rượu. 

Tiền nó càng nhiều lên sau những đêm thác loạn và man rợ với những ông già lắm của nhiều tiền. Rượu và và những sấp tiền làm nó quên đi hoặc cố chịu đựng cái cảm giác nhớp nháp già nua và những tấm thân phì nộn của những lão già rửng mỡ. 

Năm năm sau ngày nó đi bán trinh thì thằng bố đốn mạt của nó say rượu quá tông xe vào cột điện chết tốt. 

Mẹ nó nhẹ gánh vì trả xong món nợ đời. Nó vẫn làm phò và vẫn chẳng hề sợ hãi hoặc giật thót mình khi nghe một người nào đó vô tình nhắc đến hai chữ cave hoặc phò. 

Nó cứ nay đây mai đó, chẳng có bến bờ và cũng chẳng yêu ai, nó thấy tất cả những thằng đàn ông đều khốn nạn. Thế rồi một lần mẹ nó bị tông xe, người ta đưa mẹ nó vào bệnh viện và gọi cho vào số nó bằng điện thoại của mẹ nó bởi cuộc gọi gần nhất là bà gọi cho con gái. Nó tức tốc bắt xe khách Hà Nội – Hải Phòng để về nhà. Vừa vào tới bệnh viện, nó thấy một thanh niên còn trẻ lắm, dáng dấp giản dị dễ mến đang đẩy xe cho mẹ nó ra từ phòng cấp cứu. Cứ thế cứ thế, người thanh niên đưa mẹ nó đi cấp cứu chinh phục nó bằng cặp mắt biết nói, nụ cười tươi sáng của anh ta. Lâu lắm rồi nó mới lại ngồi ăn cơm hộp, uống chén canh suông cùng người đó ở hành lang bệnh viện. Hơn hai mươi năm sống trên đời, lần đầu tiên nó thấy thương và nhớ một người khác giới mà không phải là em trai nó....

-----------

Cre: Loan Ngẫn

Tuesday, March 30, 2021

Đọc & Notes: Hai Quê Hương (Nguyễn Xuân Thọ)

 Tản cư: Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở những vùng Việt Minh kiểm soát, mỗi khi quân Pháp tấn công, dân chúng lại chạy giặc. Việt Minh quay lại phản công, Pháp rút, dân lại về. Nhiều đứa trẻ sinh trong những ngày tản cư vì thế ko có ngày sinh chính xác.

Từ „Villa bí ẩn“ đến „Tuần lễ Kosygin“

 (tiếp theo)

Vì không công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên hai cơ quan ngoại giao của Anh và Pháp rất ẩn. Trước các tòa nhà không hề có bảng ghi là gì, không có cảnh sát bảo vệ. Quan hệ lễ tân cũng vậy. 

Ông John Colvin, tổng lãnh sự Anh ở Hà Nội 1966-1967, có kể trong tập hồi ký của mình[1] rằng trong các dịp đại lễ hay quốc khánh ông chỉ được mời ngồi cùng các phóng viên báo chí quốc tế. Vì không có quan hệ ngoại giao nên cũng không có trình quốc thư. Mỗi vị Tổng lãnh sự mới sang nhậm chức chỉ đến chào xã giao tòa thị chính thành phố Hà Nội và được các quan chức cấp thấp tiếp.

Cuộc đối thoại giữa ông Colvin với hai cán bộ trẻ Dung và Pham ở sở Ngoại vụ Hà Nội cho thấy quan hệ Anh-Việt ngày đó mạng nặng dấu ấn của cuộc chiến tranh vừa nóng vừa lạnh giữa hai khối Đông-Tây. Danh từ „Chủ nghĩa đế quốc“ được nhắc lại nhiều lần.

Các nhà ngoại giao Anh cũng không được phép đi lại ở Hà Nội bằng xe đạp, bởi lí do „an toàn“. Mỗi lần muốn đi Sài Gòn (qua đường Vientian hoặc Phnompenh)) để họp với Đại sứ, hoặc chữa bệnh chẳng hạn, họ phải xin visa xuất cảnh và không phải lần nào cũng suôn sẻ.

Ông Colvin kể về mối quan hệ phức tạp giữa các nhà ngoại giao và những người Việt làm việc cho họ. Tòa Tổng lãnh sự không được tự do tuyển chọn những người giúp việc, từ lái xe, nấu ăn đến phiên dịch... Những người này đều do „Cục phục vụ ngoại giao đoàn“ thuộc Bộ Ngoại giao giới thiệu sang và khách nước ngoài chỉ còn cách chấp nhận. Cũng vì vậy mà giữa hai bên, người giúp việc và nhân viên ngoại giao, luôn có những ngờ vực và cảnh giác với nhau. Tuy vậy các nhà ngoại giao Anh không hay thay đổi người làm việc, đơn giản vì những người này đã quen việc, hiểu rõ mối quan hệ giữa tòa Tổng lãnh sự với các đại diện nước ngoài và cơ quan hữu quan ở Hà Nội. 

Hơn thế nữa, giữa họ dần dần hình thành các quan hệ con người với nhau. Vì vậy những người Việt này đều làm việc qua nhiều nhiệm kỳ ở đó. 

Ông Colvin cũng kể về các nhân viên người Việt ở ngay trong Lãnh sự quán với lũ trẻ, trong căn nhà ngang phía sau. Điều này giải thích sự có mặt của mẹ con „Cô gái đổ rác“ trong tòa nhà Ăng-Lê 

Cũng chính vì trực tiếp liên lạc với chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa và tiếp xúc với các cơ quan ngoại giao XHCN tại đây mà tòa Tổng lãnh sự Anh có được rất nhiều thông tin về chính sách và tình hình của Bắc Việt Nam.

Ông Colvin tiếp xúc với nhiều vị đại sứ các nước XHCN có mặt tại Hà Nội. Đặc biệt là quan hệ thân tình của ông với đại sứ Liên Xô Illia. S. Sherbakov (nhiệm kỳ 1964-1974). Ông Sherbakov là một thiếu tướng tình báo lão luyện, có quan hệ tốt với các chính khách Việt Nam, kể cả phía cứng rắn cũng như phía ôn hòa. Ông Sherbakov thậm chí còn ngỏ lời mời ông Colvin đến chữa răng ở chỗ ông bác sỹ của đại sứ quán Liên Xô (một chi tiết thú vị đến phút chót vì ông bác sỹ Nga không biết chữa răng). 

Rồi ông phải nhổ răng trong một bênh viện Việt Nam mà không gây tê, bởi thuốc tê chỉ dành cho quân đội. Từ trải nghiệm đó ông Colvin tìm hiểu và mô tả những khó khăn kinh tế của miền Bắc rất chính xác. Chính xác đến từng xuất gạo cho nhân viên văn phòng (13,5 kg) cho công nhân (15-18kg), chính xác đến từng mét vải tem phiếu, đến thu hoạch gạo của từng vụ mùa.

Các cơ quan ngoại giao Anh tại Hà Nội và Sài Gòn đã cung cấp những thông tin về quân sự, kinh tế, chính trị ở Việt Nam, tạo cho London một bức tranh chính xác về cuộc chiến đang diễn ra ở đây. Đặc biệt quan trọng là những nhận xét của ông Colvin gửi từ Hà Nội về mâu thuẫn giữa phái chủ chiến thân Bắc Kinh và phái ôn hòa thân Kremlin.

Trong thời kỳ ông John Colvin ở Hà Nội 1966-1967 đã xảy ra một sự kiện mà lẽ ra có thể dẫn cuộc chiến tranh Việt Nam theo một ngả khác. Đó là „Tuần lễ Kosygin“ (Kosygin Week)[2] mà báo chí quốc tế từng nhắc đến.

Thủ tướng Anh nhiệm kỳ 1964-1970, Harold Wilson, một chính khách thuộc Công đảng Anh, muốn hóa giải mối thù địch Việt - Mỹ và kết thúc cuộc chiến bằng đàm phán. Từ năm 1966 ông đã bày tỏ ý đồ này với Tổng thống Mỹ J.B. Johnson. Nhưng quan hệ giữa Johnson và Wilson không nồng thắm, vì Wilson không đồng ý để quân đội Anh dính líu vào cuộc chiến ở Việt Nam (khác hẳn với Úc, New Zealand hay Nam Triều Tiên đã đưa quân sang đó). Thực chất là Wilson không ủng hộ chính sách leo thang chiến tranh của Johnson.[3]  

Một trong những điều cổ vũ Wilson làm việc này là các cuộc ngừng bắn „Tết“ đã được hai bên Việt Cộng và Sài Gòn thực hiện trong những năm qua. Tết Đinh Mùi đầu năm 1967, hai bên cũng thỏa thuận ngừng bắn trong bốn ngày, bắt đầu từ 08.02 (tức 30 Tết) đến hết ngày 12.02 (Mồng Ba tết). Wilson biết trước điều này nên ông dự định sẽ tận dụng không khí hòa hoãn ở chiến trường để thuyết phục thủ tướng Liên Xô  Kosygin ủng hộ sáng kiến của ông trong chuyến thăm London từ 06.02. đến 13.02. 1967. 

Do được Wilson thông báo trước về „Tuần lễ Kosygin“ nên tổng thống Johnson đã cử Chester Cooper, cố vấn anh ninh quốc gia sang London tham dự cuộc đàm phán Xô-Anh. 

Cả Cooper và đại sứ Mỹ tại Anh là David Bruce đều ủng hội sáng kiến ngoại giao của Wilson. Chính Cooper đã giúp Wilson đưa ra thỏa thuận:  Đầu tiên Mỹ sẽ nhân cuộc ngừng bắn này, tiếp tục dừng ném bom miền Bắc Việt Nam sau ngày 12.02 để đổi lại một thỏa thuận ngầm của Hà Nội là sẽ ngừng đưa quân thâm nhập miền Nam. Nếu điều đó xảy ra, Mỹ sẽ không tiếp tục đưa quân sang Việt Nam và cuộc chiến sẽ xuống thang.[4]

Trong phiên đàm phán đầu tiên khi mới đặt chân đến London, Thủ tướng Kosygin không tỏ ra mặn mà với sáng kiến của Anh về Việt Nam. Wilson không bỏ cuộc. Những ngày sau đó, bên cạnh các đàm phán về quan hệ song phương Xô-Anh, vấn đề Việt Nam luôn được đưa vào tâm điểm.

Đến ngày 10.02 thì Kosygin cảm thấy Wilson thật lòng. Hơn nữa vụ ngưng bắn êm đẹp Tết Đinh Mùi khiến ông và điện Kremlin yên tâm. Kosygin đồng ý thúc đẩy Hà Nội chấp nhận thương thuyết chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Ngay lập tức, Kosygin ra lệnh cho các kênh ngoại giao Xô Viết chuyển đề nghị ngừng bắn, gọi là „Thỏa thuận Wilson-Kosygin“ cho Hà Nội. Ngày nay các nguồn tin độc lập của Mỹ xác nhận rằng điều đó đã xảy ra.

Cả Anh và Mỹ đều ngạc nhiên thú vị về thái độ của Kosygin. Đây là lần đầu tiên LIên Xô đảm nhận vai trò tích cực trong việc chấm dứt cuộc chiến này. Đại sứ Mỹ Bruce ca ngợi: Đây sẽ là thắng lợi ngoại giao lớn nhất thế kỷ.

Nhưng không ngờ hai hôm sau chính Nhà Trắng lại gây trở ngại. Tổng thống Johnson cho rằng leo thang ném bom phá hủy các đường mòn sẽ buộc Bắc Việt ngừng đưa quân vào Nam. Ngừng không kích vào lúc này sẽ bất lợi cho phía Mỹ. 

10 giờ đêm ngày 12.02.1967, một ngày trước khi Kosygin rời London, cũng là ngày hết hạn ngừng bắn ở Việt Nam, Johnson gửi điện cho Wilson[5] yêu cầu sửa đổi nội dung thỏa thuận trên thành: Hà Nội phải ngừng thâm nhập vào miền Nam trước, nếu không Mỹ lại tiếp tục ném bom!

Kể cả trong thời đại internet như ngày nay, một quyết định ngoại giao như vậy là quá ngắn ngủi để các bên liên quan ở 4 múi giờ khác nhau có thể phản ứng kịp, chưa kể gì đến các bất đồng.

Cả Cooper và đại sứ Bruce được miêu tả là rất thất vọng, còn Wilson thì vô cùng tức giận với thái độ của Washington.

Có ý kiến cho rằng, thất bại của „Tuần Kosygin“ khiến cuộc chiến Việt Nam tốn thêm rất nhiều máu. Đặc biệt là cuộc tấn công tết Mậu Thân 1968 đã gây tốn thất nặng nề về người và của cho cả hai bên. Phải chăng tổn thất này đã buộc cả hai bên tiến hành hòa đàm Paris vào tháng 5.1968? 

Hay „Tuần Kosygin“ đã đặt những viên gạch đầu tiên cho con đường tới hiệp định Paris?

Là thanh niên mới lớn lên vào năm 1967, nhưng tôi đã biết rõ quyết tâm của Hà Nội nhằm giải quyết cuộc chiến bằng vũ trang. 

Lịch sử đã đi con đường của nó.

Giờ đây, khi đi tìm dấu vết của của người con gái hàng xóm hay gặp khi đổ rác, tôi hiểu rõ hơn vai trò và nỗ lực của nước Anh trong việc chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Tân Quy tháng 3.2021

Tòa Đại sứ Anh ở 16 Lý Thường Kiệt, ảnh do René Guérineau, một nhà ngoại giao Pháp chụp năm 1988.

Bài trước: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/5577933245558036

Bài trên BBC: https://www.facebook.com/BBCnewsVietnamese/posts/4393101724035869

----

[1]John Colvin, “Twice Around the World: Some Memoirs of Diplomatic Life in North Vietnam and Outer Mongolia” London: Leo Cooper, 1991.(Hai lần vòng quanh thế giới: Một số kỷ niệm về cuộc sống ngoại giao ở Bắc Việt Nam và Ngoại Mông)

[2] https://academic.oup.com/.../article.../27/1/113/365033...

[3] https://www.manchesteropenhive.com/.../9781526137203... 

[4] https://www.nytimes.com/.../wilson-says-us-undercut-67...

[5] https://history.state.gov/historicaldo.../frus1964-68v05/d70

Monday, March 29, 2021

Từ „Cô gái đổ rác“ đến những tòa villa bí hiểm

 Tôi mất nhiều công để đọc, tìm tài liệu cho bài này. Lý do chỉ để làm sáng tỏ thêm một số góc khuất của cuộc chiến tranh Đông Dương II. Nếu đọc kỹ cuốn sách của John Colvin sẽ thấy quan hệ của tác giả với đại sứ Liên Xô Sherbakov và cả với Wilson (sách kindle mua ở Amazon). Thời kỳ 1966-1967 cũng chính là lúc vụ án „chống xét lại“ ở Việt Nam nổ ra.

Xung quanh vai trò của Sherbakov ở VN lan truyền khá nhiều đồn đại. Nhưng không có tài liệu chính thống nào của đảng CSVN và đảng CS Liên Xô nói về nó. Hy vọng tới đây các tư liệu liên quan của đảng CS LX sẽ được chính quyền Nga công bố.

Các nhà nghiên cứu sử, hoặc liên đến vụ „Nghị quyết 9“ (Vũ Thư Hiên) có thể nhìn thấy qua tài liệu của Vương quốc Anh những đường dây song song với tình hình ở Việt nam lúc bấy giờ. Tức là mâu thuẫn giữa khuynh hướng muốn dùng vũ lực khuynh hướng muốn giải quyết vấn đề thống nhất bằng hòa bình.

Chỉ có điều người phương Tây vẫn hay đánh giá mọi việc theo logic của họ. Vì thế họ tiếc hùi hụi một tuần đàm phán với Kosygin, coi con cá bị mất là con cá xộp.

(Nguyễn Xuân Thọ)

Hồi ức „Hai Quê Hương“ có kể về một cô gái hàng xóm ở Hà Nội. Đó là „bi kịch“ của một kẻ chỉ vì quan tâm đến „cô bạn đổ rác“ mà rồi dính đến nền chính trị Anh-Việt.

Từ 1957, gia đình tôi ở ngay trong Việt Nam Thông tấn xã, số 5 phố Lý Thường Kiệt, cửa sau là 3 Phan Huy Chú. Do vậy tôi hay la cà ra vào các nhà hàng xóm ở phố Phan Huy Chú. Riêng hai villa số 9 và số 11 thì luôn kín cửa cao tường, là một ẩn số cho dân chúng. 

Trích „Hai Quê Hương“, kể về lúc tôi mười tuổi:

„Nhà số 9 và 11 Phan Huy Chú là hai tòa biệt thự kín cổng cao tường. Tôi hay thấy một ông Tây ra vào đó trên chiếc xe Ford. Ba tôi bảo đó là một kiều dân Anh, hưởng quy chế đặc biệt, chứ Việt Nam không có quan hệ gì với Anh. Cán bộ Việt Nam muốn sang Hong Kong để lo các vấn đề liên quan đến ngoại tệ mạnh và hàng hóa tư bản phải đến ông xin visa…

…Từ trong nhà số 9 bí hiểm đó thỉnh thoảng có mấy đứa trẻ cùng tuổi ra phố chơi. Đó là con cái của một gia đình người Việt giúp việc cho ông người  Anh. Có lúc tôi đi một mình bị chúng xúm lại bắt nạt. 

Rồi có lần tôi gặp một con bé gầy gò trong đám đó đang chơi một mình trước cửa nhà. Một chọi một tất nhiên con gái sẽ yếu thế, thế là nó rủ tôi chơi “Ô ăn quan”.  Tôi bảo: 

-Đó là trò con gái, tớ không thích. Mà sao hôm nọ đằng ấy gấu thế! 

Con bé cười bẽn lẽn làm lành. Tôi mở cặp khoe quyển tranh chuyện Liên Xô mà cô Thanh Thanh mang ở Nga về. Con bé thích lắm. Nó bảo:

-Trong nhà tớ có nhiều chuyện tranh của Ăng-lê, cũng hay lắm. Hôm nào tớ cho xem.

Nói thế nhưng chưa bao giờ tôi được nó cho xem tranh chuyện Ăng-Lê. Tôi tò mò nhưng chẳng bao giờ được nó cho vào chơi trong cái sân rợp bóng cây, suốt ngày cửa đóng then cài đó.“ 

(Hết trích)

Ảnh tòa Tổng lãnh sự Anh trong sách của ông John Colvin 

Mười năm sau - Năm 1971 tôi học nghề ở Đức về thì gia đình tôi không còn ở số 3 Phan Huy Chú nữa. Ba má tôi dọn sang nhà 14 Lý Thường Kiệt từ 1969 và như có duyên số, lại ngay bên cạnh tòa Tổng Lãnh sự Anh ở số nhà 16.

Trích „Hai Quê Hương"

…“ Năm 1963 lãnh sự Anh chuyển nhà riêng từ 9 Phan Huy Chú sang 15 Phan Chu Trinh, còn Lãnh sự quán chuyển từ số 11 Phan Huy Chú sang 16 Lý Thường Kiệt. Năm 1973 Anh đã thiết lập quan hệ ngoại giao và cử đại sứ sang Việt Nam. Đại sứ quán Anh với thâm niên lâu đời ở Hà Nội[1] trở thành tâm điểm của giới ngoại giao phương Tây… 

….Một hôm đi đổ rác, tôi nhận ra cô gái gầy gò ngày xưa ở số 9 Phan Huy Chú năm nào cũng mang rác từ trong Đại sứ quán ra đổ. Cô vẫn còn nợ tôi mấy quyển chuyện tranh của Anh. Giờ mới biết tên cô là Hương. Hương nay đã là một cô gái xinh đẹp, trưởng thành. Chúng tôi thấy thích nói chuyện với nhau. Vậy là chiều chiều, nghe tiếng gõ leng keng của xe rác là tôi giành lấy cái sọt rác mang đi đổ để gặp Hương.  Đó là cơ hội duy nhất để gặp nhau, vì sứ quán được canh gác cẩn mật đối với người Việt...

...Một hôm, anh Thấu trong xóm nói với má con tôi: Chú Thọ với cô Hương dạo này kết nhau nhỉ?

Má bĩu môi phán một câu xanh rờn: Úi trời, cái „mối tình đổ rác“ ấy mà, có gì đâu anh Thấu! 

Thì ra Má biết hết và bà không ủng hộ vụ đó. Vì chính quyền luôn phổ biến cho dân chúng ở đây: “Sứ quán Anh là khu vực cần phải cảnh giác” nên có thể má không thích bất cứ gì dính đến “Yếu tố phương tây”. Tôi phải nói cho má yên tâm rằng chúng tôi chỉ là bạn.

(Hết trích)

Để tìm hiểu tại sao gia đình „Cô gái đổ rác“ sống trong ngôi nhà Ăng-Lê, tôi đã lần mò tìm tài liệu về quan hệ Anh-Việt từ 1955.

Điều đầu tiên tôi khám phá ra là những ông Tây ở trong hai tòa nhà bí hiểm số 9 và 11 Phan Huy Chú không chỉ là kiều dân Anh đặc biệt được ủy quyền lo về các mối quan hệ Việt Nam-Hong Kong như Ba tôi nói. Họ là đại diện chính thức của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ai-len tại Hà Nội.

Sau 1955, Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa chỉ được 11 nước XHCN và một vài nước thế giới thứ 3 như Ấn Độ, AI Cập, Indonexia (Nam-Dương)…công nhận. Toàn bộ phương Tây và phần lớn các nước thế giới thứ ba công nhận chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Đa số Đại sứ quán các nước đặt tại Sài Gòn. Vai trò Việt Nam tại LHQ và các tổ chức quốc tế khác cũng do miền Nam đảm nhiệm.

Ví dụ: Trong khi Canada có tòa đại sứ tại Sài Gòn thì họ chỉ có một phái bộ trong „Ủy ban giám sát hiệp định Geneve“ ở Hà Nội. Phái đoàn Canada đóng ở số 2 Phạm Sứ Mạnh hoàn toàn không có vai trò ngoại giao và trách nhiệm lãnh sự. 

Pháp và Anh là hai nước phương Tây duy nhất có đại diện ngoại giao tại Hà Nội, nhưng chỉ ở cấp thấp, còn Đại sứ đều ở Sài Gòn.

Phái đoàn Pháp đóng tại tòa nhà Sainteny ở ngã tư Bà Triệu - Trần Hưng Đạo là cơ quan đại diện cho ông chủ thuộc địa bị thất thế, nay phải xử lý rất nhiều quan hệ nhằng nhịt do 80 năm để lại. Từ lương hưu của công chức cũ, đến số phận của các tù, hàng binh còn lại ở miền Bắc. Nhiều kiều dân Pháp cũng ở lại do hôn nhân với người Việt… 

Tên chính thức của cơ quan này là „Phái đoàn đại diện của chính phủ CH Pháp“ (Délégation générale du gouvernement de la République Française)[2]

Sau khi bom Mỹ ném vào nhà Sainteny tháng 11.1972, giết chết ông Pierre Sussini, Tổng đại diện Pháp (Délégué général) thì nhiều người Việt mới biết đến vai trò của tòa nhà này. Trước đó người ta chỉ thấy một khu nhà im lìm sau các bức tường gạch trắng với cái biển “Bất động sản của chính phủ Pháp” (Propriétaire du gouvernement français).

Nước Anh hầu như không dính líu đến cuộc chiến tranh Việt Nam, lại không công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Vậy mà họ vẫn có Tổng lãnh sự quán đóng tại số 11 Phan Huy Chú. Nhà số 9 là nhà riêng của Tổng lãnh sự.  Đây là quốc gia Tây phương duy nhất có tòa Tổng lãnh sự tại Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa từ 1955. 

Nước Anh có "Đặc quyền“ này vì cùng với Liên Xô giữ vai trò đồng chủ tịch Hội nghị Genève 1954 về Đông Dương. Do đó Tổng lãnh sự quán Anh tại Hà Nội ngoài một vài công việc lãnh sự như thỉnh thoảng cấp visa cho người Việt đi Hong Kong hoặc sang Anh thì nhiệm vụ chính là phối hợp với các nước hữu quan (Liên Xô, Canada, Ấn Độ và Ba-Lan)[3] trong việc giám sát thi hành hiệp định Genève. Cấp trên trực tiếp của nó là tòa đại sứ trong Sài-Gòn.

Khám phá này đưa tôi đến những bất ngờ mới.

Tân Quy cuối tháng Ba 2021

 (Còn tiếp)

[1] Chỉ Anh và Pháp có đại diện ở Hà Nội từ 1955. Thụy Điển đặt tòa đại sứ năm 1969. Sau Hiệp định Paris 1973 các nước phương Tây khác mới có ĐSQ ở Hà Nội.

[2] https://vn.ambafrance.org/Lich-su-tru-so-%C4%90ai-su-quan...

[3] Ủy ban quốc tế giám sát thi hành hiệp định Geneve 1954 bao gồm: Canada đại diện cho phương Tây, Ấn Độ đại diện cho các nước không liên kết và Ba-Lan đại diện các nước XHCN.