Thursday, December 7, 2023

Câu chuyện của cò

 SUY NGHĨ VỀ MỘT BÀI CA DAO VÀ THÁI ĐỘ CỦA NGƯỜI DÂN TRƯỚC THỜI CUỘC

Hồi còn nhỏ tôi được học một bài ca dao:

'' Con cò đậu ở bờ tre,

Thằng Tây nó bắn cò què một chân.

Mai cò ra chợ Đồng Xuân,

Chú khách mới hỏi sao chân cò què.

Cò rằng tôi đứng bờ tre,

Thằng tây nó bắn tôi què một chân''

Bài ca dao này cứ ám ảnh tôi mãi, không phải vì nó có nội dung hay nghệ thuật đặc sắc gì mà vì thông điệp không rõ ràng của nó đối với người đọc. Tôi nhớ sách giáo khoa (không nhớ rõ lớp nào và năm nào) có giải thích: - qua nhân vật con cò tố cáo tội ác của giặc Pháp!

Tuy nhiên, ''con cò'' ở đây không hề có thái độ thù hằn gì "Thằng tây'' cả, thậm chí, cũng không thực sự đau buồn hay giận dữ!. Đổi lại, thái độ của ''cò'' hoàn toàn dửng dưng: ''- cò rằng tôi đứng bờ tre/ thằng tây nó bắn tôi què một chân''! Hết!

Thái độ dửng dưng này là một dấu hỏi lớn trong tâm trí tôi suốt thời đi học. Sau này được tiếp cận một khối lượng lớn thông tin và qua suy xét của bản thân tôi dần dần nghiệm ra ý tứ sâu xa mà tác giả vô danh muốn gửi tới người đọc.

Bài ca dao trên gắn với một giai đoạn đau buồn trong lịch sử dân tộc, đó là khi thực dân Pháp xâm lược nước ta vào cuối thế kỷ XIX.

Xem lại lịch sử giai đoạn này, ngoài quyết tâm đánh pháp của Trương Công Định và các văn thân, sỹ phu với nhưng tấm gương hy sinh anh dũng (thực ra cả Triều đình Nhà Nguyễn cũng quyết tâm đánh Pháp) còn có các sự kiện khác mà người Việt Nam có lương tri nào khi xem lại cũng cảm thấy xấu hổ.

Chỉ có 120 binh lính Pháp do một đại úy chỉ huy cộng với vài chục lính mộ người Việt và người một số nước Châu Á khác đi theo hỗ trợ(10 người âu, 30 người châu á, 150 lính mộ Vân Nam) cùng với 08 khẩu pháo mà hạ thành Hà Nội do một vị đại tướng của Việt Nam chỉ huy với 7 ngàn quân, chỉ trong nháy mắt! (chưa đến 1 tiếng đồng hồ trong ngày 20/11/1873)

Đại úy Garnier yêu cầu nộp thành, ta không theo. Y ra lệnh công thành. Nên nhớ, quân ta đông gấp vài chục lần quân Pháp, lại là một dân tộc văn minh chứ không còn ở giai đoạn bán khai như người da đen ở châu Phi hay còn dùng công cụ đồ đá như người Azteca ở Mexico. Nếu xáp chiến thì chỉ cần dùng quả đấm cũng có thể đè bẹp quân Pháp. Nên nhớ vũ khí thời đó của quân Pháp cũng khá thô sơ. Tiếc thay, chỉ vài loạt đạn của quân Pháp quân ta vứt súng chạy như vịt còn trơ lại vị Tổng đốc bị thương. Con trai Cụ là Nguyễn Lân cũng bị bắn chết.

Các sự khiện tiếp theo còn bi thảm hơn. Ngày 05/12/1873, chỉ có 7 lính Pháp và 2 lính mộ đi ca nô đến thành Ninh Bình bắt quan tuần phủ và hạ thành; lúc đó trong thành có 1700 quân trấn giữ. Chỉ có 50 lính pháp và một số lính mộ tấn công thành Nam Định có hàng ngàn quân. Việc quân Pháp dùng ngay các thanh chướng ngại làm thang leo lên mặt thành cũng đủ thấy sức kháng cự của quân ta không đáng kể. Thành Hải Dương còn thất thủ một cách khôi hài hơn. Chỉ có hơn hai chục lính pháp tấn công thành; táo tợn đến mức đu người lên cánh cửa để nhòm vào trong thành. Sau vài loạt đạn, lãnh binh Vi Văn Đông vội vàng bỏ trốn, quan binh thấy thế cũng trốn sạch. Quân Pháp phá cổng vào thành, thành mất.

Tại sao một dân tộc đã từng đánh thắng hàng vạn quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh lại bạc nhược như vậy. Cũng vẫn dân tộc ấy thôi 80 năm sau, bằng vũ khí cũng kém hơn đã đánh bại chính đế quốc pháp trang bị tối tân hơn nhiều?!

Nhiều người cho rằng ta thua Pháp vì súng đạn ta không bằng Pháp. Điều đó không sai nhưng thực ra không hoàn toàn đúng. Súng đạn của quân Nhà Nguyễn cũng được nhập từ phương Tây và chỉ thua súng đạn của pháp một thế hệ. Thậm chí bằng lò rèn thủ công mà ông Cao Thắng ở núi rừng Vụ Quang còn chế tạo được gần giống súng của Pháp.

Ta thua pháp về tổ chức chiến tranh nhưng điều này có thể học hỏi và thay đổi được vì cuộc chiến tranh pháp - việt kéo dài 30 năm (1859 - 1888).

Nguyên nhân lớn nhất dẫn đến thất bại của người Việt Nam chính là sự thờ ơ của đa số người dân trước thời cuộc, trước vận mệnh của đất nước.

Trở lại bài ca dao, người dân ở đây được hình tượng hoá ở hình ảnh con cò. Cò ta đứng ở bờ tre để xem quan quân triều đình đánh nhau với Tây. Cò dửng dưng như người ngoài cuộc đứng xem một việc không liên quan đến mình. Không may ''thằng Tây'' nó bắn phải ''cò'', thế thôi!

Người dân dửng dưng trước thời cuộc, trước nguy cơ mất nước vì xã hội Việt Nam đã chia rẽ sâu sắc. Nguyễn Hàn Ninh có bài thơ vịnh đèn kéo quân rất hay nói lên thực trạng của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là:

'' Một lũ ăn mày, một lũ quan/

Quanh đi quẩn lại chỉ một đoàn''

Thân phận người lính cũng vậy:

''ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan/ 

đẽo tre đẵn gỗ trên ngàn...''.

Các quan chỉ coi lính như lũ người hầu, làm việc không công: ''nước sông công lính''. Ngay các quan cũng chẳng quan tâm gì đến việc luyện tập, võ bị. Lực lượng vũ trang bị coi thường:

''Văn thì thất phẩm đã sang/ 

võ thì tứ phẩm còn mang gươm hầu''.

Tựu trung, quan lại là lũ người chỉ nghĩ đến mình, ra tay vơ vét, chiếm đoạt. Người dân đã nhìn rõ thực trạng này về hàng ngũ công chức bất tài, vô hạnh này:

''Khi bình làm hại dân ta/ 

Túi tham vơ vét chẳng tha thứ gì/

Đến khi hoạn nạn lâm nguy/ 

Mặt trông lơ láo, chân đi tập tềnh!''

rồi:

'' đồn rằng quan tướng có danh/ 

Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai''

Ông Ích Khiêm phải kêu lên:

'' Áo chúa cơm vua hưởng bấy lâu/ Đến khi đánh giặc phải nhờ Tầu...''

Trong tình hình quan chức như vậy, người dân vừa khinh vừa ghét. ''Cò'' không nói ra nhưng có khi còn hả hê trưóc cảnh quan quân bị Tây bắn, chạy như vịt: 

''- Cho chúng mày chết!''

Một dân tộc đã chia rẽ như vậy thì mất nước là tất yếu!

Khác hẳn 600 năm trước khi giặc mạnh phương Bắc lăm le cướp nước, chính quyền đã mở hội nghị Diên Hồng để tạo sự đồng thuận toàn dân; mở hội nghị Bình Than để thống nhất ý chí của quý tộc.

Điều đó cho thấy, đối diện với nguy cơ mất nước càng cần đối thoại để thống nhấ ý chí. Muốn có đối thoại cần có sự tôn trọng lẫn nhau giữa các chủ thể trong xã hội. Điều này Nhà Nguyễn đã không làm được. Những vị vua dốt nát, yếu đuối và đội ngũ quan lại tham nhũng, bất tài, mua quan bán tước của nhà Nguyễn không thể nào trở thành hạt nhân đoàn kết dân tộc được nữa. Họ không làm được điều các quý tộc nhà Trần đã làm. Quý tộc Nhà Trần là những anh hùng, hào kiệt, con cháu của những người bình dân chài lưới mới chiếm được chính quyền từ tay Nhà Lý rệu rã bằng võ công và trí tuệ.

Giữa những trang hào kiệt:

'' Một gánh càn khôn quẩy xuống ngàn/ 

Hỏi rằng chi đó bảo rằng than!”

và lũ công chức tham nhũng, bạc nhược là khoảng cách rất xa về chất người.

Chúng ta vẫn có thể thua Pháp vì trình độ phát triển của họ lúc bấy giờ hơn hẳn ta nhưng thua như kiểu vua quan nhà Nguyễn là một nỗi nhục lớn lao mà không nên quên. Bởi vì nếu quên, nếu cố tình không sòng phẳng với lịch sử có thể dân tộc Việt Nam lại lặp lại sai lầm tương tự trong tương lai./. 

---------------------

St: GÓC NHÌN AN NAM

Wednesday, December 6, 2023

Câu chuyện trong mùa vọng Giáng Sinh

 Nguyễn Thị Hồng Ân

(Bài viết cách đây mấy năm,xin chia sẻ lại ở TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM. Chuyện thật không thêm bớt. Mong gởi bạn đọc chút niềm vui khi đến Mùa Giáng Sinh.)

Tên nghe ngộ, giống như cháu gái này là con cầu con khẩn. Hồng ân là ơn trên ban cho mình. Có thể là một ước nguyện đã thành theo ý nghĩ của người công giáo. Năm nay chắc cháu khoảng 18 tuổi và có một tương lai phía trước.

Cha của cháu là bạn thân với tui. Thời gian này tui đang ở nước Nhật . Nghề của tui là mua các đồ điện tử cũ về tân trang rồi bán lại cho các thủy thủ ngoài các bến cảng ở Tokyo và Yokohama. Còn nghề của cha cháu : anh K, là mua những máy móc công nghiệp cũ và bỏ vào thùng container, đem về VN bán lại. Cùng nghề đi kiếm đồ cũ nên tụi tui hay liên lạc để giúp nhau khi cần thiết. Thí dụ đi đâu gặp hàng hoá  thì thông báo cho nhau chẳng hạn.

Công việc của K cần một bãi đất rộng với các loại xe nâng lớn và cần cẩu mới đem các máy móc nặng vài tấn lên xuống hoặc đóng thùng được . Do đó vốn liếng phải nhiều, bãi đất rộng nên tiền thuê cũng tốn kém. Sở hụi mỗi tháng khoảng năm ngàn đô, nếu kiếm dưới số đó là phá sản. Còn việc của tui không cần vốn liếng cũng như các phương tiện nhiều nên đỡ lo nghĩ hơn. Chúng tôi hay gặp nhau mỗi tháng ở nhà thờ. Có một cộng đoàn giáo dân người Việt và linh mục Việt. Nhưng vị linh mục này phải đi dâng thánh lễ nhiều tỉnh, một tháng mới trở lại Yokohama một lần. Sau thánh lễ chúng tôi hay làm một tiệc nhỏ cùng ăn với linh mục rồi chia tay.

Khoảng năm 2003, công việc của Khôi có vẻ sa sút. Hàng bán về VN không lấy được tiền vì bị ... gối đầu nhiều. Có nhiều tháng ảnh không có thu nhập nhưng vẫn phải thanh toán mọi chi phí cho sinh hoạt gia đình ( rất mắc mỏ )và cho  bãi đồ cũ. Anh rất muốn sang lại cho ai đó để nghỉ nhưng không sang được, do đó cứ phải trả tiền thuê hàng tháng. Kiệt quệ. Anh phải tạm nghỉ nghề để xin vô hãng làm có đồng lương. Người vợ, đang nuôi hai con nhỏ, cũng phải xin gởi con để đi làm.

Giữa lúc khổ sở đó thì vợ K báo tin có.... bầu cháu thứ ba. Hai cháu trước chị ấy sanh phải mổ. Lần này đi khám, bác sĩ e ngại và khuyên không nên có thêm con, nguy hiểm cho mẹ và cả cho con. Có nghĩa là phải phá .... Hai vợ chồng bàn bạc rất lâu nhưng không đưa ra được quyết định. K mang chuyện của mình để hỏi vị linh mục xin ý kiến. Vị này nói trường hợp này không có tội lỗi nếu phải bỏ đứa con. Cả cộng đoàn ai cũng biết chuyện này nhưng không ai dám đưa ý kiến. Cuối cùng K nhất định giữ thai và vợ cũng đồng ý. Anh nói luôn tin vào sự sắp đặt của Thiên Chúa.

 Bệnh viện ...hết hồn, đón vợ K vào nằm viện từ tháng thứ năm để theo dõi. Bác sĩ nói hai vết mổ lần trước có nguy cơ rách nếu đầu của cháu bé xoay sao đó. Ai cũng hồi hộp. Chỉ còn biết dâng lời cầu nguyện.

Khỏi nói, lúc này K bi đát, tiền bạc không có. Lớp đi làm, lo trông coi hai cháu lớn,lo vào bệnh viện thăm vợ. Một tương lai phá sản không tránh khỏi . Bệnh viện họ có cách làm thai không quá lớn và đội ngũ bác sĩ thăm nom cẩn thận, báo chí cũng vào cuộc.

Cuối cùng vợ K cũng sanh cháu bé bình an. Ai cũng mừng rỡ. K đặt tên cháu là Hồng Ân là vậy. Ngày cháu chào đời ngập tràn hoa, hoa cho người mẹ dũng cảm, cho người cha luôn tin vào Thánh Linh, cho các bác sĩ , y tá tận tụy. Chúng tôi đã có một lễ mừng đầy tháng thật trang trọng và một tiệc nhậu tới bến.

Nhưng khó khăn về kinh tế của K vẫn còn đó. Giờ làm sao để nuôi một vợ ba con với một business sắp phá sản. Ảnh ít tuổi hơn tui nhưng tóc đã bạc màu.

Năm đó, internet đã phát triển, khách hàng mua đồ cũ có thể ngồi ở VN mà đấu giá được. Tuy nhiên cái bước chuyển hàng về VN rất khó vì người bán không bao shipping. Các bến bãi của người Việt rất nhiều nhưng họ không làm dịch vụ đó nếu không mua hàng của họ. May sao bãi của K không còn buôn bán nên anh có thể làm dịch vụ này được. Nghĩa là khi khách hàng VN mua được món hàng ở đâu đó, K sẽ đến chở về bãi của mình và tháo ráp, chuyển về VN. K chỉ lấy tiền công. Công việc dần ổn định, anh bắt đầu có thu nhập. Bây giờ tuy không gọi là giàu có nhưng cuộc sống không phải lo nghĩ. Tui cứ nói đùa : Trời sanh voi thì phải cho... cỏ chớ!

Trong cuộc đời mà tui trải qua, nhân quả là điều có thật. Nếu ai nói một vợ hai con cùng chuyện làm ăn đang thất bát thì bỏ đứa thứ ba là điều hợp lý, nhất là nó còn có thể làm người mẹ mất mạng. Nhưng rồi cái tình thương cũng như tôn giáo nó khiến con người ta chấp nhận nói hai tiếng : xin vâng. Chấp nhận mọi sự sắp đặt của Thượng Đế. Trời sinh rồi Trời dưỡng. Ấy vậy rồi cũng xong. Cháu Hồng Ân sẽ có chồng, sẽ sinh ra nhiều cháu khác... 

Trong mùa vọng Giáng Sinh, tui muốn chia sẻ với bà con một chuyện có thật trong tinh thần khiêm nhường: Tất cả theo thánh ý Chúa .( và tôn giáo khác cũng vậy, tôn giáo nào cũng có một đấng trên cao. ) Sống bằng tình thương yêu sẽ cảm thấy dễ chịu. Còn chuyện làm ăn, tiền bạc....Để giữ nó , một phần cũng phải có "ơn trên". Tui tin vậy!

Jimmy Nguyen Nguyen (Trang Văn Chương Miền Nam)

Tuesday, December 5, 2023

Chủ điểm Đàn ông & Đàn bà: Létezik vagy nem?

 Ham muốn, chiếm hữu, hôn nhân và tình yêu

Theo Krishnamurti, tình yêu xuất hiện từ sự thấu hiểu về các mối quan hệ. Sự sùng bái, hiến dâng không phải là tình yêu mà là một hình thức mở rộng cho cái tôi. 

Tình yêu là một trạng thái vắng mặt cái tôi và sự kết án, tình yêu không kết luận rằng tình dục là đúng hay sai. Khi tồn tại tình yêu thì tình dục không phải là một vấn đề, sự thiếu thốn tình yêu mới khiến nó trở thành một vấn đề. 

Ham muốn không phải là tình yêu. Ham muốn dẫn đến sự thỏa mãn, hoặc ham muốn chính là sự thỏa mãn. 

Khi bạn chiếm hữu một con người và từ đó tạo ra một xã hội ủng hộ việc chiếm hữu con người, thì đó đâu phải là tình yêu. Nơi nào đã chất chứa sự ghen tỵ, nỗi sợ hãi, thói chiếm hữu thì nơi đó không có tình yêu.

Cuộc sống của chúng ta bị cơ thể và tâm trí thống trị. Chúng ta không yêu thương, mà chúng ta thèm khát được yêu thương; chúng ta cho đi để được nhận lại, tức là tâm trí ta đang cho đi còn con tim ta thì không. Bản năng của tâm trí là tìm kiếm sự thỏa mãn. tình yêu không bao giờ xuất phát từ tâm trí. 

Cái mà chúng ta gọi là tình yêu, hóa ra lại là tâm trí. Chúng ta lấp đầy con tim mình bằng những thứ thuộc về tâm trí và do đó trái tim ta thật ra trống rỗng và khô cằn, bởi tâm trí thì không khi nào thôi bám víu, đố kỵ, kìm giữ và hủy hoại. 

“Khi bạn tận dụng tôi như một bậc thầy tâm linh và tôi tận dụng bạn như một môn đệ, đây chính là sự khai thác lẫn nhau.” – Krishnamurti phân tích – “Tương tự, việc bạn tận dụng vợ con bạn để trục lợi cho bản thân cũng là một sự khai thác, khi đó chắc chắn không tồn tại tình yêu. Sự tận dụng song hành cùng sự chiếm hữu, nuôi dưỡng nỗi sợ hãi và đưa đường dẫn lối cho sự đố kỵ, ghen tuông, hoài nghi”.

Nơi nào có sự chiếm hữu thì nơi đó không bao giờ tồn tại tình yêu thương. Nơi nào có sự ràng buộc, nơi đó có nỗi sợ hãi, không có tình yêu. 

Khi không có tình yêu thì khuôn vàng thước ngọc của hôn nhân trở nên cần thiết. Không có tình yêu, sự hài lòng trong mối quan hệ nhanh chóng dẫn đến sự chán nản và lối mòn của thói quen, với tất cả những hệ quả của nó. 

Hôn nhân mà không có tình yêu, chỉ vì sự thỏa mãn đơn thuần, thì thật đáng hổ thẹn. 

Tình yêu chỉ xuất hiện và tồn tại khi cái tôi vắng mặt. 

Khi biết cách yêu một người, bạn biết cách yêu mọi người và cả thế giới. Dù bạn không nói: “Tôi yêu cả thế giới” nhưng khi biết cách yêu một người, bạn cũng biết cách yêu mọi người và yêu thương thế giới.

copy từ First News Trí Việt

Monday, December 4, 2023

Hy vọng

 ĐÂY CHÍNH LÀ ĐIỀU KHIẾN CON NGƯỜI CẢ ĐỜI KHÔNG BAO GIỜ GẶP CHUYỆN VỪA Ý

Bạn có bao giờ nghĩ tại sao mình luôn gặp phải những chuyện phiền hà, bực dọc trong đời? Đó là vì bản thân chưa đủ những điều này!

1. Không đủ tu dưỡng

Tô Đông Pha là một thi nhân nổi tiếng thời Tống, được hậu thế xưng tụng là “Đường Tống bát đại gia” (8 đại gia văn học lớn thời Đường Tống). Ông có tài nhưng đôi khi cũng khá kiêu ngạo. Một hôm, Tô Đông Pha lên chùa, ngồi thiền cùng một lão tăng.

Một lúc sau, ông mở mắt ra hỏi: “Ngài thấy dáng ngồi thiền của tôi ra sao?“.

Lão tăng nhìn khắp một lượt rồi gật đầu khen ngợi: “Trông giống như một vị Phật vậy, cao quý và trang nghiêm“. Tô Đông Pha nghe thấy rất cao hứng.

Lão tăng lại hỏi: “Thế ngài nhìn tôi ngồi ra sao?“.

Vốn thích hay trêu chọc người khác, Tô Đông Pha nghĩ ngợi một lát rồi đáp: “Tôi nhìn thấy ngài quả giống như một đống phân bò“.

Lão tăng nghe xong ngửa mặt lên trời cười, cũng không phản bác lại gì. Về nhà Tô Đông Pha hào hứng đem câu chuyện kia kể lại với em gái Tô Tiểu Muội của mình. Không ngờ nghe xong, Tô Tiểu Muội phá lên cười, cho rằng anh trai mình thật ngốc nghếch.

Đông Pha không hiểu chuyện, liền gặng hỏi. Tô Tiểu Muội đáp: “Lão tăng ấy có tâm Phật nên mới nhìn huynh giống như Phật. Còn trong tâm huynh lại có đầy phân bò, rác bẩn nên mới nói lão tăng như vậy đó!“.

Đây chẳng phải chính là câu chuyện về cảnh giới tu dưỡng tâm hồn hay sao? Người đức cao vọng trọng thì trong tâm chứa đầy thiện tâm, từ câu nói, ánh nhìn đều toát ra vẻ thuần thiện, mỹ hảo, nhìn người khác đều bằng một lòng từ bi, hoà ái, trông thấy ai cũng giống như Phật, đều nhìn ra vẻ thánh thiện của người ta.

Còn người tu dưỡng không đủ, cảnh giới tinh thần thấp thì trong tâm chứa đầy rác của lòng đố kỵ, tâm oán ghét, thói tự phụ, sự khoe khoang, một khi nhìn người khác thì chỉ thấy cái xấu xa, thấp hèn, đáng phê phán, nhìn bằng một tâm đố kỵ dâng đầy.

Tâm thái của bạn như thế nào sẽ quyết định cách bạn đối nhân xử thế ra sao. Chỉ trích người khác, soi mói cuộc sống của người xung quanh kỳ thực thường là do sự tu dưỡng của bản thân không đủ.

Sở dĩ gặp quá nhiều điều không thuận mắt không phải là vì người ta bị ghét bỏ, mà chính bởi thái độ đối nhân xử thế của họ có vấn đề.

2. Không đủ tầm nhìn

Con ếch suốt đời chỉ ngồi đáy giếng, khoảng trời của nó chỉ nhỏ con con đúng bằng miệng giếng. Bảo nó rằng vũ trụ này bao la ra sao, có biết bao tinh tú thế nào, nó thực chẳng tin, còn cho là người ta nói chuyện viển vông, nhăng cuội.

Thấy người khác không thuận mắt kỳ thực chính là bản thân mình đang sống như ếch ngồi đáy giếng. Vì hiểu biết và tầm nhìn của cá nhân bị giới hạn nên tư duy cũng nhỏ hẹp, không thoát khỏi lớp vỏ do chính mình tạo ra.

Những người này hàng ngày chỉ thích quan sát cuộc sống của người khác, bình phẩm này nọ, bàn ra tán vào. Họ dùng tiêu chuẩn của cá nhân, quan điểm của bản thân mà đánh giá người khác. Kỳ thực làm sao mà đánh giá được đây?

Rất nhiều người bản thân đã không biết cố gắng, lại mang lòng ghét bỏ, oán hận khi thấy người khác quá nỗ lực, chế giễu người khác là kẻ ngốc chỉ biết vùi đầu làm việc, không hiểu cách hưởng thụ cuộc sống.

Lại có người cả cuộc đời ngồi rỗi, ăn không mà cứ thấy gai mắt khi nhìn thấy người khác dốc sức phấn đấu. Bản thân không đạt được còn muốn ngăn trở người khác giành lấy.

Rất nhiều chuyện không thuận mắt, kỳ thực xét tới tận cùng vẫn là vì cảnh giới nhận thức của bản thân còn thấp, kiến giải chưa nhiều.

3. Không đủ bao dung

Khi không đủ thiện tâm, bao dung, người ta nhìn gì cũng chẳng thấy vui. Chính là “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Nguyễn Du), cũng lại là “Tướng tuỳ tâm sinh, cảnh tuỳ tâm chuyển” (Tướng mạo do tâm mà sinh ra, cảnh vật do lòng người mà thay đổi).

Nhìn một người không thuận mắt, thì người thấy khó chịu lại chính là bản thân mình. Không bao dung cho người hoá ra chính là không thể từ bi với bản thân, không cho bản thân một lối thoát.

Mỗi người có một cuộc đời, số phận đã được định mệnh an bài sẵn. Tiền tài, danh vọng, quyền lực… không phải do tranh giành mà có được, nếu có được cũng chẳng lâu bền. Phúc phận của người ta được quyết định bởi cách sống và thái độ ứng xử trên đời. Sống tốt thì có phúc báo, bao dung, lấy thiện đãi người thì ắt được thanh thản, thoải mái.

Không vừa mắt với người khác chính là do thấy họ khác mình quá xa, có thể hơn, có thể kém mình. Nhưng kỳ thực, mỗi người sinh ra đều có một cuộc đời khác biệt nhau từ đầu. Mọi sự khác biệt đều có thể bao dung, đều có thể dùng lòng từ bi mà dung chứa, đó mới là cảnh giới cao nhất của đạo làm người.

4. Phúc đức đến từ thiện lương

Walter Salles là đạo diễn phim nổi tiếng người Brazil. Trong một lần chuẩn bị cho bộ phim mới của mình, Walter đã tới vùng ngoại ô ở phía Tây thành phố. Và tại đây, khi đứng trên quảng trường trước nhà ga thì ông gặp một cậu bé đánh giày khoảng hơn 10 tuổi.

Cậu bé hỏi: “Thưa ông, ông có muốn đánh giày không ạ?”

Walter cúi đầu nhìn đôi giày da bóng loáng dưới chân mình rồi lắc đầu từ chối. Khi ông vừa quay người bước đi thì đột nhiên cậu bé gọi từ phía sau. Khuôn mặt cậu bé đỏ ửng, ánh mắt nhìn ông như đang van nài: “Ông ơi, cả ngày hôm nay cháu chưa được ăn gì cả, ông có thể cho cháu mượn chút tiền không ạ? Từ ngày mai cháu sẽ đánh giày chăm chỉ hơn, đảm bảo là sau một tuần cháu sẽ trả lại tiền cho ông!”

Walter động lòng trắc ẩn, ông bèn lấy ra vài đồng xu đặt vào tay cậu bé. Cậu bé rối rít nói lời cảm ơn rồi chạy vụt đi.

Walter lắc đầu, những đứa trẻ sành sỏi sự đời như thế ông đã gặp nhiều rồi. Và rồi ông lại cuốn vào vòng xoáy bận rộn với bộ phim mới nên cũng quên luôn chuyện cậu bé mượn tiền.

Bẵng đi một thời gian, ông lại có dịp đi qua nhà ga ở ngoại ô phía Tây thành phố. Bỗng nhiên một bóng dáng gầy guộc và nhỏ bé vẫy gọi ông từ xa: “Ông ơi, ông đợi một chút ạ!”

Tới khi cậu bé mồ hôi nhễ nhại chạy đến đưa cho ông vài đồng xu thì Walter mới nhận ra đó là cậu bé đánh giày ngày nào.

Cậu bé thở hổn hển: “Ông ơi, cháu đợi ông ở đây lâu lắm rồi, hôm nay cuối cùng cháu cũng trả lại tiền cho ông!”

Walter cầm đồng xu ướt nhẹp mồ hôi, đột nhiên trong lòng ông trào lên một luồng hơi ấm áp. Ông đặt các đồng xu vào tay cậu bé, cười và nói với cậu rằng: “Ngày mai cháu tới văn phòng công ty điện ảnh ở trung tâm thành phố tìm ông nhé, ông sẽ dành cho cháu một điều bất ngờ”.

Hôm sau, nhân viên công ty điện ảnh nói với Walter rằng trước cửa có một vài đứa trẻ mặc quần áo rách rưới đang đứng đợi. Cậu bé đánh giày nhìn thấy Walter bèn chạy đến và vui vẻ thưa rằng: “Thưa ông, các bạn ấy đều mồ côi lưu lạc giống như cháu, các bạn ấy cũng hy vọng có được niềm vui bất ngờ ạ!”

Walter không thể ngờ rằng một đứa bé vô gia cư nghèo khó lại lương thiện đến thế. Vì vậy ông đã quyết định chọn cậu bé đánh giày làm diễn viên chính trong bộ phim mới của mình. Ông đã giải thích lý do cậu được miễn thi tuyển như sau: “Vì sự lương thiện của mình, cháu không cần phải thi sát hạch!”

Tony Buổi Sáng Fan Club

Nguồn: st

Sunday, December 3, 2023

Rượu đỏ

 Chuyện rượu 

(Viết năm 2020, lúc này Úc và Trung Quốc đang "thương chiến".)

Mấy cha  "sùng"  Úc quá, không biết phải làm sao, cấm nhập thịt bò, luôn lúa mì, luôn quặng mỏ, hầm bà lằng.... mà thấy Úc vẫn tỉnh bơ. Kỳ này mấy ổng tăng thuế rượu nho của Úc. Tính cho Úc chết luôn.

Phải nói, Úc đất rộng người thưa, trồng cái gì ăn... cũng không hết. Chỉ có trồng nho rồi chế ra rượu là được. Rượu ế càng lâu thì càng ngon và càng có giá. Bữa nay nghe quảng cáo 30 đồng được 6 chai rượu luôn tiền phí giao hàng. Rẻ hơn mua chai nước khoáng. Định mua vài chục chai bỏ dưới gầm nhà để ủng hộ nông dân.

Có 16 quốc gia bè bạn cũng hè nhau mua về uống cho "xỉn" để "giải cứu"  rượu nho cho nước Úc. Tuy vậy, đông  bao nhiêu thì cũng không bằng bán cho ...tầu. Dân tầu bây giờ khá giả, uống rượu đế chịu không nổi. Nhất là phụ nữ cũng uống, nên nhu cầu rượu nho mới tăng vọt là vậy. Giờ cấm rượu thì họ chơi rượu đế vậy chớ sao. Ít bữa đủ kiểu ...ung thư ..., coi bộ lợi bất cập hại.

Phải công nhận phụ nữ mà "vô" vài ly rượu đỏ là ai cũng đẹp. Rượu làm bằng nho tươi xứ Úc, hưởng ánh nắng chói chang nơi khí hậu trong sạch. Ủ trong những thùng gỗ gum đặc biệt, Úc mới có. Mới lên men chừng hai năm là mùi thơm lừng. Uống một ly mà vẫn thèm ... thêm một ly nữa... Và có vài chị bạn ý hợp tâm đầu, thì xong chai này ta tiếp 1 chai nữa có sao đâu . Đàn ông khỏi cần . Nhiều chị làm bạn với ly rượu đỏ sau giờ làm việc là vậy. Một thống kê khá tin tưởng là mỗi ngày uống một ly rượu nho là không sợ ung thư ( nhưng phải điều độ và chừng mực). 

Vì vậy nhu cầu rượu nho giờ tăng rất mạnh. Mà đâu phải nơi đâu cũng có thể trồng nho. Trên thế giới này chỉ vài vùng thôi, nên mấy cha bên tàu "chê" rượu Úc là thất bại. Chỉ khổ dân, nhất là quý bà bên đó. Mấy bà không thể uống bia vì bụng sẽ bự, không thể uống rượu đế vì cái mùi. Trong khi uống rượu nho thì cái má nó hồng, hơi thở thơm tho... chậc chậc, nhìn là thấy thương liền.

Nước Úc là vậy! Người ta cần nó chớ nó chẳng cần ai. Hết bệnh dịch có cản thì các nơi cũng kéo đến. Đi khắp thế giới đâu còn nơi nào nói tiếng Anh mà dân hiền khô, an ninh bảo đảm, đồng tiền rẻ sình. Mấy ông tàu cương cho đã, chớ rồi sẽ năn nỉ xin huề cho mà coi. Ngứa cổ họng lắm rồi, chiều chiều cũng phải cho bà con vài ly chớ!

Jimmy Nguyen Nguyen

Saturday, December 2, 2023

Thế giới sau tháng 2-1972

HENRY KISSINGER 

Ngày 10-3-2006, tại Thư viện và bảo tàng John F. Kennedy, tôi phỏng vấn Henry Kissinger: “Ông có biết là từ mấy hôm nay, cộng đồng sinh viên vùng Boston, trong đó có cả những sinh viên đang học giáo trình ‘Ngoại Giao’ của ông, kêu gọi tổ chức biểu tình chống ông và gọi ông là ‘tội phạm chiến tranh’? Kissinger trả lời: “Tôi biết. Nhưng, liệu thế giới có như hiện nay nếu ngày ấy chúng tôi không làm như thế?”

Một trong những việc “làm thay đổi thế giới” của Henry Kissinger là thiết kế cuộc gặp giữa Nixon và Mao tháng 2-1972.

Tôi vừa được xem “Bản Tự Kiểm Điểm Về Việc Dự Buổi Chiêu Đãi Của Nixon” mà Lê Đức Thọ yêu cầu Trưởng phân xã TTXVN tại Bắc Kinh làm vào thời điểm ấy.

Đọc Bản Tự Kiểm mới thấy hết một thời ấu trĩ. Những hoạt động của các phóng viên TTXVN lúc ấy tại Bắc Kinh lẽ ra rất cần được khen thưởng vì nhờ những hoạt động như vậy mà những thông tin họ báo cáo về là rất có giá trị. 

Nhưng, không chỉ Lê Đức Thọ, theo ông Trần Phương, trợ lý ông Lê Duẩn: “Lê Duẩn nói, chúng ta đã bị bán rẻ cho Mỹ để người Trung Quốc thay Đài Loan ngồi vào chiếc ghế ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc”. 

Hà Nội chờ đợi Bắc Kinh giúp đỡ cuộc chiến của mình với “tinh thần quốc tế vô sản”, Bắc Kinh dùng cuộc chiến ấy để trả giá với người Mỹ. Washington không coi cuộc chiến ấy là chiến tranh Việt Nam mà là xung đột giữa hai phe và bàn cờ mà họ chơi với Bắc Kinh là bàn cờ thế giới.

Ngay sau “Thông Cáo Thượng Hải”[27-2-1972], Chu Ân Lai đến Hà Nội giải thích chính sách mới của họ với người Mỹ. Lê Duẩn kể với người vợ hai, bà Nguyễn Thụy Nga: “Chu Ân Lai sang gặp anh ở Hồ Tây. Ông đi dưới bậc thang lên đưa tay, anh không bắt. Anh nói: ‘Các đồng chí đã bán đứng chúng tôi. Các đồng chí lấy xương máu của dân tộc Việt Nam để trả giá với Mỹ. Chúng tôi biết nhưng chúng tôi không sợ, chúng tôi sẽ đánh đến cùng và nhất định chúng tôi sẽ thắng’”. 

Sau cuộc gặp này với Lê Duẩn, Chu Ân Lai tới nhà khách Lê Thạch để gặp Hoàng thân Sihanouk, khi ấy cũng đang ở Hà Nội. Theo Sihanouk: “Chu trông mệt mỏi và có vẻ bị kích động bởi cuộc thảo luận mà ông vừa tiến hành với các đồng chí Bắc Việt Nam của ông. Hình như ông đang cáu”. Theo Sihanouk, Chu đã nói với các nhà lãnh đạo Bắc Việt Nam “gay gắt và cứng rắn” rằng mối quan hệ mới đó sẽ dẫn tới hòa bình ở Đông Dương. 

Không chỉ phản ứng trong hội đàm, khi đưa tiễn Chu Ân Lai, thay vì đi cùng thầy trò Chu ra tận chân cầu thang máy bay, Lê Duẩn đã dừng lại ngay cửa nhà ga sân bay Gia Lâm. Các quan chức Việt Nam tất nhiên cũng phải đứng lại. Chu Ân Lai và người phiên dịch, Lương Phong, gần như phải lủi thủi bước lên máy bay đi về. Lương Phong, về sau nói với nhà ngoại giao Dương Danh Dy của Việt Nam rằng, hành động đó của ông Lê Duẩn là rất phản cảm. 

Người Việt Nam đã trả giá. Không chỉ bằng việc Trung Quốc phát động cuộc chiến tranh xâm lược Biên giới phía Bắc 2-1979, kéo dài suốt 10 năm. Mà chế độ Pol Pot do Việt Nam giúp bằng xương máu, lên nắm quyền ở Campuchia, đã trở thành một lưỡi dao mà Trung Quốc nắm đằng cán đâm vào hông Việt Nam. Cuộc chiến từ phía Tây Nam kéo dài từ ngay sau 30-4-1975 cho tới cuối năm 1989.

“Thông Cáo Thượng Hải” là một trong các sự kiện bắt đầu tác động một cách sâu xa khiến cho Liên Xô và khối XHCN Đông Âu sụp đổ. “Thông Cáo Thượng Hải” là ví dụ điển hình trong cách hành xử của Bắc Kinh, “bất kể mèo trắng hay mèo đen”, nó đánh dấu một bước ngoặt giúp Trung Quốc bắt đầu những thập niên thịnh vượng.

Trung Quốc mạnh lên càng khiến cho Kissinger bị chỉ trích. Trung Quốc mạnh lên không chỉ tăng khả năng “bá quyền” cho Bắc Kinh mà còn mang lại thịnh vượng cho người dân, thế giới bớt được 1,3 tỷ người nghèo khổ. 

Trung Quốc luôn là một mối đe dọa, thế giới buộc phải lựa chọn, đối diện với mối đe dọa này từ một “thằng có tóc” như hiện nay hay từ một thằng khố rách áo ôm dưới thời Mao.

Khi xung đột Bắc Kinh - Hà Nội bắt đầu hầm hập nóng trên báo chí, trên hệ thống loa phóng thanh, có một giai thoại bắt đầu lan ra: 

Năm 1973, khi Kissinger tới Hà Nội, ông ta chỉ tay về phương Bắc, nói với Lê Đức Thọ, “Kẻ thù của Việt Nam ở phía này”. Ngày 10-3-2006, tôi đưa chuyện này hỏi Kissinger, ông bật cười trả lời: “Lê Đức Thọ dẫn tôi thăm Bảo tàng Lịch sử, ở đấy lúc đó có rất nhiều phần nói về cuộc chiến tranh của người Việt với người Trung Hoa, trong khi chưa có phần nào nói về cuộc chiến tranh với người Mỹ. Anh nghĩ, người Việt còn cần một lời khuyên từ tôi ư”.

Ông hỏi, "Are you from the North", rồi kéo tôi ra chụp ảnh.

MÙA HÈ ĐỎ LỬA 

[Phần phụ lục dưới đây khá dài, ai có thời gian thì hẵng đọc]

Trong quá trình đàm phán, Lê Đức Thọ không hề biết Kissinger bí mật đến Bắc Kinh và khi đã biết rõ nội dung cuộc gặp Nixon - Mao, Hà Nội đã không nhận ra “thế giới bắt đầu thay đổi”. 

Trước đó, đầu tháng 1-1972, Bộ Chính trị và Quân ủy quyết định điều chỉnh “Chiến lược 71-72”, lấy Trị Thiên làm chiến trường chủ yếu. Một tháng sau “Tuyên Bố Thượng Hải”, ngày 30-3-1972, Hà Nội vẫn không thay đổi bước đi chiến lược này, cho bắt đầu “Chiến dịch Quảng Trị”.

Theo tướng Ngô Quang Trưởng, người chỉ huy “tái chiếm Quảng Trị” của VNCH, các nhà phân tích không hiểu vì sao Hà Nội lại mở cuộc tấn công ở thời điểm này vì lúc đó quân Mỹ tại miền Nam vẫn còn 140 nghìn và theo kế hoạch của Washington thì tới tháng 4-1972 sẽ chỉ còn 40 nghìn.

Tướng Ngô Quang Trưởng cho rằng, có lẽ, “Lực lượng còn lại của người Mỹ trong năm 1972 rất hấp dẫn dưói con mắt của Hà nội, bởi vì nếu họ tạo được một thắng lợi quân sự nào đó thì dĩ nhiên người Mỹ cũng chia phần thất bại [với VNCH]”. 

Theo Kissinger, Tướng Abrams biết trước cuộc phản công từ đầu tháng Giêng, và việc sử dụng B-52 đã được tính tới. Nhưng Nhà Trắng cho rằng có thể sẽ can thiệp bằng chuyến đi Bắc Kinh. Nixon muốn rút khỏi Việt Nam trước kỳ bầu cử tổng thống năm 1972 mà không làm chính quyền Sài Gòn sụp đổ. 

Hà Nội mở chiến dịch Quảng Trị khi chuyến công du bí mật đến Bắc Kinh đã thành công, Nixon trở nên cứng rắn hơn. 

Ngày 4-4-1972, Nixon ra lệnh “không kích chiến thuật” ra đến Vinh bằng cách bổ sung 20 máy bay B-52, bốn phi đội máy bay ném bom F-4, thêm tám tàu khu trục được gởi đến Đông Nam Á. Trước đó một ngày, Kissinger gặp Dobrynin ở Phòng Bản đồ của Nhà Trắng, trách Liên Xô đã đồng lõa với cuộc tấn công của Hà Nội, và dọa: “Nếu cuộc tấn công tiếp tục, Mỹ có thể phải có biện pháp cho Moscow thấy những lựa chọn khó khăn trước cuộc họp thượng đỉnh”. 

Ngày 4-4, người phát ngôn báo chí của Bộ Ngoại giao Mỹ nói khi họp báo: “Cuộc xâm lược miền Nam của Bắc Việt Nam đã được thực hiện bằng vũ khí của Liên Xô”. Cùng lúc, Kissinger cử Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hợp Quốc để gửi một thông điệp bằng lời cho Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. 

Trước đó, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trong vòng 3 dặm, tức là trong phạm vi bao gồm lãnh hải Hoàng Sa của Việt Nam. 

Một cuộc họp kín giữa Lê Đức Thọ và Kissinger đã được đôi bên thỏa thuận vào ngày 2-5-1972. Tình hình chiến trường đã giúp Lê Đức Thọ đến Paris với một tư thế hoàn toàn khác với những lần trước đó. Sáng 1-5-1972, Quân đội miền Bắc chiếm cầu Quảng Trị và sân bay. Ngày 2-5- 1972, Quảng Trị rơi vào tay miền Bắc. 

Theo ông Lưu Văn Lợi, người phiên dịch cho Lê Đức Thọ: “Hôm đó người ta không thấy ở Kissinger - một giáo sư đại học sôi nổi nói dài dòng hay bông đùa, mà là một người ít nói có vẻ ngượng nghịu, suy nghĩ”. Còn Kissinger mô tả, “cuộc họp kín ngày 2-5 diễn ra rất thô bạo”.

Nhưng ông Thọ khi ấy không biết Nixon đã dặn Kissinger rằng, cho dù kết quả đàm phán thế nào, ông vẫn ra lệnh cho ba máy bay B-52 công kích Hà Nội và Hải Phòng vào những ngày cuối tuần, từ ngày 5 đến ngày 7-5-1972. Nixon nhấn mạnh với Kissinger ông chấp nhận hủy bỏ cuộc gặp thượng đỉnh ở Moscow trừ khi tình hình được cải thiện. Tại một trang trại ở Texas, Nixon cảnh báo: “Hà Nội đang chấp nhận nguy hiểm rất lớn nếu tiếp tục tấn công miền Nam”. 

Kissinger cho rằng trong ngày 2-5-1972, Lê Đức Thọ chỉ “giả vờ thương thuyết” vì “tin chắc rằng họ đang tới rất gần chiến thắng”. Theo Kissinger, “thái độ làm cao của Lê Đức Thọ” đã khiến cho Nixon trở nên “rất hùng hổ”. Thứ Sáu, ngày 5-5-1972, B-52 lại trút bom xuống Hải Phòng (B-52 bắt đầu ném bom Hải Phòng từ ngày 16-4-1972), đồng thời mìn ngư lôi được thả bao vây các cửa biển miền Bắc. 

Sau khi nhận được thư của Brezhnev trấn an thái độ bi quan của Mỹ về cuộc họp ngày 2-5 với Lê Đức Thọ là không hợp lý, Washington trở nên quyết tâm hơn khi nhận thấy thư của Brezhnev “không đưa ra lời đe dọa cụ thể nào”. Trong khoảng từ 25-4 đến 5-5-1972, Nixon đã đưa ra lệnh ném bom xuống đê Sông Hồng, tăng cường ném bom các trung tâm thành phố và dự định sử dụng cả “vũ khí hạt nhân”. Theo Kissinger: “Tôi kịch liệt phản đối các kế hoạch này, và Nixon thì đã không kiên quyết”. 

Washington cũng đồng thời nhận được “tín hiệu” từ Trung Quốc qua bài Xã luận đăng trên Nhân Dân Nhật Báo số ra ngày 11-5-1972. Đằng sau những ngôn từ to tát như: “Kiên quyết ủng hộ nhân dân Việt Nam”; “Vô cùng phẫn nộ và mạnh mẽ lên án” đế quốc Mỹ, Washington nhận ra thông điệp của Trung Quốc khi thấy “bài xã luận” xác định Bắc Kinh chỉ làm “hậu phương” của Việt Nam. Bên cạnh bài xã luận “lên án Mỹ” đó, Nhân dân nhật báo đã cho đăng nguyên văn diễn văn của Nixon công bố một ngày trước đó giải thích vì sao mà ông ta đã phải ném bom miền Bắc. 

Ở Quảng Trị, lúc bấy giờ, theo Tướng Lê Phi Long, sau hai đợt chiến đấu liên tục, sức khỏe của bộ đội miền Bắc đã giảm sút, quân số bị hao hụt, các đơn vị binh chủng thì thiếu khí tài, sức kéo, đạn dược. Nhưng không hiểu vì sao Lãnh đạo Bộ và Tư lệnh chiến trường lại chủ trương mở tiếp đợt tấn công thứ ba nhằm giải phóng Thừa Thiên - Huế. 

Sau Chỉ thị đó, dưới sự chủ trì của Tướng Giáp, các cuộc họp nối tiếp cuộc họp để hoàn chỉnh kế hoạch. Cơ quan Tác chiến làm việc tới 20 giờ/ngày. Vất vả nhất là khoảng từ 6 giờ tối đến 12 giờ đêm vì, theo Tướng Lê Phi Long, lúc này chiến trường mới điện báo cáo tình hình lên Bộ Tổng Tham mưu. Quảng Trị bắt đầu trở thành cối xay thịt khi Quân đội Sài Gòn, dưới sự phối hợp của không quân và pháo hạm Mỹ bắt đầu phản công, gây thiệt hại nặng nề cho quân miền Bắc. 

Một tuần sau, huyện Hải Lăng và một phần huyện Triệu Phong bị chiếm lại, quân đội Sài Gòn áp sát thị xã. Lực lượng miền Nam khi ấy gồm 3 sư đoàn được yểm trợ bằng hoả lực mạnh của không quân và pháo hạm Mỹ. Lực lượng miền Bắc, tuy có 5 sư đoàn nhưng đã mất sức chiến đấu, quân số của mỗi đại đội chỉ còn từ 20 đến 30 người mà phần lớn là cán bộ. Gạo, đạn tiếp tế kiểu ăn đong. 

Theo “Chủ nhiệm Hướng” Lê Phi Long: “Ngày 30-6, mười ngày sau khi mở đợt 3 tấn công không thành công, Tướng Văn Tiến Dũng trở ra Hà Nội vì lý do sức khỏe”. Ngày 20-7 Tướng Trần Quý Hai được cử vào thay Tướng Lê Trọng Tấn; Tướng Song Hào thay Tướng Lê Quang Đạo. Các vị tướng này sức khỏe đều giảm sút và mệt mỏi. 

Tình hình phát triển ngày càng xấu hơn, thế nhưng Bộ Chỉ huy chiến dịch vẫn chủ trương tiếp tục phản công và tiến công. Trong khi, theo Tướng Lê Phi Long, không đánh được một trận tiêu diệt nào dù là phân đội nhỏ. Thời tiết thì hơn nửa tháng liền, không mấy ngày được nắng ráo, nhiều trận mưa kéo dài, hầm hào lúc nào cũng ngập nước, trong khi B-52, pháo mặt đất, pháo hạm liên tục dội bom. Bộ đội phải chiến đấu liên tục không có thời gian làm công sự. Thương vong ngày càng tăng. 

Trong thời điểm nóng bỏng ấy, Văn Tiến Dũng đang đi an dưỡng ở Tam Đảo, Lê Trọng Tấn vừa ở chiến trường ra đang trong thời kì dưỡng bệnh, Tướng Giáp phải trực tiếp điều hành mọi công việc của Bộ Tổng tham mưu. Ông đọc cho Tướng Lê Phi Long viết bức điện gửi thẳng xuống đơn vị cho Nguyễn Hữu An, Sư trưởng Sư đoàn 308 và Hoàng Đan, Sư trưởng Sư đoàn 304B. 

Ngay ngày hôm sau, Nguyễn Hữu An gửi cho Tướng Giáp một bức điện dài bốn trang, nói rõ: “Tôi thấy không nên tiến công, và nên chuyển vào phòng ngự. Ở đây công tác chỉ đạo chỉ huy vẫn ham tấn công và phản công, trong tình thế địch mạnh hơn ta, ăn hiếp ta, lực lượng ta đã suy giảm và đang rơi vào bị động. Tôi nghĩ rằng sức ta yếu hơn địch, ta chuyển vào phòng ngự là cần thiết. Nhưng ở đây hễ nói đến phòng ngự cấp trên lại cho rằng đó là tư tưởng hèn nhát, thụ động. Đề nghị với Bộ quyết tâm dứt khoát chuyển sang phòng ngự. Tình hình này ta muốn tiêu diệt gọn một tiểu đội, một trung đội cũng khó”. 

Sư trưởng Hoàng Đan thì trả lời khéo léo hơn: “Theo kinh nghiệm của tôi thì một trung đoàn chủ lực của ta chỉ đánh được 2 trận tập trung là hết sức, nếu không được nghỉ ngơi củng cố thì không thể tiếp tục chiến đấu thắng lợi. Còn quân ta ở đây đã chiến đấu liên miên 2 đến 4 tháng rồi còn sức đâu mà đánh tiêu diệt”. Nhận được điện, Tướng Giáp rất lo lắng. Nhưng, lúc ấy không những giữa chiến trường và Đại Bản doanh có ý kiến khác nhau mà trong nội bộ Đại Bản doanh ý kiến cũng khác nhau. 

Tướng Giáp thận trọng lập một “Tổ nghiên cứu” do Tướng Vương Thừa Vũ đích thân hướng dẫn. Trong cuộc họp kết luận, Tướng Giáp sau khi giảng hòa mâu thuẫn giữa các sỹ quan tác chiến đã phải chỉ vào đống sách do ông tự tay mang đến: “Các nhà lý luận quân sự của chúng ta cũng đều nói có tiến công, có phòng ngự. Engels cũng đã nói điều đó. Thực tế chiến trường đòi hỏi chúng ta phải chuyển qua phòng ngự. Cục tác chiến hãy điện cho chiến trường tham khảo ý kiến của các đồng chí trong mặt trận xem sao”. 

Cục Trưởng Tác chiến lúc ấy là Tướng Vũ Lăng lệnh cho ông Long gửi một bức điện dài, theo Tướng Lê Phi Long: “Sau khi phân tích lý luận và thực tế, Điện gợi ý mặt trận nên chuyển sang phòng ngự”. Bức Điện ký tên Vũ Lăng phát đi hai hôm thì Cục Tác chiến nhận được trả lời. Trong điện trả lời, Tướng Trần Quý Hai dùng lời lẽ gay gắt phê phán Cục Tác chiến không giữ vững quyết tâm, không quán triệt tư tưởng làm chủ và tiến công... Rồi Bộ Tư lệnh Chiến dịch ra lệnh phản công mặc dầu đã trải qua ba cuộc phản công không kết quả. 

Theo Tướng Lê Phi Long, trong thời gian diễn ra Chiến dịch Quảng Trị: “Ông Lê Đức Thọ không hiểu bằng con đường nào, thường xuyên điện thẳng cho các sư đoàn không qua điện đài của Bộ Tổng Tham mưu, vừa để nắm tình hình vừa tự ý đôn đốc đánh. Kỳ quặc! 

Chúng tôi, cơ quan tham mưu, không đồng tình với cách làm này nhưng không biết than thở với ai, hình như anh Văn cũng cảm nhận được điều đó nên có lần đã nói với chúng tôi: Cần kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, nhưng mỗi lĩnh vực có quy luật riêng của nó, ví như về quân sự thì trước hết phải bảo đảm chắc thắng, nếu không diệt được địch, không phát triển lực lượng thì không phối hợp quân sự với ngoại giao được”. 

Tướng Lê Hữu Đức thừa nhận: “Cố đánh Quảng Trị là do nhu cầu đàm phán”. 

Tướng Lê Phi Long kể: “Sáng 17-9, Cục Tác chiến mới nhận được điện báo ‘Thành Cổ mất tối hôm qua’. Trong khi đó thì trên phòng họp, Quân ủy Trung ương vẫn đang bàn về ‘phối hợp đấu tranh quân sự chính trị và ngoại giao’ thông qua mặt trận Quảng Trị. Dự họp có Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Trần Quốc Hoàn, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, Tố Hữu và các vị trong thường trực Quân ủy. Lúc này Lê Đức Thọ đã có mặt ở Paris để hội đàm với Kissinger. Được tin dữ, anh Văn rời cuộc họp xuống chỗ Cục Tác chiến đích thân nói điện thoại với mặt trận qua xe thông tin tiếp sức đậu trước sân Cục Tác chiến”. 

Thành cổ Quảng Trị thất thủ khi quân miền Bắc đã gần như hoàn toàn kiệt sức. 

Theo Tướng Lê Phi Long: “Lực lượng chiếm giữ Thành Cổ khi đó nói là có mấy tiểu đoàn nhưng trên thực tế chỉ còn phiên hiệu, mỗi tiểu đoàn chỉ còn ba bốn chục người. Việc bổ sung quân số tiếp tế qua sông hết sức khó khăn. Nhiều sinh viên đã phải rời giảng đường để nhập ngũ. Nhiều tân binh chưa gặp mặt người chỉ huy đã ngã xuống. Nhiều cán bộ chỉ huy ngày đêm vất vả, râu tóc mọc kín mặt mà không có thời gian cắt cạo. Trong hầm phẫu ở ngay dinh Tỉnh trưởng cũ thường xuyên có trên dưới 200 thương binh, sặc mùi hôi thối. Các lực lượng trong Thành Cổ thì chiến đấu một cách tuyệt vọng, còn các đơn vị ở các hướng khác, tuy có cố gắng đánh vào cạnh sườn để hỗ trợ cho lực lượng ở trong Thành nhưng cũng không tạo được hiệu quả. Chiến dịch Quảng Trị kéo dài, thương vong rất lớn, có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến. Mỗi lần nghĩ lại tôi rất đau lòng. Ta đã tung hết lực lượng, đã kiệt quệ. Có lúc tôi đã phải điều học viên trường Lục quân về gần Thủ đô lập một lữ đoàn để bảo vệ Trung ương, vì hết cả quân”. 

Ngày 26-9-1972, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lưu Văn Lợi đã mang các dự thảo Hiệp định tới Paris. 

Ngày 4-10-1972, Bộ Chính trị xem xét lại dự thảo Hiệp định, Ngày 8-10-1972 khi Lê Đức Thọ đưa ra dự thảo các điều khoản hiệp định đề nghị ký kết, Kissinger viết: “Các đồng nghiệp và tôi đều hiểu ngay tầm quan trọng của những điều mình vừa nghe. Ngay lúc nghỉ giải lao, Winston Lord và tôi đã bắt tay và nói với nhau: ‘chúng ta đã thành công rồi’. Haig, người đã từng phục vụ tại Việt Nam, thốt lên đầy xúc động rằng chúng tôi đã bảo toàn được danh dự cho các chiến binh từng phục vụ, đã chịu đựng và hy sinh ở Việt Nam”. 

Điều quan trọng nhất mà miền Bắc muốn - Mỹ rút quân mà Hà Nội không rút quân - thì ở trên bàn đàm phán, Kissinger đã chấp nhận từ năm 1971. Trên thực tế, cho đến khi ký Hiệp định Paris, Nixon đã đơn phương rút quân: từ 545.000 quân năm 1968 xuống còn 27.000 quân năm 1972. 

Cuộc đàm phán tưởng như đã tới hồi kết thúc, Kissinger dự kiến sẽ quay lại Paris vào ngày 17-10 gặp Xuân Thủy, thống nhất nốt “hai tồn tại” về nhân viên dân sự bị giam giữ ở miền Nam và việc “thay thế thiết bị quân sự”, được ngầm hiểu như là một viện trợ quân sự cho Sài Gòn. Ngày 18-10, từ Paris, Kissinger sẽ bay đến Sài Gòn, và tối ngày 22, sẽ đến Hà Nội. Hiệp định dự định công bố vào ngày 24 và được ký ngày 31-10-1972. 

Nhưng những sự kiện sau đấy đã phá vỡ các kế hoạch này, hàng ngàn người Việt tiếp tục bị giết bởi bom đạn Mỹ.

[Phụ Lục Đánh & Đàm, BÊN THẮNG CUỘC, quyển II, Quyền Bính].

Trương Huy San

Friday, December 1, 2023

Nhận thức từ bậc chân tu

 TIỄN THẦY VỀ TRỜI , LANG THANG KHẮP CÕI HƯ KHÔNG….

Tôi nghe tin thầy viên tịch lúc cuối giờ chiều qua khi đang ở Cần Thơ giữa cơn mưa lạnh. Thầy Tuệ Sỹ, bậc chân tu, đại lão hòa thượng, thầy đã thành mây trời lang thang khắp cõi hư không rồi, (tôi đâu dám nói là nghe tin thầy đi, tôi buồn, mà sao tôi thảng thốt thấy lòng mình buồn thế?). Chợt nhớ rõ mồn một 4 câu thơ thuộc lòng đã chép trong tập, mấy chục năm trước, mở đầu bài Khung trời cũ. Và còn nhớ rõ hơn dáng thầy gầy nhom, áo xám thong dong đi lại trên sân trường Vạn Hạnh, nhẹ như gió như mây mà đôi mắt tinh anh, sâu thẳm, hiền, đẹp, đẹp lạ lùng khó tả...

Đám sinh viên nữ chúng tôi hồi ấy thua thầy chừng 5, 7 tuổi vẫn lén gọi thầy với một biệt danh “thầy Tuệ Sỹ mắt đẹp”. Giờ nói ra đây chắc bị mắng là lũ “thứ ba học trò” quỷ ma khùng điên bất kính mạo phạm. Nhưng hồi đó, thầy trẻ lắm, nụ cười dịu dàng, xa vắng, hơi ngượng nghịu khi bị lũ nữ sinh viên tinh quái cứ đi theo bạch thầy, bạch thầy. Tôi vào trường Vạn Hạnh năm 1969. Năm sau đã nghe tin thầy Viện trưởng Thích Minh Châu vừa bổ nhiệm một giáo sư uyên bác, cực giỏi mới 27 tuổi. Nghe lại thì đúng là “thầy hiền mắt đẹp” Tuệ Sỹ. Mà hồi đó, Vạn Hạnh qui tụ những ngôi sao trí lực siêu phàm, ngoài thầy Viện trưởng có nụ cười hiền như Phật Di Lặc còn có thầy cô như thầy Tuệ Sỹ, thầy Nguyên Tánh (Phạm Công Thiện) và thầy Trí Siêu Lê Mạnh Thát, ni sư Trí Hải...

Nhiều hôm học bài trên thư viện về khuya, tôi đứng trên lầu cao, nhìn dáng thầy Tuệ Sỹ, bấy giờ đã là Tổng thư ký tạp chí Tư Tưởng, gầy yếu mong manh in trên nền trời đêm trăng mờ như một bậc tiên hiền, lẩm nhẩm trong đầu các bài thơ  của thầy, nhớ những bài thầy giãng (tôi học phân khoa Khoa học Xã hội, nhưng cũng thường lén đi nghe thầy nói Pháp) mà kính phục vô song.

Đêm qua tôi thức đọc hầu hết các bài viết trên FB về thầy. Kinh ngạc, mỗi người một góc nhìn đều biết ơn thầy dạy dưỡng dù chưa lần gặp. Nhiều người là con Chúa sao hiểu và kính quí thầy Tuệ Sỹ sâu sắc đến vậy. Tôi cũng nhận được một tin nhắn thiết tha của một bạn trẻ là con Chúa, cô ơi, con muốn đến lễ tang để tưởng nhớ thầy mà con không quen ai hết, nếu cô có đi cho con đi theo với….

Đã có địa chỉ một trang web rất quí để mọi người vào đọc về thầy. Đã có bài rất cảm động và giàu thông tin của anh Mạnh Kim, một SV Vạn Hanh . Có bài về Bùi Giáng bình bài thơ “Khung trời cũ” của thầy.

Tôi nghĩ có viết một trăm trang ở đây cũng không nói hết tấm lòng kính nhớ tiếc thương bậc chân tu trong cuộc quốc tang thực chất trong tâm tưởng của người Việt đang diễn ra.

Viết bao nhiêu cũng không đủ. Tôi tạm ghi lại đây mấy điều …

-Điều 5 trong di chúc của thầy: “Nhục thân đưa đi hỏa táng. Tro bụi nhục thân đem rải ra Thái Bình Dương để được tan theo biển, bốc thành mây trời , lang thang khắp cõi hư không

Hư không hữu tận. 

Ngã nguyện vô cùng.…

-Nỗi buồn của bạn thân – nhà văn Đoàn Minh Phượng, như nói giùm tôi:..."Những người mà thế hệ chúng tôi yêu thương nương tựa đang dần từng người qua đời. Buồn bao nhiêu vẫn phải học quen với chuyện này. 

Mà sao lần này thảng thốt quá. Tôi như đứa nhỏ chưa học xong làm người ra làm sao đã chợt thấy mình mồ côi."

…

Lòng biết ơn thầy của họa sĩ Nguyễn Thanh Bình. Anh Bình là người tôi rất biết ơn vì đã tặng tôi món quà quí vô biên là bộ sách của thầy Tuệ Sỹ.

Anh viết khi nghe tin thầy viên tịch:

Với nỗi buồn khôn tả ...

Có lẽ, thay đổi quan trọng nhất trong đời một người là "thay đổi nhận thức" !

Có nhiều nguyên nhân, nhiều lý do để nhận thức thay đổi ... và sự thay đổi cũng có nhiều mức độ khác nhau…

Giáo lý nhà Phật dạy rằng : chúng sinh, có người suốt đời ở ngoài sáng, có kẻ suốt đời ở trong tối, có người từ trong tối bước ra sáng, cũng có kẻ từ sáng bước vào tối.

…Từ sự hiểu hiện tượng một cách nông cạn, biến thành nhận thức sâu sắc là một quá trình dẫn đến thiện duyên : được gặp trưởng lão Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ.

Có thể nói không ngoa rằng : Ôn Tuệ Sỹ là người khai sinh ra tôi lần thứ hai.

Ôn Tuệ Sỹ dạy : "... Một xã hội mà không có nơi nào để cho tín tâm an trụ, xã hội ấy dễ dàng rơi vào tà kiến điên đảo. Trong một xã hội mà phẩm giá con người không được tôn trọng, trong một xã hội mà quyền lực được dựng lên không còn mục đích hòa giải những mâu thuẫn tranh chấp giữa các thành viên, từ thuở loài người khởi đầu lịch sử đấu tranh vì lợi dưỡng, vì quyền lực. Mỗi con người chỉ là một cọng cỏ yếu ớt gấp mình trước những thế lực tham tàn hung bạo. Không còn nơi nương tựa vững chắc, ngoài những bóng ma chập chờn để bám víu ..."

Ngày 25 tháng 9 năm 2015, (ngày mà anh Nguyễn Thanh Bình được thầy Tuệ Sỹ truyền giới (tức qui y- KH ghi) thầy Tuệ Sỹ đã dạy: ”vì mình vẫn đang đi giữa thế tục, vẫn còn bươn chải với đời, nên khó tránh khỏi gặp chuyện này chuyện kia, nhưng đừng bao giờ quên mình là Phật tử ...!"

-Và cuối cùng, xin trích lời bình của nhà thơ Bùi Giáng về bài thơ mênh mông “khung trời cũ” của thầy.

Bài thơ tôi nhắc ở trên là bài “không đề” hay là “Khung trời cũ” hay là “Khung trời hội cũ” mà Bùi Giáng phân tích và bình quá tuyệt. Xin cho phép tôi dài dòng môt chút vì bài thơ trác tuyệt này của thầy và xin trích một số đoạn của Bùi Giáng.

Tuệ Sỹ là một vị sư. Ông viết văn nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…

Có ai ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia,lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ.

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…

Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn.

Tôi hoảng vía đề nghị: Đại sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho. Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

...Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ…

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh… Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.

Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi điều “phải nói” với mọi người “muốn nghe”, với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói rất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. 

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Cung trời hội cũ

Áo màu xanh

Không xanh mãi

Trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ. Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn.

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?

Mình là thân bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?

Phải có nhìn thấy gương mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

...Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng.

Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzsche.

Thi nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuế nguyệt phiêu du:

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa

Ngược nước

Xuôi ngàn…

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường vôi nhạt nhoà ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ từ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.

✍️Nhà báo Kim Hạnh 

Thursday, November 30, 2023

Gặp gỡ Tất Niên 2023 @ Thảo Điền

Ngày cuối cùng tháng 11 năm nay nhóm bạn nữ M69 gặp gỡ giao lưu với anh em 68 và 72 cựu sv Hungary thật thú vị ,kết lại 2023 vui vẻ, thân ái chúc mọi người khoẻ mạnh ,bình an và hạnh phúc. Hẹn sớm gặp lại đầu năm 2024 nhé ! (Tăng Kim Đoan, ĐH Semmelweis.vidi69)

Rất vui! Vô cùng cảm kích gia chủ đã có buổi tiếp đãi chu đáo và nồng hậu bà con kỳ này. Rất nhiều cảm xúc và nhiều bất ngờ thú vị.

Hội PN M69

Sau khi đã ''tám'' đủ chuyện với nhau thì cũng phải đến lúc khai cuộc

Cần biết về hệ điều hành của chúng ta

 5 cách “bảo dưỡng” não bộ

“Não bộ đã có mọi thứ nó cần để thực hiện tốt công việc của nó” - Nhiều người thường mặc định như vậy, và họ chẳng mấy nghĩ đến chuyện chăm sóc não bộ. 

Nhưng thử nghĩ về cái xe máy hay chiếc laptop của bạn. Bạn luôn đảm bảo chúng được bảo dưỡng thường xuyên, mang nó đi kiểm tra nếu có bất kỳ tín hiệu hỏng hóc nào. Vậy sao bạn lại đối xử với bộ não của mình hời hợt như vậy? 

Dưới đây là 5 đề nghị chăm sóc não bộ, được đưa ra bởi nhà thần kinh học Tara Swart: 

1, Ngủ đủ giấc 

Thời lượng ngủ tốt nhất đối với hầu hết người trưởng thành là 7 đến 8 tiếng mỗi đêm, theo Tara Swart. 

Một bộ não được nghỉ ngơi đầy đủ sẽ giúp bạn đưa ra quyết định tốt hơn, phản ứng nhanh hơn trước tác nhân kích thích và giúp bạn gợi lại ký ức tốt hơn bộ não thiếu ngủ. Khi ngủ đủ, bạn cũng sẽ dễ dàng kiểm soát cảm xúc và tâm trạng của mình hơn.

2, Uống đủ nước 

Khoảng 78% bộ não là nước, vì thế việc chức năng của não có liên quan trực tiếp đến tỷ lệ nước trong cơ thể cũng là dễ hiểu. Khi tỷ lệ nước bị giảm 1% - 3% có thể ảnh hưởng lớn đến khả năng tập trung, chú ý và ghi nhớ của con người. 

Điều này lý giải tại sao mọi đứa trẻ đều cần phải mang một chai nước trong cặp của chúng khi đến trường, và người lớn cũng nên làm như vậy.

3, Ăn đủ chất 

Một chế độ ăn uống cân bằng, lành mạnh, giàu chất đạm và được bổ sung ngũ cốc nguyên cám (chứa đầy đủ các loại axít amin cần thiết để cấu tạo tế bào), “chất béo tốt” (ví dụ như dầu dừa, tinh dầu cá và dầu trái bơ) cũng như các loại rau củ giàu khoáng và vitamin sẽ đem lại lợi ích to lớn cho não bộ. 

Mặt khác, việc ăn quá nhiều thực phẩm đã qua chế biến (như bánh ngọt, bánh quy và các loại thực phẩm tiện lợi khác), hấp thu quá nhiều đường hay chất béo bão hòa (và đặc biệt là chất béo chuyển hóa) có ảnh hưởng xấu lên não, làm tăng nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ và rối loạn cảm xúc.

4, Tập thể dục 

Kết quả tổng hợp từ 11 nghiên cứu cho thấy rằng tập thể dục thường xuyên có thể giảm nguy cơ mắc chứng mất trí nhớ tới 30%. Nó cũng khiến não trở nên nhạy bén hơn. 

Ở người thường xuyên tập thể dục, nhiều chức năng bậc cao trong não - như khả năng điều tiết cảm xúc và tư duy linh hoạt - hoạt động tốt hơn so với bình thường, và não họ có thể chuyển đổi nhanh chóng giữa các đầu việc khác nhau.

5, Dọn dẹp “môi trường digital” 

Giống như ngôi nhà hay văn phòng, “môi trường digital” cũng cần đem lại cho bạn cảm giác bình yên, vui vẻ, giúp bạn tập trung, sáng tạo và suy nghĩ minh mẫn hơn.

Tara Swart khuyên nghị bạn đọc xóa các ứng dụng điện thoại khiến bạn phân tâm và tìm cách thay đổi thói quen sử dụng thiết bị điện tử của bạn theo hướng lành mạnh hơn.

✨“Nội lực” - Chuyển hoá cuộc đời nhờ sức mạnh não bộ. Giống một cuốn self-help kinh điển, “nhưng ngầu hơn và khoa học hơn”. Sách đã được dịch sang gần 40 ngôn ngữ trên thế giới và được nhắc đến trên Financial Times, The Guardian, Bloomberg…

Trích từ net (First News)

Wednesday, November 29, 2023

Câu chuyện làm ăn: Cá tính của người dạn dĩ

 Ăn Trưa Cùng Tony: Mọi người làm quen với bạn này nha, dạn dĩ, cá tính, quyết liệt, nói là làm chứ không có dự định hay dự tính đã đời rồi không thấy động tĩnh gì. 

Cách thức 1 người chọn kinh tế làm nghiệp, ở các nước phát triển họ có dạy cho học sinh, nhưng bên mình đi từ nước nông nghiệp nhỏ nên ít ai biết những cái này. Các bạn nên share/save lại.

------

Gần farm có 1 ngôi nhà kiến trúc vô cùng lạ mắt, kiểu người giàu giàu mà có gu. Có lần đi ngang, Nam mạnh dạn bấm chuông xin được tham quan, cô giúp việc ra mở cổng, nghe ý định của mình thì cô không cho. Tình cờ lúc đó ông chủ nhà (chú Bảy) đang đứng tưới cây, nói thôi mở cửa cho chú nó vào đi, nhìn mặt mũi nó hiền, mà dám gõ cửa để xin vô chụp hình, cũng là đứa can đảm. 

Trò chuyện xong thì Nam tặng chú vài món quà mà mình SX và xin add zalo để trò chuyện. Chú kể chú đang ở Sài Gòn, nhưng thành phố ô nhiễm khói bụi và tiếng ồn khiến chú nhức đầu, cả ngày thấy khó chịu trong người. Chú nói "tao quyết cái rẹt. Con tao về quê học trường quê, nhưng phải online 4h/ngày để học tiếng Anh với thầy Tây, cứ xong lớp 9 là đi du học hết, sợ mẹ gì". Vợ chú quen kiểu quyết đoán của chồng, nên "ổng tha thím đi đâu thì thím đi đó thôi con"-thím nói. Về đây, chú mua được diện tích đất lớn thay vì 1 căn nhà nhỏ ở phố, nhưng chú cất cũng nhỏ xíu, còn lại làm sân vườn cây cảnh "cho chó mèo nó nô đùa". Chú nói hơi thẳng thắn, câu cửa miệng là "sợ mẹ gì, làm luôn, sợ mẹ gì". Đầu tiên Nam nghe thấy cũng dị ứng, nhưng nhìn mặt chú thì lành nên cũng không sợ. 

Tuần trước, chú đang uống cà phê, chạy chiếc xe ô tô cũ (không rõ nhãn hiệu nhưng rất độc lạ cá tính), thì bỗng dưng có một ông ngồi bàn bên cạnh thấy thích quá, tới bàn tán, rồi đòi mua. Chú nói 600 tr đó, mua không, ai dè ông kia cũng cá tính, nói OK, rồi 2 ông vô công chứng chuyển tên rẹt rẹt. Đưa chìa khoá và giấy tờ xe cho ông kia, chú đi xe ôm về. Về nhà, bà thím cằn nhằn vì bỗng dưng bán chiếc xe đi, giờ đi chợ hay đi đâu phải đi xe đạp. Ông Bảy cười, "tao thích tao bán, tao thích thì mua, sợ mẹ gì". Có mua bán xe không mà cũng cân nhắc cả buổi, tốn thời gian. 

Có lần ổng kêu Nam qua nhậu, ổng nói về 3 giai đoạn cuộc đời. Hồi nhỏ, ổng học cũng giỏi, cũng tốt nghiệp ĐH, cũng có bằng cấp "đặng xin việc". Ông nói "tao học tập trung lắm, ra trường xin được việc ngay, nhưng làm nhà nước cứ họp hành miết, tao ngồi họp là buồn ngủ nên xin ra ngoài". Không xu dính túi, tao đi làm cò, làm trung gian ăn hoa hồng rồi buôn từ Tây Bắc tới Cà Mau, thấy đâu chênh lệch giá là buôn. 5 năm làm trading, khi đã có chút vốn, tao liền chuyển qua sản xuất, thấy cái gì người ta nhập khẩu, mình có nguyên liệu thì đi coi máy móc và mày mò làm, người lấm lem dầu mỡ. Sau 5 năm ra thương hiệu và phát triển thị trường ổn định, tao chuyển qua đầu tư, tức cổ phần hoá cho người khác nó sở hữu mà nó làm, mình rút cục tiền ra, giữ cổ phần để lâu lâu đi họp thôi, nửa đời người rồi thì sống đời mình muốn sống. Thích biển thì ra biển sống, thích núi lên núi sống, thích Mỹ thì qua Mỹ, thích quê thì về quê. Sợ mẹ gì. Mày nhớ công thức này nha Nam, THƯƠNG MẠI- SẢN XUẤT- ĐẦU TƯ. 

Cái cuối cùng là đầu tư, còn nhỏ còn sức khoẻ còn năng lượng nhiều thì thương mại và sản xuất đã, chứ nhỏ xíu mà đã ngồi đầu tư chứng khoán chi cho uổng, năng lượng lúc này còn nhiều, đi nịnh thiên hạ để bán hàng đã. Rồi ớn hết muốn nịnh thì mua máy móc về sản xuất. Khi mắt mũi lèm nhèm, đeo kính lão rồi thì dẹp mẹ hết, sống đời của mình. Sống ở phố chi cho nó chật, ra vô có mấy chục mét vuông như cái lồng chim.

(FB-Trương Hoàng Nam)

Tuesday, November 28, 2023

Sức hút của đàn ông là gì?

Có người nói: "Sức hấp dẫn của đàn ông chính là cao ráo, anh tuấn, nhiều tiền, nói chung là cao, phú, soái".

Đây suy cho cùng cũng chỉ là sức hút về diện mạo, vẻ ngoài của người đàn ông, sức hút thực sự của người đàn ông không tách rời được 4 điểm:

1. Có mục tiêu và lý tưởng, tự lập tự cường

Một người đàn ông có thể gặt hái được thành tựu hay không, phụ thuộc vào mục tiêu và niềm tin của người đó. Đàn ông cần phải có khát vọng và ý chí, đàn ông bản lĩnh là người có thể "đ.ầ.u đội trời chân đạp đất". Muốn nhìn thấu một người đàn ông, mấu chốt là phải nhìn xem anh ta có tinh thần cầu tiến, nỗ lực chăm chỉ hay không. Người không ngừng kiên trì, nỗ lực bôn ba thì chính là nam tử hán.

Đàn ông mà không có lý tưởng, không có mục tiêu, có nói mà không có làm, chỉ biết ba hoa chích chòe, trông thì giống đàn ông, nhưng một chút cốt cách, khí khái của bậc đại trượng phu cũng không có.

Không có chí hướng, không tự tập tự cường, cũng chẳng buồn học hỏi, đàn ông như vậy có đáng trở thành trụ cột gia đình hay không?

2. Tinh thần trách nhiệm cao, kiên trì bền bỉ

Sống ở đời, ai mà không muốn thành công, không muốn sống sung túc? Nhưng vì sao xã hội vẫn tồn tại rất nhiều người không thành công như vậy? Điều này một phần có liên quan tới sự thiếu bền bỉ, kiên nhẫn của nhiều người, có những người mới chỉ trải qua 1,2 thất bại thôi đã ngay lập tức "rụt c.ổ lại", không có một chút trách nhiệm nào với những nỗ lực và cả con đường tương lai của mình. Người có tinh thần trách nhiệm, là người mà dù khó khăn có lớn tới đâu, vất vả có nhiều tới đâu, họ cũng vẫn luôn dũng cảm tiến về phía trước.

Đàn ông là phải có trách nhiệm, có vậy mới bình được thiên, lập được địa. Chỉ khi tinh thần trách nhiệm cao, bạn mới có thể chịu đựng và vượt qua được thất bại, cuối cùng giành được thắng lợi mà nhiều người bỏ dở giữa chừng.

Jack Ma không cao, không phú, cũng chẳng soái, nhưng ông vẫn là một người đàn ông rất có sức hút, là một nam tử hán đích thực, là hình mẫu truyền cảm hứng cho rất nhiều người. Ông thi đại học 3 lần, cuối cùng thi đỗ đại học sư phạm; ông khởi nghiệp thất bại 4,5 lần, nhưng vẫn không lùi bước, để rồi tạo ra được một Alibaba, một Taobao vươn lên mạnh mẽ như hiện nay. Jack Ma chính là một điển hình giúp con người ta định hình được sức hút thực sự của một người đàn ông là đến từ đâu.

3. Có giới hạn, biết kiểm soát hành vi của mình

Trong xã hội kinh tế hàng hóa, cám dỗ khắp nơi như hiện nay, đàn ông đích thực là người có tinh thần tự giác kỷ luật, biết kiểm soát hành vi của mình, không bị sự ăn chơi hưởng lạc như những cám dỗ thế tục bên ngoài làm lung lay.

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều người lại nói rằng "đàn ông sau khi có tiền sẽ trở nên tệ hơn", có những người đàn ông, khi đã thay đổi là sẽ quên đi cái tâm ban đầu của mình, đánh mất đi phẩm giá của mình.

Đàn ông có sức hút thực ra chỉ cần là một người đàn ông tốt, biết giới hạn, không ăn chơi s.a đ.ọ.a, biết quan tâm tới gia đình, người thân, biết dành thời gian cho người thân hơn là cho những buổi tụ tập không đâu bên ngoài.

4. Chu đáo, nhiệt tình

Một người nhiệt tình, luôn vui vẻ giúp đỡ người khác, chắc chắn là một người rất được yêu mến, đặc biệt là khi sự nhiệt tình ấy khiến người khác cảm thấy vui vẻ, bạn tự nhiên sẽ trở nên có sức hút hơn trong mắt người khác.

Trong cuộc sống, ai cũng hy vọng rằng người khác sẽ để ý tới cảm xúc cũng như những thay đổi nào đó ở mình. Đàn ông có sức hút là một người chu đáo, biết để ý tới người khác, chú ý tới sự thay đổi tích cực của ai đó, rồi cho họ lời khen động viên khích lệ kịp thời. Đàn ông như vậy, bất kể là trong mắt ai cũng đều sẽ rất hấp dẫn.

Bất kể nói thế nào thì sức hút người đàn ông không chỉ là vẻ ngoài hút mắt mà còn là cái đẹp về mặt tâm hồn. Vẻ ngoài thu hút có thể sẽ khiến người khác muốn tìm hiểu bạn, nhưng thứ giữ chân họ lại bên cạnh bạn lâu dài lại chính là phẩm chất đạo đức, tính cách, tâm hồn và trí tuệ của bạn. Vẻ ngoài có thể thay đổi, có thể già đi, tiền nhiều tiêu cũng có thể hết, nhưng chiều sâu nội tâm bên trong, tầm cao trí tuệ chính là thứ đánh dấu sự khác biệt giữa bạn và những người đàn ông khác.

Tony Buổi Sáng Fan Club (St)

Sunday, November 26, 2023

Về một sĩ phu đã rời xa cõi tạm

Từ cái chết của một sĩ phu bàn về mã hậu pháo của dân mình

Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ, cái tên nói lên bản chất con người, là một chiến sỹ thông tuệ, để lại trên đời một tấm gương khí khái của một nhà tu luyện, một sĩ phu. Tấm thân mỏng manh như lau sậy nhưng thản nhiên nhìn thế sự đảo điên với con mắt bình thản, dù gió to bão lớn ập đến ông vẫn ngẩng cao đầu làm một ngọn đuốc thắp sáng lương tri con người. 

Rất tiếc sau khi ông qua đời mới được biết tên ông, nếu không cũng cố để xin gặp để đàm đạo và học hỏi. Lão phát hiện các bạn trên nền tảng mạng hay cả ngoài vỉa hè xứ này có cùng một bệnh là “Mã hậu pháo”. Đây là thuật ngữ của cờ tướng tức nói vuốt đuôi, chuyện qua rồi mới rầm rộ, hoặc chê bai, hoặc ca ngợi, hoặc thương tiếc. Mã hậu pháo còn có thể giải thích như một làng nọ bị bọn du côn ập đến cướp bóc hãm hiếp phụ nữ nhưng mấy ông tự xưng là "hảo hớn" lại sợ xanh mắt trốn trong ụ rơm. Khi bọn cướp đi rồi mới dám chui ra cầm súng bắn thị uy. 

Một ông nhà văn viết cũng tương đối được, chưa phải xuất sắc đến tận mây xanh. Khi sống chẳng thằng nào ca ngợi, chắc e rằng ca ngợi ông này sẽ làm giảm sự nổi trội của mình. Đến khi ông nhà văn kia nằm xuống mới đồng loạt ngợi ca, mới đưa cả ảnh chụp chung để chứng minh tình hữu. “Wow, đây là một ngôi sao sáng của văn đàn Việt Nam cận đại. Một triết gia, một cây bút số một, một bậc thầy văn chương…”, tức là có những từ ngữ gì hay đều tuôn ra ca ngợi một người đã khuất. Tại sao các vị phát hiện muộn thế? Lúc còn sống thì chẳng một lời, khi chết rồi mới đưa lên sóng để ca ngợi xướng tụng mần chi cho tủi cái linh hồn kẻ quá cố. 

Tất cả những vụ tham những đen tối khi mấy ông tham nhũng còn ngồi ghế quan lớn có chức có quyền thì chẳng ma nào dám xoi mói, nói bóng nói gió. Đến khi nhập khám mới moi ra đủ chuyện, từ xe cộ nhà cửa mộ phần đến từng chi tiết hàng ngày. Đây chính là mã hậu pháo!

Một kẻ tham lam vô đáy như Trương Mỹ Lan khi còn chưa xộ khám thì chẳng thấy ma nào nhìn ra những thủ đoạn kiếm tiền bẩn thỉu phạm pháp. Mọi người nhìn mụ và gia tộc bằng con mắt ngưỡng mộ đến ghen tuông, nhưng có nói lên được nửa lời nào đâu? Đến khi mụ rách việc, cả một dàn giao hưởng mới đồng thanh cất lên lời chê bai nguyền rủa để hả hê cái thói dân nghèo đấu địa chủ. Có nhiều ông hơi chút tiếng tăm trên phây đàn còn kỳ công chắp nhặt những tin từ chính thống đến vỉa hè tranh thủ làm một bài “Luận về lòng tham lam vô đáy” để kiếm lấy ít nhiều like từ những dân vãng lai không thích đọc báo. Lướt trên phây đều thấy những bài chửi rủa phanh phui mụ Trương Muội hầu như giống nhau, đều là tin mà báo chí đã đưa. Chẳng vị nào có một bài luận ra hồn, đưa ra những tin mới mẻ để dân tình biết thêm về cái lòng tham vô tận của vợ chồng mụ, biết thêm về tại sao một con mẹ buôn thúng bán mẹt ở chợ mà bỗng dưng chuyển mình từ con gà mái ướt mưa để trở thành Phượng hoàng danh giá đất Sài Thành. Đào sâu thêm về thế lực chống lưng cho mụ, về kẻ đứng sau bầy mưu tính kế cho mụ. Xin tiết lộ, kẻ đằng sau mụ chính là thằng chồng người Hồng Kông của mụ. Tay này từ một gã tiếp thị một loại bia của Đức sau khi đến Việt Nam định mở rộng thị trường ở dây thì duyên trời đưa đẩy gặp ngay Trương Muội. Hai linh hồn đều khát “Nắng sớm cùng mưa chiều”, tức đều nghèo quẫn khát tiền, tâm đầu ý hợp gặp nhau thì nẩy lửa. Trương Muội được tay chồng bàn bạc bắt tay mồi lên nhóm lửa đầu rồi cứ thể lan ra như mồi lửa đốt cháy đồng nội cỏ khô triền miên chứ bộ óc Muội nghĩ thế đéo nào ra những mưu ma chước quỷ được ! Cộng thêm nắm được quan hệ của họ Trương trong hệ thống chính trị bấy giờ. Các chiêu trò này, với lòng tham này là sao y bản chính của dân Hồng Kông làm nên hệ sinh thái Vạn Thịnh Phát. Chồng Trương Muội - Chu Nap Kee sau khi vợ xẩy ra chuyện đã bán tức tối lỗ vốn căn biệt thự cao cấp trên núi và nhiều bất động sản giá trị tại Hồng Kông. Đặc tính của dân nghèo Hồng Kông là ngưỡng mộ đến mù quáng những người giàu có, thành đạt ở mảnh đất này và tìm mọi cách, bất chấp thủ đoạn để có tiền, để hơn người, để ở nhà cao cửa rộng, giao lưu với thượng tầng xã hội, kiến thức, con chữ không cần thiết mà chỉ sợ nghèo khó hẩm hiu bên rìa xã hội. 

Quay lại sĩ phu Thích Tuệ Sỹ hay thầy Thầy Thích Nhất Hạnh đều là những nhà tu hành đáng kính trọng, đáng được lắng nghe họ giảng giải về đạo lý về Phật pháp, nhưng khi họ còn sống thì giới truyền thông quá ít giới thiệu lan tỏa về họ ngoài mấy người thân cận viết nhưng lượng và chất rất hạn hẹp. Đến khi họ cưỡi hạc về Tây phương mới rầm rộ truyền tin tán dương về đạo đức, công hạnh. Đây là một điều đáng tiếc cho xã hội. Nếu như những bài ngợi ca ông được tung ra trong khi ông còn sống thì hay biết mấy.

Tương tự như có một tay chém gió thành bão trên cõi mạng, may có đệ Hoài Bắc chém cho vài nhát nghe cũng sướng mê li hôm ra sách. Nhưng hắn cũng khát nắng sớm cùng mưa chiều. Mấy bữa ni môi khô thiếu rượu mà chẳng thấy thằng đệ tử nào rủ đi nhậu. Chán thế kia chứ! Chẳng nhẽ để thầy xa rời cõi trần chúng mới cho uống rượu? Người chết có nghe được đâu? Có uống được đâu? …kkk

Peter Pho

Saturday, November 25, 2023

TẢN MẠN ĐÊM KHÔNG NGỦ

Nếu biết mình không thể

Rực rỡ như nắng thu,

Thì chí ít cố gắng

Không làm đám mây mù.

*

Mỗi ngày ta được sống

Là thêm một món quà

Mà Thượng Đế hào phóng

Ban tặng cho chúng ta.

Vậy, một ngày được sống,

Hãy sống tốt một ngày.

Vì mai mốt có thể

Không còn món quà này.

*

Đừng buồn khi người khác

Tỏ ý nghi ngờ mình.

Để khỏi bị lấn cấn,

Hãy tin vào chính mình.

*

Cuộc sống luôn thay đổi.

Đó là luật, chúng ta

Đơn giản phải tìm cách

Thích nghi và vượt qua.

*

Đừng bận tâm chuyện cũ

Rồi vương vấn suốt ngày,

Trừ phi rút kinh nghiệm

Để tránh nó sau này.

*

Đừng nguyền rủa bóng tối.

Lại càng không khóc rên.

Thay vào đó, lặng lẽ,

Hãy thắp một ngọn đèn.

*

Không có gì bế tắc.

Tuyệt vọng lại càng không.

Bế tắc và tuyệt vọng

Chỉ khi ta nản lòng.

*

Biết cho, biết tha thứ

Và vui vẻ mỉm cười

Là ba cái có thể

Làm giàu một con người.

*

Để thực sự hạnh phúc,

Ta chỉ cần ba điều:

Một, có được ai đó

Để nhớ và thương yêu.

Hai, có công việc tốt

Để đi làm hàng ngày.

Ba, có một mơ ước

Để nâng ta lên mây.

*

Nguyên nhân của thất bại

Hay thành công, thực ra

Không phải do hiểu biết,

Mà ý chí của ta.

*

Với đất nước, dân tộc,

Để nội chiến xảy ra

Là tội ác lớn nhất

Của các chính trị gia.

Các chính trị gia ấy,

Ít học và bất tài,

Cướp quyền bằng vũ lực

Là tội ác thứ hai.

*

Chúng ta ăn để sống,

Hay sống để mà ăn?

Câu hỏi ấy nhàm chán

Ta được nghe nhiều lần.

Thường ít ai suy nghĩ

Để tìm câu trả lời.

Trả lời sai hay đúng

Sẽ sai đúng suốt đời.

*

Hoặc là ta buông bỏ,

Hoặc sẽ bị kéo đi.

Tự ta phải quyết định

Nói gì và làm gì.

*

Người thông minh, đức độ

Ắt có lời nói hay.

Người có lời nói hay

Chưa hẳn đã đức độ.

*

Người đi tìm chân lý,

Có hai sai lầm sau:

Một, giữa chừng bỏ cuộc.

Hai, không dám bắt đầu.

*

Ấn tượng ta để lại

Không phải ta làm gì,

Mà cách làm điều đó.

Làm thế nào thì tùy.

*

Vết thương sâu đến mấy,

Rồi có ngày cũng lành.

Trái tim dữ đến mấy,

Cũng có lúc hiền lành.

*

Đại dương không từ chối

Một giọt nước mưa nào.

Hãy mỉm cười đáp lại

Khi có ai đang chào.

*

Đừng lo sợ cái chết.

Hãy lo sợ cuộc đời

Mà ta chưa từng sống

Với đúng nghĩa con người.

*

Khi sợ hãi kết thúc

Cuộc sống mới bắt đầu.

Tình yêu chỉ đâm nụ

Khi hoàn toàn tin nhau.

*

Đừng bao giờ tìm cách

Tự lừa dối chính mình.

Ta có trốn đâu nữa,

Cũng mang theo chính mình.

*

Vì lý do nào đấy

Ta trót chọn nhầm đường,

Thì hãy chọn đường khác.

Việc ấy cũng bình thường.

Biết chấp nhận thất bại -

Ứng xử của người khôn.

Đường có nhiều, cứ chọn.

Thời gian luôn vẫn còn.

*

Khi ta đủ tin tưởng

Đánh giá mình ra sao,

Tự khắc ta sẽ biết

Mình phải sống thế nào.

*

Muốn học hỏi kinh nghiệm,

Hãy ngoái nhìn phía sau.

Muốn ước mơ, bay bổng,

Hãy nhìn lên, ngẩng đầu.

Muốn hiểu biết thực tại,

Hãy đưa mắt nhìn quanh.

Hãy nhìn vào tâm thức

Để tìm hiểu chính mình.

*

Đôi khi ta cứ tưởng

Ta lựa chọn, thực ra.

Chính hoàn cảnh cuộc sống

Đã lựa chọn chúng ta.

*

Chúng ta thường thay đổi

Vì hai lý do sau:

Một, do ta khôn lớn.

Hai, do bị đánh đau.

*

Cuộc đời ta đang sống

Giống như một dòng sông.

Có người xuôi theo nước.

Có người bơi ngược dòng.

Xuôi hay ngược đều tốt,

Tùy mục đích từng người.

Nhưng đứng yên một chỗ

Là để phí cuộc đời.

*

Có thể ta không biết

Mục đích của đời mình.

Nhưng ai sống cũng có

Mục đích của đời mình.

*

Thiên nhiên không hối hả,

Mà mọi thứ tuyệt vời.

Sao ta cứ hối hả

Bận rộn với sự đời?

*

Nếu không có trật tự,

Thế giới thành hỗn mang.

Tuy vậy, thiếu hỗn mang,

Sẽ không có tiến hóa.

*

Một người phải đủ lớn

Để chấp nhận sai lầm.

Đủ khôn để học hỏi

Kinh nghiệm từ sai lầm.

Nhưng để sửa chữa nó,

Thì nhất thiết con người

Phải mạnh và ý chí

Để làm lại cuộc đời.

*

Không ai vấp phải núi.

Cái ta vấp thường xuyên

Là những cái bé nhỏ,

Thậm chí không có tên.

Vấp những cái nhỏ ấy,

Nhiều người thích kêu ca.

Không biết kêu như thế,

Ta tự làm nhỏ ta.

*

Một người nhìn cuộc sống

Chỉ hai màu trắng đen,

Sẽ không bao giờ thấy

Cầu vồng đang mọc lên.

*

Dẫu biết đời bèo bọt,

Tiền bạc chẳng là gì.

Nhưng tiền cần lắm đấy.

Kiếm được thì kiếm đi.

*

Không thể học chân lý.

Chân lý chỉ nhận ra.

Mỗi trải nghiệm cuộc sống

Là chân lý sâu xa.

*

Sai lầm tệ hại nhất

Của nhiều người, tiếc thay,

Là họ tưởng họ thức,

Dù đang mơ ban ngày.

*

Những người vượt thời đại

Về hiểu biết, tầm nhìn,

Bị đám đông thù ghét,

Vì không hiểu, không tin.

*

Sống mà không ý nghĩa,

Thì cái chết sau này

Cũng trở thành vô nghĩa.

Luôn vẫn thế xưa nay.

*

Ở nước quản lý tốt,

Nghèo đói là đáng chê.

Ở nước quản lý xấu,

Giàu có là đáng chê.

Khổng Tử nói điều ấy

Hàng nghìn năm trước đây.

Mình là ai, tự biết.

Hãy suy ngẫm điều này.

*

Tình yêu và lòng tốt

Là cái có bẩm sinh.

Sợ hãi và cái ác

Xuất hiện lúc mưu sinh.

*

Điều tệ hại duy nhất

Còn hơn cả mù lòa,

Là khi có đôi mắt

Mà không thể nhìn xa.

Thái Bá Tân

Friday, November 24, 2023

Câu chuyện Trung Đông: Israel, Palestine và Jerusalem (2)

(tiếp theo  & hết)

Người DT bị Ottoman đè bẹp ngay trên xứ sở của mình hoặc hành hương/phiêu dạt đi khắp nơi cho đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện 1 người DT xuất chúng có tên là Theodor Herzl, ông là 1 phóng viên và cũng là nhà văn, đã vượt lên tất cả với ngòi bút của mình để nhắc người DT ko quên nguồn gốc và tôn giáo DT của mình.

Herlz đã gọi lại tên của miền đất hứa để người DT trở về. Ông xuất bản sách về nhà nước DT và lập luận rằng: vấn đề của người DT chỉ có thể giải quyết bằng việc thiết lập 1 nhà nước DT ở Palestine. Những người DT tha hương bắt đầu trở về Palestine, nơi có Jerusalem 3000 năm trước. Những ước vọng của họ được thổi bùng lên khi đế quốc Ottoman suy yếu dần cùng với các lãnh thổ bị mất, nhiều nơi đã vùng lên đòi quyền tự trị trở thàng quốc gia độc lập tách khỏi Ottoman. Sau Thế chiến thứ nhất, Đế quốc Ottoman đã chọn sai phe khi cùng liên minh với đế quốc Áo-Hung và bị đánh bại. Khi Thổ Nhĩ Kỳ cũng tuyên bố độc lập là lúc Đế quốc này hoàn toàn sụp đổ. Thiên Chúa giáo đã đánh bại HG, tuy nhiên, từ những hiểm họa HG trong quá khứ, người Anh và Pháp đã phân chia lại hàng loạt quốc gia.

Sau Thế chiến thứ 2, người DT đã đạt được mục đích lập quốc từ sự đền bù của Anh và Mỹ trước tinh thần kiên định của họ. Với 33 phiếu thuận, 13 phiếu chống và 10 phiếu trắng, Đại hội đồng LHQ đã chia phần Đông Palestine thành 2 nhà nước: Israel và Palestine.

Jerusalem, vùng đất thánh từng là kinh đô của vua David, sau khi nhà nước Israel hình thành, trở thành đặc khu được LHQ bảo vệ. Tuy nhiên sự va chạm giữa 2 tôn giáo DT và HG do bị ảnh hưởng bởi phong trào chủ nghĩa dân tộc của tôn giáo mình thờ phụng, các quốc gia Ả Rập đã ko chấp nhận tình trạng này. Bằng mọi cách, họ ngăn cản việc thành lập quốc gia cho người DT ở Palestine. Sau khi người DT chính thức tuyên bố thành lập nhà nước Israel vào ngày 14 tháng 5 năm 1948, các nước Ả Rập đều tuyên bố không công nhận nhà nước Israel.

Đây là nguyên nhân của cuộc chiến tranh Ả Rập – Israel 1948. Liên quân Ả Rập (Ai Cập, Syria, Jordan, Liban, Iraq, Ả Rập Saudi và Palestine) đã hợp lại để tiêu diệt Israel. Nhưng Israel, dù là 1 quốc gia mới thành lập, đã đánh bại đội quân này. Người DT gọi đây là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, còn người Palestine HG coi đây là thảm họa của họ. Cuộc chiến tranh này là sự xung đột từ tôn giáo đến lãnh thổ, từ lịch sử đến biên giới.

Đến 1967, nổ ra cuộc chiến tranh 6 ngày. Khi đó, bằng những hành động gây hấn của Nasser, bao gồm việc phong tỏa Eo biển Tiran và triển khai quân đội tại bán đảo Sinai, Ai Cập đã gây nên sức ép quân sự và kinh tế lên Israel. Mỹ thì đang trù trừ vì vướng vào cuộc Chiến tranh Việt Nam*. Trong tình thế như vậy, về mặt quân sự Israel thấy rằng: chỉ còn một khả năng có thể xoay chuyển được tình thế là đánh phủ đầu. 

Nội các Israel nhóm họp ngày 23 tháng Năm quyết định mở cuộc tấn công nếu Eo biển Tiran không được mở trở lại vào ngày 25 tháng Năm. Và Israel đã đi đến quyết định: nếu như Mỹ không làm gì còn LHQ án binh bất động, thì họ phải tự hành động. Ngày 1 tháng Sáu, tướng Moshe Dayan được cử làm Bộ trưởng Quốc phòng Israel. Israel đã sẵn sàng. Về lực lượng và trang bị thì tôi biết LX đã viện trợ cho Ai Cập và các quốc gia trong liên minh chống Israel nhiều vũ khí hiện đại hơn những loại giúp cho Việt Nam (trong cùng thời gian chiến tranh chống Mỹ) nhằm chống lại Israel trong 1 trận chiến toàn diện, không chỉ giới hạn ở biên giới Syria hay Ai Cập, với mục tiêu là hủy diệt Israel. Thế nhưng họ vẫn không thể đánh bại được người DT mà còn phải chấp nhận 1 đất nước Israel nhỏ bé nhưng vô cùng mạnh mẽ đã giành phần thắng trong 1 cuộc chiến vô cùng dữ dội chỉ trong vòng 6 ngày để hoàn toàn làm chủ vùng đất Đông Jerusalem, dải Gaza, bán đảo Sinai, bờ Tây và cao nguyên Golan cho đến ngày nay.

Israel lại 1 lần nữa chiến thắng, nhưng lần này khủng khiếp hơn, họ chiếm luôn Jerusalem khiến các nước Ả Rập phải cầu hòa.

Israel sau chiến thắng -1967 (NY Times)

Tất cả những mâu thuẫn tại Trung Đông là ko thể hàn gắn. Cả 3 tôn giáo đều coi Jerusalem là vùng đất thánh linh của mình: vua David chọn đây là kinh đô, Đất Thánh, nơi vô cùng quan trọng đối với người Kitô giáo, đây là nơi sinh ra Chúa Jesus thành Nazareth*, Chúa đã giảng đạo, bị đóng đinh và phục sinh ở đây và cũng từ đây nhà tiên tri Muhammad bay lên thiên đường từ thánh đường đá. Jerusalem từ lâu là điểm hành hương và cũng là nơi tranh chấp của 3 tôn giáo.

Đến nay, Israel vẫn đứng vững, liên tục phát triển và đã trở thành 1 quốc gia hùng mạnh ở Trung Đông. Dân tộc DT luôn nhớ đến Theodor Herzl, người bằng ngòi bút đã thay đổi số phận của họ. Ông đã viết ra Tuyên ngôn độc lập cho Israel, như người Cha tinh thần của đất nước. Israel chọn 1 ngày đặt tên của ông, đó là ngày lễ Quốc gia hàng năm. Người Israel hiện nay, nam cũng như nữ, luôn sống trong tư thế của những người cầm chắc tay súng để bảo vệ vùng đất của tổ tiên mà họ chỉ có lại sau 1 lịch sử đầy đau thương và đẫm máu nhưng vẫn phải đối mặt với những âm mưu gây ra thảm họa diệt chủng, bị xóa tên trên bản đồ thế giới. Để chống lại, Israel đã ko nhượng bộ, ko thỏa hiệp, vì vậy tiếng súng ko bao giờ ngừng trên vùng đất này.

"Lịch sử người Do Thái có thể được mô tả như một chuỗi những đỉnh điểm và thảm họa nối tiếp nhau. Nó cũng có thể được coi là một miền liên tục không dứt của việc học hành kiên nhẫn, sự cần cù năng suất và thói quen cộng đồng mà phần lớn trong đó không được ghi lại. Nỗi buồn tìm thấy tiếng nói khi niềm vui câm lặng. Nhà sử học phải ghi nhớ điều này. TRẢI QUA HƠN 4000 NĂM, NGƯỜI DO THÁI CHỨNG TỎ MÌNH KHÔNG CHỈ LÀ NHỮNG NGƯỜI SỐNG SÓT VĨ ĐẠI, MÀ CÒN ĐẶC BIỆT KHÉO LÉO TRONG VIỆC THÍCH ỨNG VỚI CÁC XÃ HỘI NƠI SỐ PHẬN XÔ ĐẨY HỌ, VÀ TRONG VIỆC TÍCH LŨY BẤT CỨ TIỆN NGHI NHÂN VĂN NÀO MÀ NHỮNG XÃ HỘI NÀY MANG ĐẾN."**

"Người Do Thái tạo nên một bản sắc riêng biệt và cụ thể sớm hơn bất cứ dân tộc nào còn tồn tại đến nay. Họ đã duy trì được nó giữa những nghịch cảnh khủng khiếp cho tới hôm nay. Sức chịu đựng phi thường này từ đâu ra? Sức mạnh ý chí đặc biệt cháy bỏng nào đã khiến người Do Thái khác biệt và giữ cho họ thuần nhất? Sức sống bền bỉ nằm trong bản chất bất biến, hay khả năng thích ứng, hay cả hai?... Liệu lịch sử của họ có cho thấy những nỗ lực như vậy là đáng giá? Hay nó cho thấy họ đã hoài công?"***

Chiến sự ở Trung Đông vẫn đang tiếp diễn, và người DT vẫn còn phải chứng tỏ và trả lời những câu hỏi trên bằng lịch sử mà họ đang tiếp tục viết trong thời đại hiện nay. Chắc chắn chắn thế giới ko có người DT sẽ là nơi hoàn toàn khác. Nhân loại rốt cuộc có thể đã tình cờ phát hiện ra những hiểu biết của người DT. Nhưng chúng ta ko thể chắc chắn.


(*): Giêsu (chữ Nôm: 支秋,[6] còn được viết là Giê-su, Giê-xu, Yêsu, Jesus, Gia-tô; khoảng 4 TCN – 3 tháng 4, 33 SCN), còn được gọi là Giêsu Kitô, Jesus Christ, hay Gia-tô Cơ-đốc là một nhân vật lịch sử người Do Thái, nhà giảng thuyết, người sáng lập ra Kitô giáo vào thế kỉ thứ 1. Tên gọi Giêsu trong tiếng Hebrew đọc là Yehoshua (có nghĩa "Đức Chúa là Đấng Cứu Độ"), thường được gọi vắn tắt là Yeshua (ישוע). Đối với người đương thời, Giêsu còn được gọi là Giêsu thành Nazareth, hoặc Giêsu con ông Giuse. Từ Kitô (tiếng Latinh: Christus, tiếng Hy Lạp: Χριστός Khristós, hay Cơ-đốc theo phiên âm Hán Việt) là một danh hiệu của Giêsu, có nghĩa là "người được xức dầu", nhằm chỉ ông là đấng Messiah, đã được tiên báo trong Cựu Ước. Những gì chúng ta biết được về Giêsu là do được ghi chép trong Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là trong bốn sách Phúc Âm.
Những nguồn thông tin chính về cuộc đời và những lời dạy của Giêsu là bốn sách Phúc Âm quy điển, đặc biệt là trong Phúc Âm Nhất Lãm,[8][9] mặc dù nhiều học giả cho rằng những văn bản như Phúc Âm Tôma và Phúc Âm Hebrew cũng xác đáng.
Trong Hồi giáo, Giêsu (tiếng Ả Rập: عيسى‎, chuyển tự là Isa) được xem là một nhà tiên tri quan trọng của Thiên Chúa, người mang lại Injil (Phúc Âm), và là người làm những phép lạ. Hồi giáo cũng xưng nhận Giêsu là Đấng Masih (Messiah), nhưng họ không dạy rằng Giêsu mang đặc tính thần linh. Quan điểm của Hồi giáo cho rằng Giêsu đã lên thiên đường cả linh hồn và thể xác nhưng không trải qua việc đóng đinh vào thập tự giá và phục sinh, khác với niềm tin truyền thống của Kitô giáo về cái chết và sự phục sinh của Giêsu.
(Wikipedia)
(**): trích Lịch Sử Do Thái của Paul Johnson (Phần Bảy: Zion)
(***): Paul Johnson
Những nữ chiến binh (hình ảnh chọn từ net)