Wednesday, April 8, 2015

MỘT TRẮC NGHIỆM XÃ HỘI HỌC ... BẤT NGỜ

Chiều nay 8/4/2015, tôi có 3 giờ dạy Đại số Tuyến tính cho lớp Cử nhân Tài năng K59 Toán ĐH KHTN Hà Nội. Bắt đầu giờ giảng, tôi bỗng có hứng làm một trắc nghiệm xã hội học. Tôi hỏi: Các em có biết Trần Đức Thảo là ai không? Tất cả 14 sinh viên của lớp, nam thanh nữ tú, vốn được xếp vào hàng tinh hoa nhất của sinh viên Việt Nam hiện nay, nhìn nhau, lúng túng. Một lúc sau, chừng 2-3 bạn cùng trả lời: "Có lẽ Trần Đức Thảo là con Trần Đức Lương"!
Giời ạ! Tôi đã hình dung ra cảnh không một sinh viên nào biết Trần Đức Thảo. Nhưng quả thật tôi không đủ trí tưởng tượng để tiên liệu một câu trả lời... bất ngờ đến thế.
Tôi nói với các bạn sinh viên: Rất có thể chỉ 50 năm nữa thôi, sẽ không một ai còn nhớ đến Trần Đức Lương. Nhưng sẽ tồn tại lâu dài với lịch sử một Trần Đức Thảo rực rỡ, với tư cách nhà triết học Việt Nam duy nhất, cho tới ngày hôm nay, được thế giới ngưỡng mộ. Đó là một trong những giáo sư hàng đầu của Đại học Tổng hợp Hà Nội, tiền thân của chính Đại học mà các bạn đang theo học.
Thấy các sinh viên có vẻ băn khoăn về vế thứ nhất trong hai vế của đoạn trên, tôi hỏi các bạn ấy: Hãy lấy nhà Nguyễn làm một ví dụ. Sau Nguyễn Ánh, các em có biết tên thật của bất kỳ ông vua Nguyễn nào khác, từ Minh Mạng, đến Thiệu Trị, Tự Đức... hay không? Câu trả lời dường như chắc chắn là không. Chẳng những "không" đối với các em, mà còn "không" đối với tuyệt đại đa số dân Việt Nam.
Tôi cũng nhân dịp này kể cho các bạn sinh viên vài nét chấm phá về số phận vinh quang và cay đắng Trần Đức Thảo.
Đêm về, khó ngủ. Bèn ghi lại trắc nghiệm xã hội học hôm nay.
Cúi xin GS Trần Đức Thảo khôn thiêng chứng giám.

Nguyễn H. V. Hưng

Tuesday, April 7, 2015

Bồ câu và chính trị gia

Hai bà già cho bồ câu ăn.
Một bà lên tiếng: - Bà thấy không,
những con bồ câu này giống như
các chính trị gia.
- Sao lại thế?
- Vì khi còn đang ở dưới đất, chúng
ăn từ tay mình, nhưng khi lên trên
đó thì chúng ị lên đầu mình!



See How Diseases Spread in These Mesmerizing Graphics

These pictures aren't just pretty.
They can help us predict how an epidemic will spread across the globe: http://b-gat.es/1IDPGlN

This map shows dozens of hypothetical routes traveled by the H1N1 flu virus, based on data from the 2009 swine flu pandemic. N. Samay & Mobs Lab


You’re an H1N1 influenza virus—swine flu—just hanging out in Hanoi, Vietnam. But now it’s time to spread and infect. How should you go about your global epidemic? To navigate, you can use this map, which shows the paths that would take you from Hanoi to every corner of the globe. Want to go to Ft. Lauderdale? Just transfer in New York. Or, if you’d rather go to Baton Rouge, first go through Singapore and then New Orleans.
Called Epi-Rail, this map is just one of dozens of network visualizations being displayed at the New York Hall of Science from now until May 31. It sure is pretty, but it’s not just for looks. It was built with a computer modeling program, called the Global Epidemic and Mobility Model (or GLEAM), that epidemiologists are using to predict the paths that epidemics will follow across the globe—so they can cut them off before they get out of control. In this case, the group used data from the real 2009 outbreak of swine flu to see all of its potential trajectories if it were to spread from Hanoi.
GLEAM, a project out of Northeastern University, is an epidemic forecaster 10 years in the making. It combines data on population—where people live down to a resolution of 25 square miles—along with how people commute and travel, characteristics of disease, and possible responses like travel restrictions and vaccination efforts. After crunching all this data, the model spits out a simulation of how a disease might propagate across the globe. “It doesn’t tell us exactly what’s going to happen in a deterministic way, but it’s important to policymakers who have to make decisions,” says Alessandro Vespignani, the computational scientist whose team built the model. “It gives you an idea of what to expect.” The colored paths depicted on the Epi-Rail map are just a few of the thousands of potential paths—represented by the gray lines in the background—that a swine flu pandemic could follow.

This map shows a hypothetical outbreak of swine flu from Hanoi. The size of each circle is proportional to the population; the redder the color, the earlier the virus infected that area. In the bottom right, the arcs are proportional to the number of places infected at 30-day intervals. N. Samay & MOBS Lab

 In the gallery above, you can see several different types of maps and network diagrams that GLEAM generated, each with slightly different variables that affect where and when a disease is transmitted. Knowing all of those possibilities can help health workers, policymakers, and epidemiologists prepare for worst-case scenarios. They can also help to choose the most effective protective steps. Using the software, researchers can input different policy responses, like restricting travel or changing flight routes, and watch as they change the epidemic’s path over space and time. Using their model to study the real H1N1 pandemic in 2009, Vespignani’s team correctly predicted that the virus would peak in October and November (normal influenza usually tops out in January or February).
Unfortunately, good models can only do so much. Even though the team made their H1N1 predictions a couple months before the virus reached its peak, their work didn’t have as much of an impact as it could have because the vaccine just wasn’t available yet, says Gerardo Chowell, a mathematical epidemiologist at Georgia State University. Still, he says, the model is one of the best ones out there—and its continued use is essential to preventing future outbreaks.
This year, the GLEAM team has been using their model to predict the spread of Ebola. Their first model, published in January, came too late to help mitigate the first wave of the disease, thanks to low availability of good data coming out of the region. But it correctly predicted that the disease would taper off, while others predicted that the epidemic would continue to spread. The difference is that Vespignani’s model uses population data that takes into account things like who belongs to which household and who might be taking care of whom—thus increasingly likelihood of transmission. “Other models assume random mixing, basically that each individual in the population has the same chance of getting the disease,” Vespignani says. “Those models without structure would predict very quick growth.”
The success of GLEAM points to a need for lots of epidemiological information, early and often. Often, the necessary data aren’t available right away, especially in the case of the recent Ebola epidemic in West Africa. “We need a framework or a platform where the expert groups can have access to these data and be able to calibrate their models,” Chowell says. “If you don’t have the data, you can’t expect to generate good models that will reliably forecast the threat of the disease.” Had the GLEAM team’s Ebola models come out in August or September, Chowell says, they would’ve been even more useful.
Now, with the worst of the epidemic over, the team is continuing to study the disease as it (hopefully) continues to decline. The model is also helping researchers study how well current vaccination efforts are working. The outbreak isn’t over yet, having killed more than 10,000 people. But it looks like if you’re an Ebola virus, you no longer have a ride.
(WIRED)

Monday, April 6, 2015

Chúa đo con người

KHI ĐO CON NGƯỜI,
CHÚA đưa thước dây đến trái tim,
không phải đến vòng eo của con người.





Félmilliárdot csalt a könyvvizsgáló-maffia

A bűnszervezetet egy 48 éves debreceni nő vezette, a nyomozás végén 43 gyanúsított ellen emeltek vádat.

Egy könyvvizsgálókból és adószakértőkből álló bűnbanda félmilliárd forintot csalt el a kkv-knak állami garanciával hiteleket nyújtó Széchenyi Kártya programmal, amíg le nem csapott rájuk a NAV.
A szakembermaffia számlákat hamisított, banki igazolásokat manipulált, és fiktív mérlegadatokat gyártott, hogy sikeresnek tüntessen fel kis cégeket, amiket stróman ügyvezetők vezettek, ezeken keresztül pedig nagy összegű vállalati hiteleket vett fel több ismert banktól.


A kiutalt hiteleket aztán továbbutalták vagy felvették,
újabb cégek feltőkésítésére használták, amiknek a
nevében aztán újabb hiteleket vettek fel. 

A pénz útját keresztező és fedő műveletekkel, téves, követhetetlen, látszólag rendszertelen, de valójában előre megtervezett átutalásokkal álcázták, a lopott pénzt pedig különböző cégek könyvelésében tisztára mosták.
A bűnszervezetet egy 48 éves debreceni nő vezette, őt már letartóztatták, egyik társa viszont szökésben van, ellene nemzetközi elfogató parancs van érvényben. A NAV kedden azt nyilatkozta az MTI-nek, hogy a nyomozás végén 43 gyanúsított ellen emeltek vádat, akiket különösen nagy kárt okozó pénzmosással és bűnszervezetben elkövetett csalással gyanúsít a Hajdú-Bihar Megyei Főügyészség.

CSD (Index)

Sunday, April 5, 2015

Osho

Câu hỏi đích thực không phải là
có cuộc sống sau khi chết không.
Câu hỏi đích thực là bạn có sống
trước khi chết không.



200 éve tört ki a vulkán, ami megölte a nyarat

Kétszáz éve a Tambora hegy folyékony tűzzé változott az írott történelem legnagyobb vulkánkitörésében. De neki köszönhetjük a biciklit.

Pillangóhatásnak nevezik azt az elméletet, ami a legközérthetőbb, bár túlzó és pontatlan példa szerint azt a folyamatsort takarja, amikor egy látszólag apróságból, például az örvényekből, amit egy pillangó szárnycsapásai keltenek, olyan nagy dolgok kerekednek, mint egy tornádó. Vagy mondjuk mikor kitör egy vulkán a Holland Antillákon, és egy év múlva eltűnik egy évszak. Ez utóbbi már nem olyan nagy túlzás, pontosan 200 éve kezdődött az az eseménysor, ami miatt 1816 lett az év, amikor nem volt nyár. 

1815. április 5-én a Tambora vulkán hatalmas robbanással tört ki több évszázadnyi nyugalom után. A robbanást még egy 1400 kilométerrel odébb is hallották az emberek, de ekkor még nem is lehetett sejteni, hogy a kitörésnek korántsincs vége. Öt napon át hullott a vulkanikus hamu a környéken, a kísérő hangokat a 2600 kilométerrel odébb fekvő Szumátrán puskaropogásnak hitték az emberek. Aztán április tizedikén megtörtént a kitörés, amit az írott történelem legnagyobbjaként szoktak emlegetni.


Hetes, vagy szuperkolosszális

Helyi idő szerint nagyjából este hét körül a Tambora tulajdonképpen felrobbant, a hegy folyékony tűzzé változott. 20 centiméteres izzó szikladarabok záporoztak a környéken, este tízkor pedig már a hamu hullott, de olyan vastagon, hogy a súlya alatt házak omlottak össze több száz kilométerrel odébb is.
Az eredetileg 4300 méter magas hegycsúcs a kitörés után 2851 méteres maradt. 140 milliárd tonna, vagy 160 köbkilométernyi anyag mozdult meg, vagyis lett hegyből nem hegy.
 
A tengerre visszahulló hamu kilométer hosszú szigeteket hozott létre, a hajók mozdulni sem tudtak a megváltozott halmazállapotú közegben. A vulkánkitörési index nyolcas skáláján hetes minősítést, vagyis szuperkolosszális besorolást kapó kitöréskor keletkezett hatalmas hamufelhő nemcsak 43 kilométeres magasságba emelkedett fel, de a légáramlatokba kerülő apró részecskék szinte a teljes északi féltekét beborították.
Pont ez, vagyis a napsütés egy részét visszatükröző koromfelhő volt az, ami miatt nem is feltétlenül arra a hatvanezer halottra emlékezünk a Tambora kitörése kapcsán, akik közvetlenül a vulkán felrobbanásakor, az ekkor keletkező cunamiban, vagy az események után következő rövid időn belül haltak meg.
A vulkánból felszálló takaró miatt a világ átlaghőmérséklete 0,4-0,7 Celsius-fokkal csökkent,
ami hamarosan igen komoly mezőgazdasági problémákhoz vezetett. Akkoriban csak annyit vettek észre az emberek, hogy tavasszal nem történik meg igazán az, aminek tavasszal történnie kéne. Tartósabb volt a hideg, csak nem akart jönni a nyár, de annyira nem, hogy 1816 júniusában még hó is esett több észak-amerikai nagyvárosban.
Québecben például 30 centis hó volt június második hetében.
A nyári őrület mellé ráadásul durvább telek is jöttek, és az időjárás úgy általában véve megbolondult a levegőben keringő finom részecskék, illetve a kitöréskor felszabadult, hatalmas mennyiségű kén-dioxid miatt.
A klímaváltozás az élet minden területét összezavarta. Az olyan közvetlen hatások mellett, mint az USA-ban és Európa több pontján is pusztító éhínség mellett tífuszjárvány kezdődött Délkelet-Európában, illetve a mediterrán területek egy részén. A zavar megakasztotta az esős évszakot Indiában, összesen három aratás maradt ki, az éhínség miatt kolerajárvány tört ki a Gangesz mentén, de a betegség Moszkváig is eljutott. Kínában a rizsföldek, erdők, de még a vízi bivalyok is elpusztultak a szokatlan hidegben, az esős időszak megkavarodása miatt hatalmas árvizek söpörtek végig a Jangce vidékén.

Nem volt egyértelmű

A kutatók azonban csak jóval később kezdték el összekötni az okot az okozattal. A Tambora kitöréséről a híradástechnikai eszközök szinte teljes hiánya miatt az európai ember eleve csak hónapokkal később szerzett tudomást. Egyes szakértők szerint ráadásul nemcsak ez az egy, amúgy valóban kivételesen óriási vulkánkitörés volt minden gond okozója. 1812 és 1814 között még négy másik komolyabb vulkánkitörés is volt, a Nap aktivitása is szokatlanul alacsony stádiumban volt, ráadásul Európa a napóleoni háborúk miatt amúgy is komoly élelmezési és közegészségügyi gondokkal küszködött.
Az 1815-ös események miatt kialakuló anomáliák, miatt a termés nagy része vagy meg sem termett, vagy hasznavehetetlen volt, az árak pedig a magasba szöktek. Egyes számítások szerint Európában 1816-ban kétszázezren haltak éhen, de a megáradó folyók, a járványok és a különböző erőszakos események (mindennapos volt például a magtárak körüli forrongás, Svájcban statáriumot vezettek be) miatt is nagyon sokan pusztultak bele az időjárás-változásba.
Ugyanakkor számos, ma már pozitívnak mondható változást is elindított az amúgy tragikus eseménysor. A kerékpár kialakulása például erre az időszakra tehető, egy német feltaláló ekkoriban állt elő egy olyan eszközzel, ami képes volt helyettesíteni az akkor közlekedési eszközként egyeduralkodó lovat, aminek egyszerűen nem jutott elég abrak a mezőgazdaság összeomlása miatt. Karl Drais nevéhez két találmány is kötődik, ő (és persze néhány társa) alkotta meg az emberi erővel működő sínhajtányt, és ők dolgozták ki az első, lábbal hajtott kerékpárt is, ami pár év múlva hihetetlen sebességgel kezdett terjedni a világban.

A művészeket is megihlette

A furcsa időjárási körülmények a művészet egyes ágaira is komoly hatással voltak. A modern kor embere pontosan tudja, hogy a legszebb, tűzben égő naplementéket a városi szmog rajzolja az égre, de 1816-ban még nagyon csodálkoztak az emberek, hogy mitől változtak meg ennyire a szürkület és a hajnal színei. Számtalan, az akkori körülményeket bámulatosan pontosan ábrázoló festmény született, legtöbbször J.M.W. Turner 1828-as festményét idézik, ami pontosan ugyanazt a sárgával túltelített árnyalatú eget mutatja, amit 1992-ben, Hongkongban láthattak az emberek, a Pinatubo kitörésekor a levegőbe került hamu és por miatt.


Természetesen egy ilyen szintű eseményt az irodalom is megörökített. Közvetlen, a kitörést leíró beszámolóból nem sok van, hiszen egy ilyen eseményt nem sokan élnek túl azok közül, akik a saját szemükkel látták, ahogy felrobban egy 4200 méteres hegy.

Azonban a borús időjárás, illetve az emiatt felerősödő zárkózottság és elszigeteltség következtében született Mary Shelley Frankensteinje, illetve George Gordon Byron ekkor írta több olyan művét is, aminek alapeleme volt a reményvesztettség. Legjobban talán a Sötétség című vers néhány, Tótfalusi István által lefordított sora írja le az akkori hangulatot:
Reggel jött, ment, jött – s nem hozott napot,
S az emberek feledtek szenvedélyt
A puszta rettenetben, és szivük
Önző fényt kérő imává fagyott:
Őrtüzek körül éltek, és a trónt,
Felkent királyok várát, házukat
És minden élő minden lakhelyét
Felgyújtották; sok nagy város kihamvadt
S mindenki égő otthona köré gyúlt,
Hogy egymás arcát utóljára lássák.
Kolbert András (Index)

Saturday, April 4, 2015

Miért eszünk sonkát húsvétkor?

Tényleg, miért ünnepeljük Jézus feltámadását egy olyan étellel, ami tilos volt számára?

Ha húsvét, akkor hagyományosan tojás és sonka kerül az asztalra. A tojás még érthető is, mint az (újjá)születés szimbóluma, de a sonka, mint tradicionális húsvéti étel már nem ennyire egyértelmű. Sőt, ha jobban belegondolunk, valójában teljesen logikátlan, hiszen Jézus zsidó volt, és a zsidó hagyományok szerint a sertéshús tisztátalan, nem szabad megenni. De akkor miért ünnepeljük a feltámadását egy olyan étellel, ami tilos volt számára?


A válasz egyszerű: a húsvéti sonkának semmilyen vallásos alapja nincsen, egyszerűen praktikus okok miatt úgy alakult a hűtőgép feltalálása előtti évszázadok során, hogy tavasszal volt a szezonja.
Az első megbízható, elektromos hűtőgépek nagyjából száz évvel ezelőtt kerültek kereskedelmi forgalomba, és az 1920-as évek második felében, a Frigidaire cég (miattuk hívjuk máig fridzsidernek a hűtőt) modelljeinek sikere nyomán kezdtek elterjedni. Az ezelőtti évszázadokban a húsoknak is szezonjuk volt, ahogyan a gyümölcsöknek és zöldségeknek. A disznóvágás például azért történt mindig hagyományosan a tél elején Európában, mert a nagy mennyiségű húst a hidegben lehetett könnyen eltartani aránylag sokáig anélkül, hogy megromlana. Meg persze azért is, mert ősszel még volt bőven mivel etetni a malacokat, télen meg már nem.

 
A sonka, amit tradicionálisan pácolással és füstöléssel tartósítottak, elég sokáig bírta; tavasszal, mire eljött a húsvét, nagyjából csak ez maradt meg a téli disznóvágásból. Mivel egyébként is a legjobb minőségű húsok közé számított, a sonka adta magát, hogy a nagyböjt után az elfogyasztásával ünnepeljék az emberek húsvétot.
A sonkával ellentétben a Magyarországon nem annyira elterjedt, de világszerte egyébként jellemző másik húsvéti húsétel, a bárány abszolút vallásos tradíció és jelkép. Egyrészt a zsidó disznóhús-tilalom miatt Jézus idejében a bárányhús volt a tipikus ünnepi étel (valószínűleg az Utolsó vacsorán is ezt ették az apostolok), másrészt a bárány Jézus, mint Isten báránya jelképe is.
Hanula Zsolt (Index)

Ezek a buta olaszok, körbeépítettek egy fát úttal, ahelyett, hogy

Magyarországon bármilyen jelentősebb építkezés úgy kezdődik, hogy valahol nekiállnak fát vágni. És hogy csinálják az olaszok? 

mint a magyarok, szélsebesen és gondolkodás nélkül, a közmunkásokra bízva a piszkos munkát, kivágatták volna.

Haász János (Index)

Mỗi người chúng ta...

Mỗi người chúng ta trong cuộc đời
đều có một bí mật không thể nói ra,
một giấc mơ không thể đạt được, và
một tình yêu không thể quên được.



Haknizott a Fradi-sas, ezért rúgták ki

Fradista saskabaré, hihetetlen fordulattal és bűnronda sassal, ami nem is néz ki sasnak.

 Nem szűnik a vihar a Ferencváros kabalaállata körül. A régit lecserélték, a klubbal amúgy is haragban álló, a stadionon kívül maradt drukkerek ezen nagyon kiadtak. Jött az új sas, ezt pedig gyakorlatilag mindenki utálja. A riválisok hangosan nevetnek az új kabalaállaton.
A Blikk úgy tudja, hogy a régi Fradi-sast azért váltották le, mert annak megszemélyesítője, Nagy Imre az elmúlt időszakban 20 ezer forint plusz üzemanyagköltségért vállalt fellépéseket, többek közt születésnapi zsúrokon is megjelent. A hazai mérkőzésekre pedig méregdrága VIP-jegyekkel mehetett be a Groupama Arénába.
Természetesen a sas is megszólalt. "Három karszalagot kértem a mérkőzésekre, nekem és a segítőimnek. Pénzt a Ferencvárosi Torna Club rendezvényein soha nem kértem. Az öregfiúk csapat ajánlott fel a benzinpénz mellé 20 ezer forintot, de az egyedi eset volt. Valóban, néhányszor eljártam zöld sasként születésnapra, vagy akár esküvőre is, ilyenkor legfeljebb üzemanyag-térítést fogadtam el. Ám ha varratni vagy tisztíttatni kellett a jelmezt, akkor én álltam a költségeket".


 Ami az új sast illeti, óriási felháborodást váltott ki a szurkolók körében. A valóban borzasztó kreáció a szurkolók mindössze 6,5 százalékának tetszett. Nem csak a klub hivatalos Facebook-oldalán, de a különböző szurkolói csoportok is nagyon lehúzták a sasra fikarcnyit sem hasonlító kabalaállatot. Újpest polgármestere, a nagy UTE-szurkoló hírében álló Wintermantel Zsolt is a közösségi oldalon cikizte a legnagyobb riválist. Borítékolni lehet, hogy a többi ellenféltől is kap majd hideget-meleget az új Fradi-sas.
(Index)

Friday, April 3, 2015

TRUST

Sự tử tế

Không phải ai cũng cảm kích
đỉều mà bạn làm cho họ.
Bạn phải tự xác định ai  xứng
đáng nhận được sự tử tế của bạn
và ai là người chỉ biết lợi dụng nó.



Yêu...

Hôm nay, tôi mơ một giấc mơ. Mơ tôi được yêu. Được yêu bởi chính người tôi yêu. Điều đó khiến tôi cảm giác hạnh phúc vô cùng. Chỉ muốn sống mãi trong giấc mơ đó. Muốn được mãi chìm đắm trong thứ tình yêu đó. Chìm đắm trong ánh mắt người đó dành cho tôi. Cái cảm giác người đó xuất hiện ở bất kỳ đâu khi tôi đến sao mà lại hạnh phúc đến vậy. Cảm giác có thể chạm nhẹ vào người mình yêu. Cái cảm giác chỉ cần nhìn thấy người đó thì đã cảm thấy thực sự không có gì còn có thể làm mình hạnh phúc hơn nữa. Tình yêu đó lớn lao vậy sao? 

Trở về thực tại. Trở về nơi tôi đang thực sự sống. Tôi cảm thấy trân trọng cuộc đời này hơn. Dù tôi có được tình yêu của người đó hay không cũng không quan trọng. Quan trọng là bên tôi luôn có những người thực sự yêu thương tôi như bố mẹ tôi, gia đình yêu dấu của tôi, những người bạn của tôi, và thậm chí là những người tôi không hề quen biết... Cái suy nghĩ được sống trong tình yêu thương không nhất thiết phải là của người mình yêu mà chỉ cần từ những người luôn luôn bên mình nó cũng làm mình hạnh phúc vô cùng rồi. Không bao giờ gạt mình ra khỏi cuộc sống của mình. Nâng mình lên khi mình gục ngã. Và nhất là không bao giờ coi mình là người xa lạ. Luôn luôn trả lời những tin nhắn của mình nhanh nhất. Gọi lại ngay khi không thấy mình nhắn tin trả lời.

Những giằng xé trong mình. Liệu người mà mình yêu kia có làm được những điều như vậy không? Có yêu mình hơn tất cả như mình mất công làm như thế không? Tất cả là ở mình. Nếu mình có những suy nghĩ tích cực thì mình sẽ luôn sống trong hạnh phúc mặc dù không nhận được tình yêu từ người mà mình yêu thậm chí còn nghĩ là mình yêu tha thiết.  Đối với mình bây giờ mà nói chỉ cần ai đó thực sự quan tâm mình chỉ từ một ánh mắt thôi cũng khiến mình cảm kích vô cùng. Có thể chỉ là con bạn lang thang theo mình đi dạo loanh quanh mà không cần biết đi để làm gì, đi đến đâu. Cùng mình ăn những món mình thích. Thoải mái nói về những gì mình thích. Nghe những điều điên rồ từ mình. Thậm chí là những lời than vãn sến sẩm nhất. Ừ mình chỉ cần như vậy thôi.
Chỉ cần một người trên thế giới này còn có thể thấu hiểu được mình vậy là quá đủ rồi.  Tình yêu mà mình mộng tưởng đẹp thật. Nếu là một nhà văn chắc mình sẽ biến nó thành cuốn tiểu thuyết tình yêu bán chạy nhất thế giới mất. Vậy thì liệu người đó có yêu mình không? Ngốc nhỉ?"
Mem giấu tên (MN12CS)

Thursday, April 2, 2015

Tôi cũng sẽ hạnh phúc

Cho dù cuộc đời vùi dập,
Tôi vẫn đứng vững trên
đôi chân của mình.
Cho dù là đứng vững,
cũng có lúc tôi bị vấp ngã.
Nhưng lúc bị vấp ngã,
tôi luôn biết đứng dậy.
Chứng tỏ cho mọi người
biết rằng, cuối cùng
tôi cũng sẽ hạnh phúc.



Người Sài Gòn: Cuộc sống Sài Gòn

(tiếp theo)

Người Sài Gòn thời trước thường thay đổi nghề nghiệp, thay đổi nơi cư trú. Một số an phận với sinh kế, làm công chức hoặc tư chức, được xem như là giới tiểu tư sản trung lưu, thường trực tiếp giao thiệp với người Pháp nên ăn uống sành điệu, thích đọc báo chữ Pháp rồi giải thích cho giới bình dân nghe. Đồng bạc Đông Dương hồi đó ổn định trong 1 thời gian dài, vì vậy họ sống thoải mái, uống rượu chát nhập cảng, vợ ở nhà có thể đánh bài... tứ sắc (thời trước 1945), năm ba đứa con có thể theo bậc trung học để rồi tiếp tục nghề cạo giấy. Nhạy bén về tin tức, khi đúng, khi sai, họ gây được sự tin cậy trong khu phố về chính trị. Nói chung, họ giữ liêm sỉ, tránh làm mất lòng chòm xóm, trong mọi dịp ma chay, hôn lễ tuy tổ chức đơn sơ, vẫn có mặt. Gọi là phong cách bình dân của người đàng hoàng! Phải chăng đây là tâm trạng hồn nhiên của người đi xa quê, tìm lại sự ấm áp "láng giềng gần hơn bà con xa".
Đâu từ hồi năm 1930 về sau, người Sài Gòn đã quen thuộc với bóng dáng anh ký giả, mỗi sáng ngồi quán bình dân, uống cà phê đen, trò chuyện và hỏi han tin tức, nghe lời khen chê của giới lao động. Ngồi bên anh ký giả là anh kéo xe kéo, anh phu khuân vác, lề đường có chị bán cháo lòng. Và ngồi chồm hổm bên chân anh, luôn có nụ cười của cậu bé đánh giày. Bởi vậy, khi nghe tin người ký giả bị chủ báo đuổi, thất nghiệp tạm thời, hoặc bị bắt vì tội... "liên can chính trị" thì mọi người đều xúc động. Gắn bó với giới bình dân thì báo mới bán chạy. Phải nhắc nhở về đời sống của giới lao động, đòi hỏi "điện nước" cho xóm nhà lá, chống việc đuổi đất, đuổi nhà. Rủi như báo bán ế, ít ra cũng ra vẻ "mị dân", vẽ tranh châm biếm với đề tài chú lính "phú-lích" cầm cây dùi cui rượt theo 1 chị hàng rong! Trở lại thời gian tương đối xa xưa hơn, ta thấy Đồ Chiểu là nhà thơ của bình dân, soạn Lục Vân Tiên nhằm đánh thức "hào khí Đồng Nai - Bến Nghé", nước mất nhà tan, không được do dự, lừng khừng. Lục Vân Tiên trở thành 1 dạng "hát bội dân gian", không cần đào kép chuyên nghiệp. Cứ nằm nhà, đọc lên cho con cháu, người hàng xóm nghe, với giọng khi trầm khi bổng. Người mù nói thơ Vân Tiên đã quyến rũ được bao nhiêu bạn hàng tiểu thương chợ Cầu Ông Lãnh; đến thưởng thức rồi tặng chút ít tiền, thậm chí kẻ sĩ cũng đến tán thưởng giây lát, trong không khí ấm áp, hòa hợp vào cộng đồng. Người mù từ Quảng Nam, Bình Định đến tìm sanh kế dễ dàng ở Sài Gòn, điệu "nói thơ Vân Tiên" sớm định hình, mô phỏng giọng "hô bài chòi" của miền Trung.
Thật là thiếu sót nếu không nhắc đến Trần Chánh Chiếu, từng làm hết sức mình cho Cuộc Minh Tân (phong trào Duy Tân), một thời rầm rộ từ Bắc chí Nam mà chủ soái là cụ Phan Bội Châu, bấy giờ chủ trương đổi mới về phong tục, về cách suy nghĩ (theo hệ quân chủ lập hiến của Lương Khải Siêu). Trên báo Tân Văn, họ Trần đã viết bài nói lên thân phận của nông dân, tá điền mặc dù ông là điền chủ và phong trào Duy Tân chỉ nhằm động viên giới điền chủ, công chức.
Cũng ở thời đó, Nguyễn An Ninh không ưa đám thanh niên chải chuốt, đi ra nửa bước đã ngồi xe, ông muốn một cách sống tự do mà "cần lao" như dân đi rừng làm rẫy; quần áo vải bô, chiếc nóp, đãi cơm, bầu nước, rồi là mênh mông đâu cũng là nhà. Ông thấy nếu chỉ sống quanh quẩn trong nhà là 1 cuộc sống tù túng, ông không chịu được.
Trương Vĩnh Ký, nhà học giả của Sài Gòn gây được sự mến mộ nhờ phong cách bình dân, áo dài đen, đi giày hàm ếch, khăn đóng, đặc biệt là bới tóc, tuy tiếp xúc thường xuyên với người Pháp. Châm ngôn của ông là "Thường bả nhất hành chánh đạo" rút từ luân lý Khổng Mạnh, được hiểu là quan điểm "chánh đạo", tùy thời, thành thật. Bài thơ sau cùng nhằm tự phán xét: "Học thức gởi tên con sách nát. Công danh rốt cuộc cái quan tài... Cuốn sổ bình sanh, công với tội. Tìm nơi thẩm phán để thừa khai."  Ông chú trọng việc giới thiệu những gì thích hợp với giới bình dân và trung lưu. Huỳnh Tịnh Của là người đã đi theo con đường của ông.
Và Huỳnh Mẫn Đạt, Cử Trị, Thủ Khoa Huân được nhắc nhở nhờ thơ ca mang tính bình dân, dễ tiếp thu.

Không đánh kẻ thất thế, "té ngựa". Có lỗi, hễ xin lỗi thành thật, thì bạn bè thông cảm, bỏ qua. Đã là bạn, nói chuyện bình đẳng, như người dân bình thường, không ưa kẻ xưng chức tước, quan quyền. Người giàu phải giữ thái độ khiêm tốn trước bạn bè, tự xem như "kẻ nhà nghèo" nhưng có nhiều tiền hơn bạn mà thôi. Nhiều ràng buộc phong kiến đã bị xóa, ngoài ý muốn, vì sinh kế phức tạp ở xứ lạ, không như việc làm ruộng ngày nào ở nông thôn.
Tình nghĩa bạn bè gắn bó hữu cơ với sinh kế, tạo sự cân bằng về tinh thần, khiến người tha phương bớt nhớ nhà. "Ở đâu ta có nhiều bạn bè là quê hương ta ở đó". tin vào bạn, làm cho bạn tin cậy mình. Sống với bạn, nhận xét bạn qua cảm tính.
Ở khu vực giao lưu, dễ tìm bạn bè, vì bạn tìm đến ta và ta phải tìm đến bạn. "Bà con một xứ", do tình cờ nhận ra: người cùng sinh quán, cùng 1 dòng sông, chợ làng. Dịp đám giỗ, ăn đầy tháng cho con, đám cưới, mặc dù bạn học hành ít, quần áo lôi thôi, phải mời đến, trân trọng, dành riêng chỗ ngồi, như người trong gia đình. Lại còn bà con, cùng đầu ông cố, hoặc cháu của người đã kết tình thông gia với người bà con! Ruột thịt, thân mến, còn là người hào hiệp đã giúp đỡ, thuở mình mới lên Sài Gòn, tuy sau này ít gặp nhau.
Thời trước, thay đổi nơi cư trú là chuyện dễ dãi về thủ tục hành chính. Lắm người lên Sài Gòn chừng mươi năm mà nơi cư trú thay đổi cũng mươi lần, lý do là nhà mướn, chủ nhà đòi lại, hoặc khá giả hơn, dời chỗ, hoặc suy sụp, bán nhà tốt để tìm nơi cất tạm ngôi nhà nhỏ cho hợp túi tiền.
Vì sinh kế, thời trước lắm người không nghèo mà thích sống chật hẹp dưới gầm cầu, che lều trong hẻm, hoặc mua chiếc thuyền nát, trên bãi bùn. Ở gần chợ hoặc trung tâm dịch vụ dễ chọn nghề, đúng thời cơ, rủi thất nghiệp, bạn bè dễ tìm để giới thiệu chỗ làm. Gần nơi làm việc, tha hồ thức khuya dậy trễ, không tốn thời giờ và sở phí di chuyển. Mướn 1 xó, vừa đủ đặt chiếc ghế bố, ngủ xong xếp gọn lại. Hoặc cả nhà vợ con ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều ở quán, đến tối gom về... Ít tốn kém hơn là nấu cơm, cả gia đình ăn chung. Lại còn người từ Gò Vấp, Hóc Môn, Thủ Đức, Tân An, thậm chí từ Mỹ Tho đến Sài Gòn làm việc, ở những sở ổn định, đôi ba ngày về nhà 1 lần, buổi trưa tạm nghỉ ở nhà bạn. Bạn bè là người giúp đỡ trực tiếp.
Trong tình hình giá cả rượu và thức ăn chẳng quá cao, ai cũng dễ tỏ ra hiếu khách. Gặp gỡ dịp đám cưới, đám giỗ, thường hỏi địa chỉ nhau. Đây chẳng phải là thực dụng vụn vặt, nhưng là sự cần thiết để lo cho ngày mai. Trong tình hì Sài Gòn cần phát triển, mở mang, tạo thêm dịch vụ, cần nhân công đáng tin cậy, cần người quản lý, lắm khi người chủ cơ sở chỉ biết tin cậy vào bạn bè. Lắm người quen thân có khi lại chưa giúp nhau được, nhưng có khi người mới quen lần đầu lại có đủ khả năng. "Thương người như thể thương thân". Trong bước đường lưu lạc, qua guồng máy kinh tế khá phức tạp của Sài Gòn, gặp 1 cơ hội tốt, là có được khả năng cải thiện đời sống, nên cửa nên nhà.
Mỗi người cố giữ tư cách, giữ chữ tín. Giá trị con người là ở hành động, việc làm, nào phải ở lý thuyết suông. Rất ghét những người nói nhiều mà không làm được, "năng thuyết bất năng hành". Bạn thân, người cùng nghề, phải giữ "đạo nghệ", "điệu nghệ" - một từ khó truy nguồn gốc. Đạo nghĩa, đạo ngãi là việc nhơn ngãi. Theo Huỳnh Tịnh Của, chữ "nhà nghề" được giải thích là người lái buôn, "Đạo đi buôn" là nghề buôn bán, phận sự kẻ đi buôn bán phải làm thế nào.
Có câu ca dao nay ít phổ biến: "Đạo nào vui cho bằng đại đi buôn. Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông". Khi đi trên sông, đi biển, mấy tiếng "điệu nghệ giang hồ", thái độ hào hiệp, không thành văn bản mà ai cũng tuân theo, đó là những khi gặp thuyền của bất kỳ ai kêu cứu, phải lập tức đến giúp đỡ ngay, cứu vớt vô điều kiện. Có "điệu nghệ" của giới xe đò, giới đua ngựa, ăn mày, tiểu thương...
Gặp mâu thuẫn gay gắt, khó xử, dùng biện pháp thô lỗ, đánh đấm, nhưng sâu sắc nhất vẫn là đến chùa miễu, thề 1 tiếng rồi bỏ qua. Tòa án của thế tục không công bằng như tòa án của lương tâm, của người khuất mặt (thần thánh).
Bạn bè kết nghĩa ngày xưa, thường gia nhập Thiên Địa Hội, Hội kín. Kiểu hội kín lan tràn đến Việt Nam từ Hồng Kông và Singapore cùng làn sóng nhập cư của người Hoa mà thực dân Pháp cố ý dung túng. Những "cái bang", từng nhóm nhỏ kết nghĩa với nhau, thề "hoạn nạn tương cứu, sanh tử bất ly" kiểu Đào viên kết nghĩa trong Tam Quốc. Các nhóm này liên kết, do 1 bộ máy bí mật chỉ huy. Ban đầu là trên lý tưởng chung sức đánh đổ người Tây phương, lần hồi suy thoái, chỉ còn mục đích cấu kết nhau để nắm độc quyền về thương mại, thầu dịch vụ bốc xếp ở bến tàu, yểm trợ cho bọn chủ xe đò, nắm quyền ngành ăn uống khách sạn. Ai muốn có sở làm, phải vào hội. Người cầm đầu 1 nhóm nhỏ lãnh chức "đại ca". Khi không còn sức mạnh để đánh đổ thực dân, họ trở thành những nhóm anh hùng hảo hớn, gây náo loạn, gọi nôm na là bọn "du côn"; sẵn sàng đâm chém, trả thù cho phe nhóm. Cảnh sát ít khi can thiệp vì là chuyện nội bộ...
Trong 1 thời gian dài, lúc khủng hoảng về hệ tư tưởng yêu nước, lớp nghèo thành thị, giới sản xuất  nhỏ, tuy sợ sệt nhưng vẫn thán phục vài thành tích của vài "anh chị".
Về sau, càng ngày Thiên Địa Hội càng tàn lụi. Bọn "đại ca" bắt em út cung phụng rượu thịt vì đã quen thói hưởng lạc. "Ăn nhậu" trước kia là hình thức, cung cách "hoạt động" đã trở thành nội dung thô bỉ của sự kết nghĩa, giành xôi thịt, rồi gây sự để đâm chém; lâu ngày không ra tay là tự cảm thấy vô dụng, thiếu lý do để tồn tại.
Khi có phong trào Nguyễn An Ninh, những cuộc bãi công tự phát của công nhân, rồi Đảng của giai cấp công nhân ra đời thì các hội kín mới tan rã. Giúp đỡ lẫn nhau trở thành phong cách phổ biến, nhất là trong thời Đảng gây cơ sở, phong trào Mặt trận Bình Dân rồi qua 2 kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ sau này.
Lúc tang khó thăm viếng nhau, thành thật, không vụ lợi. Người Việt cúng chùa người Hoa ở Chợ Lớn, người Hoa cúng chùa người Việt hoặc viếng Lăng Ông Bà Chiểu, đình làng, dịp lễ hội hàng năm. Một số chùa Việt Nam ở Chợ Lớn được trùng tu khá tráng lệ, nhờ vào sự đóng góp của người Hoa, người Minh Hương, nhất là của các bà, các cô người Việt lấy chồng người Hoa.
(Còn nữa)

Wednesday, April 1, 2015

CHA MẸ

CHA MẸ
chỉ có một, hãy kính trọng
và thương yêu CHA MẸ!
Nếu bạn đã làm tổn thương
CHA MẸ, hãy xin CHA MẸ
tha thứ chừng nào bạn còn có
thể làm được điều đó. Đừng
để lâu vì có ngày bạn sẽ nhận
ra là đã muộn mất rồi!



Đọc sách: Các cường quốc giáo dục trên thế giới

Công thức chung nào
để đào tạo nên những đứa trẻ thông minh?

Bạn đọc đang cầm trên tay một cuốn sách rất hấp dẫn. Không phải ngẫu nhiên, ngay từ khi xuất bản, tháng Bảy năm 2014 đến nay, Những đứa trẻ thông minh nhất thế giới luôn giữ vị trí đầu bảng trong danh mục sách về Giáo dục nói chung và Giáo dục trẻ tài năng nói riêng tại Mỹ. Tác giả cuốn sách, Amanda Ripley, một phóng viên của nhiều tờ báo nổi tiếng ở Mỹ, người từng được trao tặng hai giải thưởng báo chí quốc gia, đã viết cuốn sách này, xuất phát từ một thực tế rằng điểm kiểm tra PISA của học sinh Mỹ trong độ tuổi 15 thấp hơn so với nhiều quốc gia khác, đặc biệt là điểm toán học. Cô đã theo chân ba học sinh trao đổi của Mỹ, đến những đất nước có điểm PISA đứng đầu thế giới, là Hàn Quốc, Phần Lan, Ba Lan để khám phá những bí mật giúp các nước này đào tạo nên những học sinh tài năng.
Thực ra, nếu bạn từng đọc cuốn sách Những kẻ xuất chúng của Malcolm Gladwell, bạn sẽ phần nào hiểu được nguyên nhân vì sao học sinh các nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Singapore, Philipines… lại giỏi toán đến vậy. Tôi nghĩ hẳn Amanda Ripley không xa lạ với tác phẩm của Malcolm Gladwell và cách lý giải của ông. Nhưng cô vẫn muốn tìm ra những nguyên cớ mà nhờ đó có thể giúp nước Mỹ cũng như phần còn lại của thế giới (cách dùng từ của tác giả) soi chiếu vào chính sách giáo dục của nước mình, soi chiếu vào chính những công dân sống trong đất nước mình, để tìm ra giải pháp khả thi.
Qua quan sát và trải nghiệm cùng ba học sinh trao đổi Mỹ, Amanda đã rút ra những nguyên nhân làm nên thành công trong học tập cho ba đại diện thế giới là Hàn Quốc, Phần Lan và Ba Lan. Ở Phần Lan, giáo viên được tuyển chọn hết sức khắt khe và khác với nhiều quốc gia, trở thành nhà giáo ở nước này là việc vô cùng khó. Họ cho rằng “cách duy nhất để nghiêm túc về giáo dục là lựa chọn giáo viên có trình độ cao, những người giỏi nhất và thông minh nhất trong mỗi thế hệ.” Những người sẽ trở thành giáo viên trong tương lai sẽ được đào tạo một cách nghiêm ngặt nhất. Amanda nhận định rằng: “Đó là một chiến lược hoàn toàn cấp thiết mà ít quốc gia làm được.” Amanda còn nhận ra một điểm hết sức quan trọng, không chỉ giúp các học sinh ở những siêu cường giáo dục đạt điểm số rất cao, mà còn là phẩm chất cần có cho bất kỳ thành công nào, đó là sự tận tâm. Chính sự tận tâm (cùng tính kiên trì) sẽ dẫn đến khả năng chịu trách nhiệm, tính chăm chỉ và có tổ chức. Sẽ không quá khi nói rằng, sự tận tâm đem đến thành công cho một người còn hơn cả trí thông minh hoặc nền tảng xuất thân của người đó. Đó là một lý do không mới, nhưng để làm được điều đó, người ta phải tự khắt khe với chính mình. Bài học ấy vẫn luôn có ích cho bất kỳ ai, trong bất kỳ hoàn cảnh nào và làm công việc gì.


Trong suốt những năm tháng gắn bó với nghề báo, tại tờ Time cũng như nhiều tạp chí khác, tôi luôn tìm cách né tránh những câu chuyện giáo dục. Nếu các biên tập viên đề nghị tôi viết về trường học hay các kỳ thi, tôi sẽ phản đối bằng cách đưa ra ý tưởng về chủ nghĩa khủng bố, các tai nạn máy bay hay đại dịch cúm chẳng hạn, để trốn tránh. Việc làm đó của tôi luôn có tác dụng.
Tôi chỉ nói vậy thôi chứ kỳ thực những câu chuyện giáo dục có vẻ khá đơn giản. Các bài viết có tựa được in bằng phông chữ nét phấn và trang trí bằng những nét vẽ bút chì nguệch ngoạc. Chúng đầy ắp những ý định tốt đẹp nhưng thiếu dẫn chứng thực tế. Những người được trích dẫn chủ yếu là người lớn; bọn trẻ chỉ xuất hiện chớp nhoáng trong câu chuyện, mỉm cười và im lặng.
Sau đó, một biên tập viên đã đề nghị tôi viết bài về một nhà lãnh đạo mới ưa tranh cãi về các trường công tại Washington, D.C. Tôi không biết nhiều về Michelle Rhee, ngoại trừ việc cô ta đi giày gót nhọn và chuyên nói “tào lao” trong các cuộc phỏng vấn. Vì vậy, tôi nghĩ đó sẽ là một câu chuyện hấp dẫn, dù nó đồng nghĩa với việc tôi sẽ loạng choạng bước vào làn sương mù mang tên giáo dục.
Nhưng có một điều bất ngờ đã xảy ra trong làn sương mù ấy. Tôi đã dành nhiều tháng trò chuyện với bọn trẻ, các bậc phụ huynh và giáo viên, cũng như những người đã và đang nghiên cứu về giáo dục đầy sáng tạo theo những cách hoàn toàn mới. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng Rhee là một người rất thú vị, nhưng cô ấy không phải là bí ẩn lớn nhất đối với tôi lúc đó.
Bí ẩn thực sự nằm ở câu hỏi: Tại sao một số trẻ học quá nhiều – trong khi số khác lại hầu như không học gì?
Giáo dục đột nhiên ngập đầy dữ liệu; chúng ta biết nhiều hơn bao giờ hết về những gì đang xảy ra hoặc không thể xảy ra – từ vùng này đến vùng khác hay từ phòng học này đến phòng kế bên. Và dữ liệu ấy không tăng thêm chút nào. Dù đến bất cứ đâu, tôi cũng thấy những đợt sóng thăng giáng vô lý liên quan đến kiến thức của trẻ: ở các khu phố giàu và nghèo, các khu phố của người da trắng và da đen, các trường công và tư. Nguồn dữ liệu quốc gia cho thấy các vị trí đỉnh và đáy giống nhau, uốn lượn như một chiếc tàu lượn siêu tốc đủ màu rực rỡ, đầy choáng váng. Người ta vẫn cho rằng một phần những thăng giáng này là do các vấn đề về tiền bạc, chủng tộc hay sắc tộc. Nhưng không hẳn vậy. Một điều gì đó khác nữa cũng đang tồn tại song song với chúng.
Trong vài năm sau đó, khi viết về những câu chuyện về giáo dục nhiều hơn, tôi tiếp tục chạm trán bí ẩn này. Tại trường Tiểu học Kimball ở Washington, D.C., tôi bắt gặp hình ảnh các học sinh lớp 5 cầu xin thầy giáo (theo đúng nghĩa đen) để chúng thực hiện một phép tính chia phức tạp trên bảng. Nếu làm đúng, chúng sẽ nắm bàn tay, giương lên như người chiến thắng và rít giọng: “Được rồi!” Đây là một khu phố nơi có các vụ giết người diễn ra hàng tuần, nơi có tới 18% dân số thất nghiệp.
Ở nhiều nơi khác, tôi bắt gặp những đứa trẻ chán ngán đến đờ đẫn, chúng ngước lên khi một người lạ như tôi bước vào phòng, chờ xem liệu tôi sẽ làm gì để kéo chúng ra khỏi thế giới vô nghĩa ấy.
Tôi chợt tự nhủ đây là điểm khác biệt mà bạn sẽ thấy giữa các khu phố, giữa các hiệu trưởng và giáo viên. Tôi cho rằng một số trẻ đã gặp may, nhưng phần lớn những khác biệt quan trọng chủ yếu đều viện đến thế lực và đồng tiền.
Rồi một ngày, khi nhìn thấy biểu đồ này, tâm trí tôi đã thay đổi.
Về cơ bản, Hoa Kỳ vẫn không có nhiều đổi thay theo thời gian, nhưng hóa ra đó lại là một ngoại lệ. Hãy nhìn vào Phần Lan! Đất nước này lội ngược dòng từ đáy thế giới lên đỉnh, thậm chí không dừng lại để thở. Còn người hàng xóm Na Uy ngay sát vách thì sao? Họ dường như đang trượt dài xuống vực thẳm, dù tỷ lệ nghèo đói ở trẻ em tại đây gần chạm mức 0. Còn Canada, đất nước này đang lảo đảo đi từ lưng chừng đến đỉnh cao ngang tầm Nhật Bản. Nếu giáo dục là một mắt xích trong văn hóa thì liệu sự thay đổi về văn hóa có diễn ra đột ngột đến vậy không?
Khắp nơi trên thế giới, các kỹ năng của trẻ “thăng trầm” đầy bí ẩn và phấp phỏng những hy vọng, đôi khi chỉ trong những khoảng thời gian rất ngắn. Bí ẩn mà tôi đã phát hiện ra ở Washington, D.C. càng trở nên thú vị hơn nhiều khi được quan sát từ bên ngoài. Đa số các quốc gia không nỗ lực đưa trẻ tiếp cận nền giáo dục cao hơn, ngay cả với những trẻ là con em các gia đình khá giả. So với hầu hết các nước, Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình, không tốt cũng chẳng tệ hơn. Tuy nhiên, tại một số ít các quốc gia, vài quốc gia có tư tưởng cấp tiến, một điều khó tin đã xảy ra. Hầu như mọi trẻ em đều được học kỹ năng tư duy phản biện trong các môn toán học, khoa học và đọc hiểu. Chúng không chỉ ghi nhớ các sự kiện; mà còn học cách giải quyết vấn đề và thích nghi với hoàn cảnh sống. Hay có thể nói, chúng được dạy cách tồn tại trong nền kinh tế hiện đại.
Chúng ta giải thích sao về điều đó? Trung bình, trẻ em Mỹ có chất lượng đời sống cao hơn so với trẻ em Nhật Bản, New Zealand, Hàn Quốc, thế nhưng chúng lại kém về toán học hơn nhiều so những đứa trẻ ở các quốc gia này. Thanh thiếu niên có điều kiện nhất tại Mỹ, con của các bậc cha mẹ có học vấn cao, được học tại các trường danh giá nhất thế giới, nhưng lại chỉ xếp hạng 18 về môn toán so với bạn đồng lứa có điều kiện tương tự trên toàn thế giới và đạt điểm số thấp hơn những đứa trẻ có hoàn cảnh khá giả ở New Zealand, Bỉ, Pháp và Hàn Quốc, v.v… Một đứa trẻ bình thường ở Beverly Hills đạt điểm dưới mức trung bình so với tất cả trẻ em tại Canada (ở ngay Canada, chứ không phải tại vùng đất xa xôi nào). Nhìn qua có thể thấy một nền giáo dục tuyệt vời theo các tiêu chuẩn của nước Mỹ chỉ ở trên mức trung bình.
Lúc đầu, tôi luôn nhắc bản thân đừng cường điệu vấn đề. Liệu việc xếp hạng nhất thế giới về kết quả giáo dục có thực sự quan trọng? Thậm chí thứ 10 thì sao? Học sinh tiểu học Mỹ đã làm tốt trong các kỳ thi quốc tế, đặc biệt là ở môn đọc hiểu. Vấn đề chỉ phát sinh ở môn toán và môn khoa học, đồng thời chúng trở nên rõ ràng nhất khi trẻ bước sang tuổi thanh thiếu niên. Đó là khi các học sinh Mỹ đứng thứ 26 trong bài thi tư duy phản biện ở bộ môn toán – một vị trí dưới mức trung bình dành cho khu vực các nước phát triển. Nhưng, như vậy thì sao? Từ trước đến nay, thanh thiếu niên Mỹ vẫn đạt mức trung bình hoặc dưới mức trung bình trong các kỳ thi quốc tế. Điều đó có ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế Mỹ từ trước đến nay đâu; vậy tại sao phải để ý đến nó trong tương lai?
Hoa Kỳ là một cường quốc đa sắc tộc. Chúng tôi có những lợi thế khác lấn át mức trung bình về giáo dục? Chúng tôi có các trường đại học nghiên cứu đẳng cấp thế giới và vẫn tiếp tục đầu tư nhiều hơn nữa vào nghiên cứu và phát triển hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Việc khởi nghiệp ở đây dễ dàng hơn bất cứ đâu trên trái đất. Giá trị của nỗ lực và sự độc lập là mạch nguồn xuyên suốt đất nước cờ hoa này, đã, đang và vẫn mãi như thế.
Nhưng ở bất cứ đâu tôi đặt chân đến với tư cách một phóng viên, tôi luôn thấy những tín hiệu nhắc nhở rằng thế giới đã thay đổi. 2.300 ngày mà những đứa trẻ Mỹ miệt mài trên ghế nhà trường trước khi tốt nghiệp trung học quan trọng hơn bao giờ hết. Ở Oklahoma, CEO của công ty sản xuất những chiếc bánh táo McDonald nói với tôi rằng cô đã gặp khó khăn trong việc tìm đủ số người Mỹ có thể xử lý các công việc trong nhà máy hiện đại – trong thời kỳ suy thoái. Cái thời cần người nhào bột và đóng gói bánh vào hộp đã xa rồi. Cô cần người có thể đọc, giải quyết vấn đề và truyền đạt những gì diễn ra trong ca làm của họ nhưng các trường trung học và Cao đẳng Cộng đồng Oklahoma không cung cấp đủ những người như thế.
Giám đốc của Manpower, một công ty tuyển dụng và đào tạo nhân lực với các chi nhánh tại 82 quốc gia, cho biết một trong những công việc khó tìm người nhất là nhân viên kinh doanh. Trước đây, một nhân viên bán hàng phải “chai mặt” và giỏi giao tiếp. Tuy nhiên, trong vài năm qua, các sản phẩm và thị trường tài chính đã trở nên cực kỳ phức tạp, thông tin luôn có sẵn với tất cả mọi người, kể cả khách hàng. Các mối quan hệ không còn là chiếc chìa khóa vạn năng. Để thành công, các nhân viên bán hàng phải hiểu về các sản phẩm ngày càng tinh vi và biến đổi linh hoạt mà họ đang bán đồng thời nắm rõ các kỹ thuật để tạo ra chúng giống như các kỹ sư sản xuất.
Khá bất ngờ, mức trung bình về học vấn đã trở thành một di sản nặng gánh. Nếu không sở hữu một tấm bằng tốt nghiệp trung học, bạn thậm chí không thể làm việc như một công nhân vệ sinh môi trường ở New York; bạn không thể gia nhập lực lượng không quân. Thế nhưng, khoảng một phần tư số trẻ em Mỹ vẫn bước ra khỏi cổng trường trung học và không bao giờ trở lại.
Cách đây không lâu, không quốc gia nào có tỷ lệ tốt nghiệp trung học cao hơn Hoa Kỳ; đến năm 2009, 20 quốc gia đạt được con số này. Trong thời đại mà tri thức giữ vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, tại sao bọn trẻ lại biết ít hơn những gì chúng nên biết? Bao nhiêu phần trăm các vấn đề của nước Mỹ là do sự nghèo đói hay sự rộng lớn và đa thành phần của quốc gia này? Các điểm yếu của nước Mỹ phần lớn là do thất bại của các chính sách hay văn hóa, của các chính trị gia hay các bậc cha mẹ?
Chúng tôi tự nhủ rằng ít nhất mình cũng đang nuôi dạy những đứa trẻ sáng tạo hơn, chúng có thể không nổi trội ở kỹ thuật điện, nhưng dám lên tiếng, sáng tạo và xác định được những gì khả thi. Tuy nhiên, liệu có cách nào để biết chúng tôi đúng hay sai không?
Những robot Bắc Âu huyền thoại
Các chuyên gia giáo dục đã miệt mài nỗ lực tìm cách giải thích những kết quả rất khác nhau của những quốc gia khác nhau. Họ đã đến thăm nhiều trường học xa xôi trong các chuyến công tác. Họ phỏng vấn các chính trị gia, các hiệu trưởng và lấy số liệu trình chiếu cho những người ở nhà xem. Tuy nhiên, kết luận của họ còn khá trừu tượng.
Lấy Phần Lan, quốc gia đứng hàng đầu thế giới, làm ví dụ. Các nhà giáo dục Mỹ mô tả Phần Lan như một thiên đường trong mơ, nơi mà tất cả các giáo viên được trọng vọng còn bọn trẻ được yêu thương. Theo họ, Phần Lan có được kết quả tuyệt vời này một phần là do quốc gia này có tỷ lệ trẻ em nghèo rất thấp, trái ngược hoàn toàn so với Mỹ. Nếu cứ theo suy luận đó thì chúng ta sẽ không bao giờ thay đổi được cục diện các trường học cho đến khi giảm được tỷ lệ đói nghèo.
Câu chuyện về cái nghèo mang ý nghĩa rất trực quan. Tỷ lệ trẻ em nghèo ở Mỹ rơi vào khoảng 20%, một con số thật đáng xem xét. Trẻ nghèo luôn bị đè nặng bởi áp lực rằng trẻ em không cần phải quản lý. Thường thì chúng học rất ít ở nhà và cần sự giúp đỡ nhiều hơn ở trường.
Tuy nhiên, bí ẩn không dễ giải quyết đến vậy. Nếu nghèo đói là nguyên nhân chính thì chúng ta sẽ phải nói sao về trường hợp của Na Uy? Một hệ thống phúc lợi Bắc Âu với các loại thuế cao, dịch vụ chăm sóc sức khỏe phổ biến, các nguồn tài nguyên thiên nhiên dồi dào, giống Phần Lan, tỷ lệ trẻ em nghèo ở Na Uy cũng chiếm chưa đến 6%, một trong những quốc gia có tỷ lệ trẻ em nghèo thấp nhất thế giới. Na Uy cũng chi một khoản tương tự như Mỹ vào giáo dục, có thể nói, đó là một khoản không nhỏ đối với các nước khác trên thế giới. Thế nhưng, trẻ em Na Uy lại đạt được kết quả không mấy ấn tượng như trẻ em Mỹ trong kỳ thi quốc tế về kiến thức khoa học năm 2009. Có điều gì đó không ổn ở Na Uy và đó hẳn không phải là do nghèo đói.
Trong khi đó, bản thân người Phần Lan lại đưa ra những lời giải thích mơ hồ về thành công của họ. Họ cho hay, giáo dục luôn được coi trọng ở Phần Lan từ hàng trăm năm trước. Đó là lý do của họ. Nhưng tại sao chỉ có 10% số trẻ học hết trung học ở Phần Lan trong những năm 1950? Tại sao có những khoảng cách rất lớn giữa hiểu biết và hành động của trẻ em nông thôn và thành thị ở Phần Lan trong những năm 1960? Có vẻ, niềm đam mê đối với giáo dục của Phần Lan khá thất thường. Chuyện gì đã xảy ra vậy?
Hơn thế, Tổng thống Barack Obama và Bộ trưởng Giáo dục Hoa Kỳ từng nói rằng họ ghen tị với hệ thống giáo dục của Hàn Quốc, với đội ngũ giáo viên có uy tín và các bậc phụ huynh đề cao giáo dục. Ít nhất là ở bề nổi, Hàn Quốc dường như không có điểm gì chung với Phần Lan. Hệ thống giáo dục Hàn Quốc bị chi phối bởi các kỳ thi và thanh thiếu niên Hàn Quốc dành nhiều thời gian cho việc học hơn thời gian trẻ em Mỹ thức mỗi ngày.
Khi nghe những luồng thông tin trái chiều này, trong đầu tôi luôn băn khoăn rằng liệu một đứa trẻ ở trong những vùng đất huyền bí với điểm số cao, không bỏ học và tốt nghiệp đại học trông như thế nào. Liệu bọn trẻ ở Phần Lan có thực sự là những chú robot Bắc Âu mà tôi vẫn được đọc? Những đứa trẻ ở Hàn Quốc nghĩ chúng đang đầu tư xứng đáng để nhận về những trái ngọt sau này? Thế còn cha mẹ chúng thì sao? Không ai nói về họ. Các bậc phụ huynh không quan trọng hơn các giáo viên sao?
Tôi đã quyết định dành một năm đến và khảo sát thực địa tại các quốc gia có trẻ thông minh trên khắp thế giới. Tôi muốn tận mắt nhìn thấy “những chú robot nhỏ” này. Chúng làm gì vào 10 giờ mỗi sáng thứ Ba? Cha mẹ bọn trẻ đã nói gì với chúng khi chúng về nhà? Chúng có vui vẻ không?
Các đặc vụ thực địa
Để gặp được các robot Bắc Âu, tôi cần những “chân trong”: bọn trẻ, những đứa có thể thấy và làm những điều mà tôi chưa từng tự làm được. Vì vậy, tôi tuyển dụng một đội ngũ chuyên gia trẻ để được giúp đỡ.
Trong năm học 2010-2011, tôi đã theo dõi ba thanh thiếu niên Mỹ khi chúng trực tiếp sinh sống tại các quốc gia có trẻ thông minh hơn. Những đứa trẻ này tình nguyện là một phần của dự án khi tham gia vào các cuộc phiêu lưu trao đổi môi trường sống tại nước ngoài, sống xa gia đình trong hàng năm trời. Tôi đến thăm chúng ở nơi ở mới tại nước ngoài và chúng tôi giữ liên lạc thường xuyên.
Chúng là Kim, Eric và Tom, làm nhiệm vụ đưa tôi đến những ngôi nhà chúng đang ở; những quán ăn tự phục vụ và các trụ sở tình nguyện ở một đất nước xa xôi. Kim từ Oklahoma đến Phần Lan, Eric từ Minnesota đến Hàn Quốc và Tom từ Pennsylvania tới Ba Lan. Họ đến từ các vùng khác nhau trên đất Mỹ và cũng ra đi vì những lý do riêng. Tôi đã gặp Kim, Eric và Tom với sự giúp đỡ của American Field Service (AFS), Youth for Understanding (YFU) và Rotary Clubs, các tổ chức điều hành những chương trình trao đổi trên toàn thế giới.
Tôi đã chọn những người Mỹ này như là các cố vấn, nhưng hóa ra, chúng lại là những nhân vật thật sự trong bức tranh tổng thể. Chúng không đại diện cho mọi trẻ em Mỹ và trải nghiệm của chúng cũng không thể phản ánh hàng triệu số phận ở quốc gia sở tại. Tuy nhiên, trong câu chuyện của chúng, tôi tìm thấy phần cuộc sống vốn không xuất hiện trong các chỉ thị về chính sách.
Kim, Eric và Tom luôn khiến tôi thành thực. Chúng không muốn nói về các chính sách bảo hộ hay Mẹ Hổ[1]; không đau đáu trước những khó chịu của người lớn; chúng nói nhiều về những đứa trẻ khác, những ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến cuộc sống của các thanh thiếu niên. Trong suốt thời gian đó, chúng trải nghiệm đủ các cung bậc của một cuộc sống mới, từ căn bếp của gia đình nơi chúng đang sống đến nhà vệ sinh tại trường trung học. Chúng có rất nhiều điều để nói.
Ở mỗi quốc gia, những đặc vụ thực địa người Mỹ của tôi giới thiệu tôi với những đứa trẻ khác, cha mẹ và giáo viên của chúng, các cộng sự trong cuộc tìm kiếm này. Ví dụ, ở Hàn Quốc, Eric đã giới thiệu tôi với Jenny, bạn của cậu, một cô bé có nửa tuổi thơ ở Mỹ và hiện đang sống tại Hàn Quốc. Jenny, một chuyên gia tình cờ về giáo dục, kiên nhẫn trả lời những câu hỏi mà Eric không thể. (Các bạn có thể tìm thấy video phỏng vấn các học sinh của tôi trên trang web của cuốn sách này tại địa chỉwww.AmandaRipley.com.)
Để đưa ra kết luận về những người cung cấp thông tin này trong đúng bối cảnh, tôi khảo sát hàng trăm học sinh trao đổi khác về trải nghiệm của chúng tại Mỹ và nước ngoài. Không giống như phần lớn những người đưa ra quan điểmvề giáo dục tại các nước khác, những người trẻ này được trực tiếp trải nghiệm cuộc sống nơi đây. Tôi hỏi chúng về cha mẹ, trường học và cuộc sống ở cả hai nơi. Câu trả lời của chúng đã làm thay đổi suy nghĩ của tôi về các vấn đề và thế mạnh của nước Mỹ. Chúng biết điều gì làm nên sự khác biệt ở nền giáo dục Mỹ, cả theo chiều hướng tích cực lẫn tiêu cực và không ngại chia sẻ.
Cuối cùng, khi trở về Mỹ, tôi cảm thấy rất lạc quan. Rõ ràng, nước Mỹ đã quá lãng phí thời gian và tiền bạc vào những thứ không cần thiết; hơn bất cứ điều gì khác, trường học và gia đình tại Mỹ có vẻ bối rối trước sự thiếu mục đích rõ ràng mà tôi thấy ở Phần Lan, Hàn Quốc và Ba Lan. Tuy nhiên, tôi cũng không nhìn thấy bất cứ điều gì – ở bất cứ đâu khiến tôi nghĩ cha mẹ, bọn trẻ và các giáo viên Mỹ không thể làm tốt hoặc tốt hơn vào một ngày nào đó.
Những gì tôi thấy đó là toàn bộ thế hệ trẻ được trải nghiệm nền giáo dục mà chúng xứng đáng. Không phải lúc nào thứ chúng nhận được cũng hoàn hảo nhưng ít nhất chúng cũng đã được trải nghiệm. Bất chấp các hoạt động chính trị, hệ thống quan liêu, các hiệp ước công đoàn cổ lỗ và những gì cha mẹ bọn trẻ còn mù mờ – những bệnh dịch phổ biến đáng ngạc nhiên của mọi hệ thống giáo dục ở khắp nơi – nó vẫn diễn ra.
----------
[1]. Mẹ Hổ xuất phát từ cuốn sách Khúc chiến ca của Mẹ Hổ của Amy Chua - người tự xưng là Mẹ Hổ. Sau này, thuật ngữ này được dùng để chỉ những bà mẹ dạy con nghiêm khắc đến tàn nhẫn để chúng có thể sinh tồn trong một xã hội cạnh tranh quyết liệt, không có chỗ cho kẻ yếu hèn. Cuốn sách đã được Alpha Books mua bản quyền và xuất bản năm 2010.
(đăng lại từ Nguyễn Cảnh Bình's wall/FB)

Böngészőből végighajózhatunk a Dunán

Hajózna, de nincs kedve felállni a gép elől? Megvan a megoldás.

Gigantikus sajtóközleményt adott ki a Google arról, hogy „elkészült a hat Duna menti ország három fővárosát - Budapestet, Pozsonyt és Belgrádot -, több más települését és a Duna-parti természetet, így például a Dunakanyart is hajóról bemutató Street View.
A csodálatos felvételekből azt is megtudhatjuk, hogy valamikor kárókatonák sötét hadserege lepte el a fővárost, eltakarva a napot, más ésszerű magyarázatot ugyanis nem találtunk erre:


Ez elvileg a Művészetek Palotája a Dunáról nézve, vagy talán a Vodafone-székház - lehetetlen megállapítani. Szerettem volna megnézni Csepelt is, de úgy látszik a Petőfi és a Rákóczi híd között betelt a vincseszter, mert a Google Maps délebbre nem engedi letenni a Street View narancssárga emberkéjét.
A sajtóközleményben az áll, hogy ahol nappali és éjszakai felvételek is születtek, ott a Google Térképen a Street View-t jelölő kék vonalból kettő található, az egyikre lépve a nappali, a másikra lépve az éjjeli felvételek láthatóak. Sajnos a fenti helyszínen csak egy ilyen vonalat találtunk, kizárólag zörejes éjszakai fotókkal.
Aki nem az apokaliptikus Budapestet akarja látni, evezzen északabbra, ahol lehet nézegetni az árterületet és a szürkén kavargó folyót. Persze a főbb part menti látnivalók, mint például a Parlament, jobban néz ki a Dunáról, mint a távolabbi utcákról nézve.
A Duna fotózása benevezhetne a "találjunk ki olyan kategóriát, amiben elsők vagyunk" versenyre is: ez volt az első hat országon átívelő folyami Street View fotózás. Persze korábban készültek már képek más folyókról is: hajózhatunk a Temzén, az Amazonason, és a Colorado-folyón is.
 (Index)

The Voice USA season 8: Have You Ever Seen the Rain

In a battle of teen singers, Pharrell matches Sawyer Fredericks against Noelle Bybee on Creedence Clearwater Revival's song.