Thursday, July 9, 2015

Nhân chuyến viếng thăm nước Mỹ của TBT Trọng

(Chính trị) - Các nhà tham mưu chiến lược của Nhà Trắng lại một lần nữa khiến ta giật mình khi tư vấn cho ông Joe Biden lẩy hai câu Kiều thuộc hàng hay nhất…

Chủ trì tiệc chiêu đãi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn lãnh đạo cấp cao Việt Nam thăm chính thức Hoa Kỳ tại trụ sở Bộ Ngoại giao Mỹ, Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden đã “bất ngờ” lẩy 2 câu trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du:
“Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời.”
Chỉ với 2 câu Kiều tài tình, ông Joe Biden đã khái quát được thực trạng cũng như triển vọng quan hệ hợp tác hữu nghị Việt Nam – Hoa Kỳ, đồng thời cho thấy thiện chí của người Mỹ rất mong muốn hợp tác với Việt Nam, đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước.

 Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu trong buổi tiệc chiêu đãi do Phó Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden chủ trì.

 Đồng thời nó còn góp phần tích cực duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, trật tự và luật pháp quốc tế trong khu vực cũng như trên thế giới, đặc biệt là trong bối cảnh căng thẳng leo thang ở Biển Đông bởi những hành động bành trướng, bồi lấp bất hợp pháp của Trung Quốc.

Người Mỹ quá hiểu Việt Nam

Nói như vậy không phải bởi Mỹ và Việt Nam từng có một giai đoạn lịch sử ở hai đầu chiến tuyến 40 năm về trước, mà bởi bộ máy tham mưu quá giỏi của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ khi giúp họ tìm hiểu về con người, văn hóa Việt Nam để làm nền tảng vững chắc cho hợp tác song phương.
Nhà văn hóa Phạm Quỳnh từng nói: “Truyện Kiều con, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”, đủ thấy Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du có vai trò to lớn như thế nào trong đời sống văn hóa, tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Từ bên kia bán cầu, các nhà lãnh đạo hàng đầu của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã dùng chính cái quốc hồn quốc túy của người Việt để bắc cầu hữu nghị, thúc đẩy bang giao. 15 năm trước lần đầu tiên một Tổng thống Mỹ đặt chân đến Hà Nội năm 2000, ông Bill Clinton khiến không ít người Việt giật mình khi lấy 2 câu trong Truyện Kiều để nói chuyện với người Việt:
“Sen tàn cúc lại nở hoa,
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân”.

Hai câu thơ trong Truyện Kiều miêu tả tâm trạng u buồn của Thúc Sinh khiến nhân vật quên đi mất thực tại: Sen tàn cúc lại nở hoa, mùa nào mà chẳng có hoa nở? Không thể thay đổi quá khứ, nhưng cũng đừng vì đeo đẳng quá khứ mà quên mất thực tại.
Và lần này, các nhà tham mưu chiến lược của Nhà Trắng lại một lần nữa khiến ta giật mình khi tư vấn cho ông Joe Biden lẩy hai câu Kiều thuộc hàng hay nhất trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du để phát biểu chào mừng Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và các nhà lãnh đạo Việt Nam trong tiệc trưa tại Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Trong cuốn “Thả một bè lau”, Thiền sư Nhất Hạnh bình luận:
“Hai câu này rất hay! Thuộc về số những câu hay nhất trong truyện Kiều. Trời ở đây không phải là Thượng Đế, Ngọc Hoàng hay tạo hóa. Trời ở đây là tình trạng, hoàn cảnh. Ngày hôm nay chúng ta được gặp nhau, nhìn nhau, nắm tay nhau; tôi còn sống, anh còn sống, em còn sống để có thể ngồi uống trà với nhau, đi thiền hành, nhìn trăng với nhau… Ngày hôm nay quý vô cùng!”

Tan sương đầu ngõ

“Vận” vào quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, từ chỗ là kẻ thù hai đầu chiến tuyến không đội trời chung nay cùng ngồi lại bàn kế hợp tác lâu dài, đem lại thái bình lợi lạc cho người dân 2 nước thì quả đúng là “cơ hội trời cho”, hay “trời còn để có hôm nay”, một cái duyên, cũng là một cơ hội mà cả hai bên trân quý. Vấn đề còn lại là làm sao hai bên tiếp tục làm cho “tan sương đầu ngõ, vén mây cuối trời”.
Hai câu Kiều này cũng cho thấy Mỹ thực sự coi trọng và mong muốn tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với Việt Nam mà những rào cản về sự khác biệt chính trị trước đó đã được xóa bỏ hoàn toàn khi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đặt chân lên đất Mỹ thăm chính thức Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Vì vậy những quan điểm nào đó còn đặt ra vấn đề khác biệt chính trị để chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị giữa 2 nước đã trở thành lạc hậu.

Cũng chính hai câu Kiều này còn cho thấy một sự thật khác, đó là Việt Nam có những giá trị địa chính trị, địa chiến lược quan trọng mà người Mỹ và có thể là các cường quốc khác đang rất quan tâm. Không có lợi ích, người Mỹ hẳn đã không để ý đến việc thúc đẩy quan hệ hợp tác với Việt Nam.
Kết hợp 2 yếu tố này có thể xem như Việt Nam đang có thiên thời, địa lợi. Vấn đề còn lại là làm sao phát triển “nhân hòa”, tận dụng xu thế ấy làm cho đất nước cường thịnh, phồn vinh, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Không thể bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ chỉ bằng ý chí mà còn phải có thực lực mạnh. Không thể dựa vào bất kỳ ai để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ngoài chính mình, nhưng phải biết khai thác tối đa các thế mạnh đối nội cũng như đối ngoại, các xu thế và trào lưu quốc tế để phục vụ cho sự nghiệp này.
Người Nhật đã biết khai thác tối đa khoa học công nghệ, kinh nghiệm điều hành quản lý, hợp tác kinh tế thương mại và đầu tư từ Hoa Kỳ kết hợp với tinh thần tự lực quật cường của mình để hồi sinh dân tộc từ tro tàn sau Chiến tranh Thế giới thứ II thành siêu cường Đông Á như ngày nay.
Nửa thế kỷ trước, Singapore, Hàn Quốc hay Đài Loan cũng có xuất phát điểm như Việt Nam, nhưng giờ họ đều trở thành những con rồng châu Á cũng không ngoài con đường Nhật Bản đã đi.
Do đó bài toán đặt ra với người Việt lúc này là làm thế nào khai thác tối đa quan hệ hữu nghị hợp tác với Hoa Kỳ để phát triển đất nước cường thịnh, để nông sản bà con nông dân Việt Nam làm ra tìm được chỗ đứng trên thị trường Hoa Kỳ và các nước khác.
Đó cũng là giải pháp giải quyết nỗi lo mất giá, bán không ai mua của nông sản Việt Nam mỗi khi thương lái Trung Quốc o ép hay họ đóng cửa biên giới vì một lý do “vu vơ” nào đó nhằm gây sức ép với ta. Đó là thách thức khó khăn nhưng cũng là cơ hội đột phá, đòi hỏi bản lĩnh, tuệ giác, nỗ lực không ngừng và đoàn kết chặt chẽ của người Việt. Hãy bắt đầu từ giáo dục và khoa học công nghệ. Hoa Kỳ sẵn sàng giúp Việt Nam điều này.

Vén mây giữa trời

Làm thế nào để tận dụng tối đa quan hệ Việt – Mỹ cho việc bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh đòi lại phần lãnh thổ đang bị nước khác chiếm đóng bất hợp pháp có lẽ là mối quan tâm hàng đầu của không ít người dân Việt Nam khi theo dõi chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư.
Nhưng hợp tác trên lĩnh vực nào cũng phải trên cơ sở tính toán hài hòa lợi ích từ hai phía. Do đó, tìm hiểu lợi ích của Mỹ ở Biển Đông là gì rất quan trọng.
Ngay từ năm 2010 Ngoại trưởng Mỹ khi đó bà Hillary Clinton đã khẳng định, Mỹ có lợi ích cốt lõi ở Biển Đông, đó là tự do hàng không hàng hải không bị cản trở.
Cho tới ngày nay, lợi ích này không thay đổi mà còn được mở rộng thêm: Hòa bình ổn định trong khu vực, bảo vệ và duy trì luật pháp quốc tế bao gồm UNCLOS cũng như trật tự sau Chiến tranh Thế giới thứ II mà Mỹ là người cầm trịch; Chống các hành động sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực.
Có thể thấy, chiến tranh xung đột ở Biển Đông rõ ràng không phải lợi ích của Hoa Kỳ. Các hành động leo thang gây hấn đe dọa tự do – an ninh hàng không hàng hải ở Biển Đông, đe dọa luật pháp và trật tự quốc tế, sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực cũng đi ngược lại lợi ích của Hoa Kỳ.
Chúng ta cần thấy rõ đây mới là “thiên thời” thuận lợi nhất cho Việt Nam. Bởi lẽ đặt câu hỏi ngược lại, giả sử vì khủng hoảng Ukraine, cuộc chiến chống IS hay một điểm nóng quốc tế nào khác mà Mỹ lơ là không để ý đến Biển Đông thì rủi ro, nguy hiểm Việt Nam phải đối mặt sẽ lớn đến chừng nào?
Mỹ hiện diện và duy trì luật pháp, cân bằng quyền lực ở Biển Đông, đảm bảo an ninh, tự do hàng không hàng hải rõ ràng là một lợi thế lớn cho ta. Việt Nam cần khai thác tối đa xu thế này trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như phương án đòi lại những phần bị nước ngoài chiếm đóng bất hợp pháp.
Hoa Kỳ không thể đem quân can thiệp nếu xảy ra xung đột giữa Trung Quốc với một nước khác ở Biển Đông nhưng sẽ tích cực ngăn chặn nó. Mỹ không phải một bên yêu sách ở Biển Đông nhưng có lợi ích quốc gia ở Biển Đông, ủng hộ giải quyết bằng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS.
Do đó hãy đẩy mạnh hơn nữa hoạt động hợp tác quốc phòng an ninh, tuần tra huấn luyện, mua bán trang thiết bị tiên tiến, chia sẻ thông tin…với người Mỹ, Nhật Bản cũng là một lựa chọn.
Chuẩn bị kỹ lưỡng một bộ hồ sơ pháp lý ở Biển Đông không chỉ sẵn sàng cho các hoạt động tranh tụng tại các cơ quan tài phán quốc tế, mà còn để phổ biến rộng rãi để mọi người dân Việt Nam đều nắm được các thông tin chính xác, căn cứ pháp lý vững chắc về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam tại các vùng biển ở Biển Đông. Cũng trên cơ sở bộ hồ sơ này hợp tác với các đối tác khác bao gồm Hoa Kỳ để tìm kiếm sự ủng hộ của bạn bè quốc tế.
Thời cơ và thách thức luôn song hành với nhau, đây là lúc Việt Nam có cơ hội bứt phá vươn lên, tự cường dân tộc và đòi hỏi nỗ lực không ngừng nghỉ của mỗi người cũng như sự đoàn kết chặt chẽ của mọi tầng lớp đồng bào trong và ngoài nước.
Người Mỹ đã vượt qua được quá khứ, trân quý cơ hội hiện tại, chấp nhận ngồi lại lắng nghe nhau để thu hẹp bất đồng, tăng cường hợp tác với Việt Nam thì không có lý do gì người Việt lại không làm được điều này. Nếu chỉ vì cấn cá chuyện xưa mà quên mất chuyện nay, cơ hội có thể bị tuột mất và thực tại lại thành chiêm bao:
“Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao.”
Chúng ta đã có địa lợi, đang có thiên thời, còn nhân hòa nằm trong tay chính chúng ta. Xin mượn lời cụ Nguyễn Du và “nhà tiên tri” Tam Hợp Đạo Cô trong Truyện Kiều để kết thúc bài viết này:
“Sư rằng: Phúc họa đạo trời,
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra.
Có trời mà cũng có ta…”
(Theo Giáo Dục)

Phát biểu của ông Abe về "cuộc chiến với Trung Quốc" là có chủ đích?

Một số người cho rằng việc công khai những phát biểu của ông Abe là một động thái có tính toán nhằm thúc đẩy việc sửa đổi hiến pháp hòa bình của Nhật Bản sau khi xoa dịu căng thẳng thành công với Trung Quốc và Hàn Quốc và giảm bớt những sức ép chính trị trong nước.


Tại thời điểm nhạy cảm đối với quan hệ Trung-Nhật - năm nay kỷ niệm 70 năm kết thúc Chiến tranh Thế giới Thứ hai, hai nước đang xảy ra tranh cãi liên quan tới những phát biểu của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe rằng ông đã chuẩn bị các kế hoạch để tiến tới chiến tranh với Trung Quốc.
Theo trang tin "Đa chiều", trang tin tức của người Hoa ở hải ngoại, ông Abe được cho là phát biểu như vậy tại một bữa tiệc thân mật có sự tham dự của nhiều người đứng đầu ngành truyền thông trong nước diễn ra ở một khách hạng sang ở Tokyo, sau khi ông uống khá nhiều cốc rượu vang đỏ.
Trích lại tuần san "Shukan Gendai" của Nhật Bản, "Đa chiều" nói rằng ông Abe đã thẳng thắn chỉ trích lãnh đạo phe đối lập Katsuya Okada của Đảng Dân chủ Nhật Bản (DPJ), kịch liệt phê phán vị cựu Phó Thủ tướng này vì thường xuyên phát biểu "những điều vô nghĩa", và nói thêm rằng DJP "đã kết thúc". Nhiều tin tức cũng nói rằng ông Abe đã chỉ trích Mỹ và Hàn Quốc, và thừa nhận rằng những nỗ lực của ông nhằm xóa bỏ hoàn toàn quy định cấm Nhật Bản thực hiện phòng vệ tập thể được đưa ra sau chiến tranh (quyền được tham gia chiến tranh để hỗ trợ một đồng minh cho dù Nhật Bản không bị đe dọa trực tiếp) là một phần trong chiến lược của Tokyo nhằm đứng về phía Mỹ để đối phó với cách hành xử hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông, nơi xảy ra nhiều tranh chấp lãnh thổ giữa Trung Quốc và các nước láng giềng.
Theo trang mạng "Đa chiều", để đáp lại, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã yêu cầu Chính phủ Nhật Bản đưa ra lời giải thích rõ ràng về những phát biểu nói trên được cho là của ông Abe. Trang mạng này cũng cho hay các quan chức của Đại sứ quán Nhật Bản tại Trung Quốc và các quan chức của Bộ Ngoại giao Nhật nói rằng họ vẫn chưa đọc được những tin tức này và sẽ đưa ra trả lời theo đúng trình tự.
Nếu những tin tức này là đúng thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên bởi những phát biểu này hoàn toàn giống với tính cách của ông Abe, bằng chứng là một loạt các động thái quân sự ông đã làm kể từ khi trở lại làm Thủ tướng vào năm 2012 và có chuyến thăm gây tranh cãi hồi tháng 12/2013 tới Đền Yasukuni - nơi thờ những người Nhật chết trong chiến tranh, trong đó có 14 tội phạm chiến tranh loại A. Tuy nhiên, do ông Abe nói ra những điều trên một cách riêng tư kín đáo, vậy tại sao chúng lại được đưa ra công khai? Nếu những phát biểu này do chính quyền của ông Abe cố tình tiết lộ cho giới truyền thông, vậy mục đích của họ là gì? 
Một số người cho rằng việc công khai những phát biểu này là một động thái có tính toán của ông Abe, vì sau khi xoa dịu căng thẳng thành công với Trung Quốc và Hàn Quốc và giảm bớt những sức ép chính trị trong nước, ông Abe đang muốn tận dụng cơ hội này để tiến hành sửa đổi hiến pháp hòa bình của Nhật Bản. Theo "Đa chiều", những tin tức về phát biểu "chiến tranh với Trung Quốc" của ông Abe nhằm đặt nền móng cho việc sửa đổi hiến pháp. Ông Abe chắc chắn đang thử nghiệm phản ứng của cả cộng đồng quốc tế và dư luận trong nước về ý tưởng này. Điều này dường như là một kịch bản rất có khả năng xảy ra bởi vì nếu bữa tiệc tối kia hoàn toàn là riêng tư thì chắc chắn sẽ không có nhiều thông tin như vậy bị tiết lộ. "Đa chiều" còn nhận định rằng giới truyền thông trong nước chắc chắn sẽ không mạo hiểm bịa đặt ra một câu chuyện như vậy.
Có ba nguyên nhân khiến chính quyền của ông Abe cố ý tiết lộ những thông tin như vậy. Đầu tiên, chính quyền Nhật Bản muốn thể hiện cho Washington thấy rằng Tokyo sẵn sàng trở thành đồng minh chống Trung Quốc của Mỹ nếu như hiến pháp được sửa đổi. Chính quyền của ông Abe đóng một vai trò quan trọng trong chính sách "chuyển trục" sang châu Á của Mỹ và đã liên tục có động thái khẳng định tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo tranh chấp tại biển Hoa Đông mà Nhật Bản gọi là Senkaku, Trung Quốc gọi là Điếu Ngư, còn Đài Loan gọi là Điếu Ngư Đài. Nhật Bản đã quốc hữu hóa ba đảo thuộc quần đảo này hồi tháng 12/2012. "Đa chiều" cho rằng đây là cách Nhật Bản thể hiện quyết tâm của nước này nhằm giúp Mỹ kiềm chế Trung Quốc.
Cựu Thủ tướng Yukio Hatoyama, người từng nắm quyền chưa đầy một năm trong giai đoạn 2009-2010 và sau đó từ chức, đã xây dựng chính sách đối ngoại của Nhật Bản tách biệt khỏi Mỹ và tăng cường quan hệ ở khu vực châu Á. Tuy nhiên, ông Abe lại đi theo hướng ngược lại, đó là tăng cường quan hệ với Mỹ với hy vọng rằng Washington sẽ hậu thuẫn bước đi của chính quyền ông hướng tới bình thường hóa quân sự. Năm 2014, Mỹ đã ủng hộ việc xóa bỏ lệnh cấm Nhật Bản thực hiện quyền phòng vệ tập thể và năm nay, hai nước đã ký bản cập nhật Hướng dẫn Hợp tác Quốc phòng Mỹ-Nhật.
Điều này có nghĩa rằng ông Abe đã giành được hậu thuẫn quân sự của Mỹ và đồng thời đã cải thiện quan hệ với Hàn Quốc và Trung Quốc đủ để làm vừa lòng cử tri và các lãnh đạo doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa rõ rằng liệu ông Abe có thể giành được sự ủng hộ trong nước đối với việc sửa đổi hiến pháp hay không, trong bối cảnh một số cuộc biểu tình quy mô lớn đã nổ ra kể từ khi ý tưởng này được đưa ra thảo luận. Mỹ hiện vẫn chưa chấp thuận việc Nhật Bản sửa đổi hiến pháp. Những phát biểu riêng tư mới bị tiết lộ gần đây của ông Abe có thể sẽ thúc đẩy Mỹ công khai quan điểm của họ và sẽ thử phản ứng của các nước láng giềng của Nhật Bản.
Một lý do khác đằng sau việc thông tin này bị tiết lộ đó là để công khai các mục tiêu của Mỹ và Nhật Bản ở Biển Đông. Nếu Mỹ và Nhật giành kiểm soát ở Biển Đông, đây sẽ là một trở ngại đáng kể đối với sáng kiến "Con đường Tơ lụa Trên biển Thế kỷ 21" của Bắc Kinh. Tuy nhiên, nếu hai nước không thể kiềm chế Trung Quốc trong khu vực, thì việc làm khuấy động căng thẳng sẽ cho phép cả Mỹ và Nhật Bản thúc đẩy quan hệ với các nước ASEAN cũng có tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông, như Philippines, Việt Nam, Malaysia và Brunei, và từ đó cản trở sáng kiến "Vành đai Kinh tế Con đường Tơ lụa" của Trung Quốc.
Theo mạng tin "wantchinatimes"
Thùy Anh (gt) Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông

Giữ nguyên ngữ hay phiên âm tên tiếng nước ngoài trong tiếng Việt: Cần tiếp cận từ nhiều phía

Gần đây lại thấy một số bài bàn về phiên âm hay để ngôn ngữ gốc nhưng không xem xét toàn diện các thứ tiếng (mà chỉ nhắm vào tiếng Anh) và thiếu phân tích thấu đáo, tôi post lại bài đã đăng trên TTCT ngày 3/6/2012. 

Giữ nguyên ngữ hay phiên âm tên tiếng nước ngoài trong tiếng Việt: Cần tiếp cận từ nhiều phía

Gần đây báo chí sôi nổi bàn chuyện phiên âm hay không tên riêng tiếng nước ngoài. Hầu hết ý kiến đều ủng hộ cách để nguyên dạng, hoặc phiên tự Latin nếu ngôn ngữ gốc không dùng bộ chữ cái Latin.
Tuy nhiên các ví dụ dẫn ra để so sánh, để chứng minh tính ưu việt của nguyên dạng phần lớn chỉ là tên riêng tiếng Anh. Cái tưởng là nguyên dạng thật ra là lối viết theo tiếng Anh, và thực tế hiện nay các báo đều "Anh hóa" tên riêng chứ không phải viết nguyên dạng ngôn ngữ gốc (dù là dưới dạng Latin hóa).

Không có nguyên dạng Latin cho mọi tên riêng
Khó khăn ở chỗ không có nguyên dạng Latin cho mọi tên riêng. Ví dụ, có ý kiến bảo rằng hãy để nguyên dạng tên nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan. Thế nhưng đó chỉ là tên tiếng Anh, còn nguyên dạng tiếng Bồ Đào Nha phải là Fernão de Magalhães và nếu theo tiếng Tây Ban Nha, nơi ông này là công dân và phục vụ lâu nhất lại là Fernando de Magallanes!
Dòng chữ Brazil trong cuộc thi Rung chuông vàng cũng chỉ là tên tiếng Anh, còn đúng nguyên ngữ (tiếng Bồ Đào Nha) phải là Brasil, chính vì thế ta mới có từ phiên âm theo nguyên ngữ là Bra-xin.
Rất nhiều ngôn ngữ hiện đang dùng chữ cái Latin nhưng ghi tên riêng khác với tiếng Anh. Nếu chiếu theo quan điểm giữ nguyên dạng ngôn ngữ gốc thì Hung-ga-ry phải viết là Magyarország (thay vì theo tiếng Anh: Hungary), Ba Lan phải là Polska (tiếng Anh: Poland), Đức phải là Deutschland (tiếng Anh: Germany), CH Czech phải là Ceská Republika (tiếng Anh: Czech Republic). Các thành phố hay bang của Đức như Munich, Cologne, Bavaria phải viết nguyên dạng là München, Köln, Bayern.
Các ví dụ như vậy nhiều vô kể. Thủ đô của Ba Lan nguyên ngữ là Warszawa, biến thành Warsaw (tiếng Anh), Varsovie (tiếng Pháp), Warschau (tiếng Đức), Varsovia (tiếng Tây Ban Nha), Varsóvia (tiếng Bồ Đào Nha), liệu có chính xác hơn phiên âm tiếng Việt Vác-sa-va? Và làm gì có cái gọi là cách viết thống nhất hay giữ nguyên dạng giữa những ngôn ngữ cùng hệ Latin?
Đấy là mới chỉ nói trong phạm vi các ngôn ngữ có cùng mẫu tự Latin, nếu nói sang các ngôn ngữ không dùng mẫu tự Latin thì sự không thống nhất nguyên dạng còn lớn đến đâu.
Chỉ xin lấy một ví dụ về họ tên cố lãnh đạo Libya Mu-am-ma Ca-đa-phi bằng tiếng Anh: đã có hẳn một bài báo trên tờ The Christian Science Monitor luận về cách viết nào nên theo: Gaddafi, Kadafi, Qaddafi, Qadhafi hay thậm chí Kaddafi; còn tên của ông này là Muammar, Moammar, Mu'ammar hay Moamar. Thậm chí người ta còn liệt kê (tất nhiên hơi cường điệu) là có tới 112 cách phiên tên Gaddafi sang tiếng Anh.
Bangkok quen thuộc với chúng ta qua tiếng Anh nhưng tiếng Thái gọi thành phố này là Krung Thep, chẳng gần nhau một tí nào. Đất nước Ai Cập gọi theo tiếng Anh là Egypt, nhưng nguyên ngữ Ả Rập lại là Misr (phiên tự), còn thủ đô Cairo nguyên ngữ là Al-Qahirah.
Như vậy có thể nói để nguyên dạng theo đúng nghĩa là không khả thi, vì người viết hay người dịch không thể ngồi tra cứu từng tên nguyên ngữ (và các cách phiên tự Latin hóa có thể có) để thay cho tiếng mà mình đang dịch từ đó.

Âm một đằng, chữ một nẻo
Đúng ra đó là lỗi của tiếng Anh hay của ngôn ngữ gốc chứ không phải do lỗi phiên âm (tất nhiên cũng có khi người phiên âm không chuẩn). Đồng thời chúng ta cũng không nên quên một nhược điểm của tiếng Anh, vì khi đọc hay nói tên họ của một người Anh có khi người ta không dám chắc viết tên họ đó thế nào cho đúng và phải hỏi lại cách viết. Chẳng hạn: Lee, Li hay Leigh đều đọc/nói là "Li", Green hay Greene cũng đều đọc là "Grin".
Nhiều người chê phiên âm gây nhiều dị bản nhưng họ đâu có biết tiếng Anh cũng gặp rắc rối đúng như thế khi gặp các ngôn ngữ khác ngữ hệ như tiếng Ả Rập, các ngôn ngữ châu Á. Ngoài ví dụ về Ca-đa-phi ở trên, một ví dụ khác là tiếng Anh thiếu âm "ư", do đó âm này hoặc bị phiên thành "y" (như trường hợp đối với tiếng Nga, trong khi "y" cũng dùng để phiên chữ/âm i ngắn), hoặc thành "u" (như trường hợp đối với tiếng Nhật và tiếng Việt): Xôn-gie-nít-xưn (hay Xôn-gie-nhít-xưn) thành Solzhenitsyn; Cô-i-dư-mi thành Koizumi.
Phiên âm tiếng Việt có ưu điểm hơn hẳn tiếng Anh khi dùng cho những ngôn ngữ có thanh điệu như tiếng Lào hay tiếng Thái. Và nói cho cùng thì ngay tên họ người Việt cũng đâu phải vùng nào cũng nói/đọc như chữ viết: Võ Văn Dân ở miền Nam sẽ được phát âm thành Dỏ Dăng Dâng kia mà!

Phiên tự - "tam sao thất bổn"
Có tồn tại một cách phiên tự thống nhất cho những ngôn ngữ không dùng chữ cái Latin không?
Nhiều người lầm tưởng rằng đối với những ngôn ngữ không dùng chữ cái Latin, cứ việc phiên tự theo những quy tắc mà người bản ngữ áp dụng là xong. Nhưng sự đời đâu có đơn giản vậy? Có ba lý do dẫn đến việc "tam sao thất bổn" trong phiên tự:
- Ngôn ngữ đích khác nhau. Nếu bạn đang đọc ấn bản tiếng Anh, văn hào Pu-skin sẽ thành Pushkin, còn trong tiếng Pháp sẽ là Pouchkine, tiếng Đức là Puschkin.
Chính vì ngôn ngữ đích thay đổi mà tên riêng vẫn như cũ nhưng sang tiếng Anh mỗi thời một khác. Đó là trường hợp các nước cộng hòa cũ của Liên Xô tách ra: Môn-đa-vi ngày xưa là Moldavia (phiên theo tiếng Nga) nay thành Moldova (theo bản ngữ), thủ đô của nó từ Kishinev thành Chisinau, Byelorussia thành Belarus.
- Có nhiều lối phiên khác nhau. Nếu áp dụng lối phiên hàn lâm của chính người Nga thì Mai-a-cốp-xki sẽ thành Majakovskij, nhưng phiên theo tiếng Anh sẽ là Mayakovsky.
- Không thống nhất ngay trong cùng một ngôn ngữ đích. Ví dụ trong tiếng Anh, nhiều khi người ta cũng không thống nhất khi phiên tự từ tiếng Nga, như: Nikolay/Nikolai, Alexander/Alexandr/Aleksandr, Korolev/Korolyov, Mendeleyev/Mendeleev.
Họ tên của người CHDCND Triều Tiên và Hàn Quốc cũng được họ phiên sang tiếng Anh theo nhiều cách. Chẳng hạn anh hùng dân tộc Lý Thuấn Thần sẽ có các dạng Yi Sun Shin, Lee Sun Shin, Yi/Lee Soon Shin, Ri Sun Shin, Yi/Lee Sun Sin, ta theo cách nào? Cũng họ Lý ấy của Lý Thừa Vãn tiếng Anh vẫn quen phiên là Ree (Syngman) thì sao?
Hàn Quốc đã ban bố quy tắc phiên mới thay cho quy tắc McCune-Reischauer trước đây, nhưng CHDCND Triều Tiên vẫn dùng cách phiên cũ. Do đó thành phố Kê-xâng (Khai Thành) sẽ có hai kiểu phiên là Kaesong hoặc Gaeseong, Pu-xan sẽ là Pusan hoặc Busan.
Kể từ khi Chúa Trời làm thất bại việc xây tháp Babel thì vấn đề phiên chuyển tên riêng giữa các ngôn ngữ đều không được giải quyết hoàn toàn trong bất cứ ngôn ngữ nào. Lập lại trật tự trong lối viết tên riêng nước ngoài là cần thiết, nhưng cần một cách tiếp cận từ nhiều phía, thấu đáo và điều tra xã hội học nếu có thể.
Bộ Giáo dục đã từng quyết định cách viết "theo chữ viết của nguyên ngữ" (năm 1984) nhưng đã phải quay lại lối phiên âm (năm 2003) hẳn phải có lý do. Gần đây Bộ Nội vụ cũng ra thông tư số 01/2011/TT-BNV quy định "phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ", hẳn cũng không phải chỉ vì "bảo thủ".
                                                                                     NGUYỄN VIỆT LONG

Ghi chú thêm:
1. Trong phụ lục VIẾT HOA TRONG VĂN BẢN HÀNH CHÍNH của thông tư số 01/2011/TT-BNV (Bộ Nội vụ) ngày 19 tháng 01 năm 2011 có quy định:
... 2. Tên người nước ngoài được phiên chuyển sang tiếng Việt
a) Trường hợp phiên âm qua âm Hán – Việt: Viết theo quy tắc viết tên người Việt Nam.
Ví dụ: Kim Nhật Thành, Mao Trạch Đông, Thành Cát Tư Hãn…
b) Trường hợp phiên âm không qua âm Hán – Việt (phiên âm trực tiếp sát cách đọc của nguyên ngữ): Viết hoa chữ cái đầu âm tiết thứ nhất trong mỗi thành tố.
Ví dụ: Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, Phri-đrích Ăng-ghen, Phi-đen Cat-xtơ-rô…

2. Tranh luận viết họ ông Gaddafi trong tiếng Anh thế nào cho đúng:
http://www.csmonitor.com/layout/set/r14/World/2011/0222/Gaddafi-Kadafi-Qaddafi-What-s-the-correct-spelling
và bài nói Muammar Gaddafi có 112 cách viết:
http://abcnews.go.com/blogs/headlines/2009/09/how-many-different-ways-can-you-spell-gaddafi/


Thêm bài cũ hơn trên SGTT 29/12/2009:
http://www.thesaigontimes.vn/Home/diendan/bandocviet/27676/

Những ý kiến thiên vị tiếng Anh
LTS: Tiếp tục các ý kiến tranh luận sau bài viết Phiên âm hay viết theo tiếng tiếng Anh?, tòa soạn xin giới thiệu bài viết của bạn đọc Nguyễn Việt Long vừa gửi đến.

Vừa qua mục Diễn đàn có nêu vấn đề: Nên phiên âm hay để nguyên tiếng Anh. Đa số các ý kiến chê bai phiên âm tiếng Việt, như một hình thức cổ lỗ sĩ, “không chính xác”, thậm chí “không thể chấp nhận được”, còn cách để nguyên tiếng Anh được khen ngợi hết lời.
Những lối nói đầy cảm tính như “phải đọc theo kiểu viết phiên âm thì thật là vô cùng khó chịu” không phải là tranh luận khoa học (nếu tôi vô cùng khó chịu với mắm tôm thì liệu những người khác có khó chịu với nó không và có phải bỏ ăn mắm tôm theo sự áp đặt của tôi không?). Những kết luận khơi khơi không cần chứng minh hay điều tra được dùng làm phán quyết muốn khai tử cho phiên âm tiếng Việt.
Tất nhiên không thể đòi hỏi một sự phiên âm chính xác tuyệt đối trong tiếng Việt, nhưng ở mức có thể chấp nhận được và điều này cũng đúng với mọi ngôn ngữ, chẳng riêng gì tiếng Việt.
Tại sao ta lại đi dùng một thứ tiếng “viết một đàng, đọc một nẻo” (tiếng Anh) làm chuẩn tên riêng cho tiếng Việt, chỉ vì nó phổ biến? Trong khi chê tiếng Việt phiên âm không chính xác, không thấy ai hỏi liệu tiếng Anh nói riêng và các tiếng châu Âu gốc La-tinh nói chung có chính xác với tên gốc? Có rất nhiều ví dụ nói không, chẳng cần phải tìm ở những ngôn ngữ không dùng chữ cái La-tinh, mà ngay ở những ngôn ngữ cũng dùng chữ cái La-tinh như tiếng Anh.
Ta biết rằng nhiều địa danh của nước Đức được phiên sang tiếng Anh (và sang các ngôn ngữ khác, ví dụ tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha…) chẳng chính xác tẹo nào. Tên nước Đức: Deutschland (hậu tố land nghĩa là “đất nước”, “xứ sở” sẽ bị bỏ đi khi trở thành tính từ hoặc chỉ ngôn ngữ Đức: Deutsch) sang tiếng Anh là Germany, tiếng Pháp là Allemagne, tiếng Tây Ban Nha Alemania, tiếng Bồ Đào Nha Alemanha,… đều không chính xác bằng tiếng Việt.
Các ví dụ khác: München thành Munich (tiếng Anh và Pháp), Bayern thành Bavaria (tiếng Anh) hay Bavière (tiếng Pháp); Köln thành Cologne (tiếng Anh và Pháp). Hay như Vác-sa-va nguyên ngữ là Warszawa, biến thành Warsaw (tiếng Anh), Varsovie (tiếng Pháp), Warschau (tiếng Đức), Varsovia (tiếng Tây Ban Nha), Varsóvia (tiếng Bồ Đào Nha) cũng không hơn gì phiên âm tiếng Việt.
Tiếng Pháp bao đời nay vẫn phiên London thành Londres, Scotland thành Écosse, Wales thành Galles, liệu có chính xác hơn Luân Đôn, Xcốt-len, Uên?   Nước Hung-ga-ry (Magyarország) thì hầu như chẳng ngôn ngữ châu Âu nào phiên đúng cả: Hungary (Anh), Hongrie (Pháp), Ungarn (Đức)…
Bạn hãy kiểm nghiệm với kết luận của cố GS Cao Xuân Hạo dành cho phiên âm tiếng Việt mà bạn Thư Hoài đã trích dẫn: “người đọc sách báo bị bắt buộc phải vừa viết sai lại vừa đọc sai, chứ nếu viết theo nguyên dạng, ít ra ta cũng còn có được một mặt chắc chắn đúng” (không biết GS nói đến “nguyên dạng” nào, nguyên dạng tiếng Anh hay nguyên dạng tên gốc? Nếu là nguyên dạng tiếng Anh thì kết luận trên không đúng, vì người Anh cũng bị bắt buộc vừa viết sai lại vừa đọc sai, còn nếu nguyên dạng tên gốc thì không khả thi). Tại sao người Anh, người Pháp, người Đức… cứ điềm nhiên để sự không chính xác kéo dài bao đời nay mà hình như họ chẳng lớn tiếng chê bai phiên âm tiếng nước họ như chúng ta?
Một ý kiến khác cho rằng tiếng Việt đẻ ra nhiều phiên bản, như Lexus thì thành Lét-xù, Lét-sớt, Lét-sút. Tất nhiên phải bỏ những phiên âm sai do trình độ kém (bạn Đoàn Tiểu Long nói rất chí lý rằng làm sai không phải là lý do để bỏ không làm nữa), nhưng vẫn có thể chấp nhận vài biến thể (do quan điểm phiên: hoàn toàn theo âm; một phần theo âm, một phần theo chữ; cách phiên đã quen theo tiếng Pháp chẳng hạn), và chuyện này thì bất cứ thứ tiếng nào cũng có chứ chẳng riêng tiếng Việt.
Bạn có biết lãnh đạo nước Li-bi là Mu-am-ma/Mô-ha-mét Ca-đa-phi được phiên mấy kiểu sang tiếng Anh không? Tên Mu-am-ma/Mô-ha-mét của ông ít nhất có các dạng Moamer, Muammar, Muammer, còn Ca-đa-phi được phiên là Kadhafi, Gadhafi, Khadafi, al-Khadafy, al-Gaddafi, al-Qadhdhāfī. Lét-xù, Lét-sớt, Lét-sút đã thấm gì! Hay như vua Thái Lan cũng có 2 cách phiên: Bhumibol Adulyadej và Phumiphon Adunyadet.
Khẳng định của bạn Thư Hoài rằng tiếng Việt không đủ chữ cái để phiên âm tên riêng đã bị bạn Đoàn Tiểu Long bác bỏ một phần. Tôi chỉ xin bổ sung bằng cách lật ngược vấn đề: tiếng Anh và các thứ tiếng khác có đủ chữ cái để phiên âm tên riêng không?   Câu trả lời cũng lại là không. Một ví dụ điển hình: tiếng Anh, Pháp thiếu âm “ư”, do đó âm này hoặc bị phiên thành “y” (như trường hợp đối với tiếng Nga), hoặc thành “u” (như trường hợp đối với tiếng Nhật và tiếng Việt): Xôn-gie-nít-xưn (hay Xôn-gie-nhít-xưn) thành Solzhenitsyn (tiếng Anh) hay Soljenitsyne (tiếng Pháp); Cô-i-dư-mi thành Koizumi. Chưa kể chuyện không có thanh điệu cũng gây lầm lẫn: Trần Văn Lắm hay Trần Văn Lâm khi sang tiếng Anh là như nhau, và liệu điều này có diễn ra với một ngôn ngữ có thanh điệu nào khác?
Một khía cạnh nữa là việc chuyển tự (transliteration) có đơn giản, dễ dàng và nhất quán như kỳ vọng, còn phiên âm thì gây khó khăn cho người đọc như nhiều ý kiến khẳng định?
Tôi hiểu chuyển tự ở đây là theo quy tắc được áp dụng trong các ngôn ngữ, chứ không phải cách chuyển tự cực đoan mà bạn Đoàn Tiểu Long hình như muốn “chọc” bạn Thư Hoài qua ví dụ Shakespeare. Thế nhưng muốn chứng minh hay biện luận, ít ra thì bạn phải thử nghiệm: nói một số tên riêng tiếng Anh, rồi thử làm một cuộc điều tra nho nhỏ đối với nam, phụ, lão, ấu, thuộc nhiều tầng lớp, nông thôn có, thành thị có, xem viết ra nguyên dạng có thật dễ hay không.
Tôi không cần thử nghiệm đã có thể kết luận là không dễ, bằng phản chứng.
Cái sự đơn giản, dễ dàng kia chỉ có được khi bạn có trong tay văn bản tiếng Anh và dịch nó sang tiếng Việt, rồi để nguyên tên riêng. Một từ khá thông dụng là Ha-vớt, nhưng trên sách báo và mạng bị viết sai khá phổ biến: Havard (đúng ra là Harvard). Một từ rất hay bị phát âm sai trên ti-vi là Macedonia, thường được đọc là Mác-xê-đô-ni-a (trong khi nếu có phiên âm, người ta sẽ đọc đúng: Ma-xê-đô-ni-a).
Một lần khác, tôi thấy 2 phát thanh viên đọc địa danh Gibraltar, người trước vừa đọc Ghi-bran-ta, thì người sau tường thuật theo hình ảnh lại đọc là Gi-bran-ta. Phát thanh viên có bằng cấp, ngoại ngữ đã vậy thì làm sao những tầng lớp khác tránh được lầm lẫn.
Hay như nhiều dịch giả tiếng Pháp, Đức, Nga, Hán không có thời gian, phương tiện, công sức để tra cứu xem một tên riêng trong các thứ tiếng đó sang tiếng Anh là gì, hoặc khi cố gắng làm việc đó thì thường dẫn đến kết quả đáng buồn là sai. Nếu đọc truyện dịch từ tiếng Nga, bạn sẽ bắt gặp những tên riêng Anh dù khá thông dụng nhưng chẳng ra Việt, càng không ra Anh: Đjon (John), Đjonx (Jones), Braun (Brown).
Trong cuốn Tiếng chim hót trong bụi mận gai, một cố dịch giả nổi tiếng đã phiên địa danh Queensland qua tiếng Nga thành Kvinxlenđ. Những thành phần có học vấn khá, biết ngoại ngữ mà còn sai như thế thì không thể nói rằng để nguyên dạng là dễ đối với quần chúng. Kết quả là, như chúng ta chứng kiến, sách dịch từ tiếng nào thì để nguyên tiếng nước ấy, và tiếng Việt trở thành “mớ hổ lốn” đựng những tên riêng kiểu đó (Algeria và Algérie, Morocco và Maroc).
Một anh bạn tôi là tiến sĩ ở Tiệp cũ có nói, nếu cho anh ấy viết chữ Sếch-xpia bằng tiếng Anh thì chưa chắc anh ấy đã viết đúng (ngay trong bài trao đổi của bạn Đoàn Tiểu Long, từ Shakespeare bị viết sai thành Shakespear là một minh chứng).
Vả lại, trong một số ngôn ngữ có vài cách chuyển tự được áp dụng. Lấy ví dụ trong tiếng Nga (nhất là trong giới hàn lâm), Высшая школа (tên NXB) được chuyển tự thành Vysšaja škola, trong khi sang tiếng Anh là Vysshaya shkola. Hay như trong tiếng Triều Tiên (Hàn Quốc) các nàng Dae Chang Gum, Dae Jang Geum hay Tae Chang-gǔm chỉ là một, Pusan cũng chính là Busan… Tôi cũng không hiểu sao họ Lý (Hàn Quốc) thường được phiên chuyển thành Lee (như Lee Myung-bak), nhưng đôi khi lại chuyển thành Rhee (như Lý Thừa Vãn thành Syngman Rhee)?
Cũng chính vì kiểu chuyển tự “khác thường” của Nga mà hồi xưa, đồng hồ Полёт (nghĩa là “chuyến bay”, nếu phiên theo kiểu Anh là Polyot) được viết trên mặt kính là Poljot, để rồi được người Việt Nam đọc là Pôn-dốt, khác hẳn tên gốc. Vậy thì chuyển tự cũng có ba bảy đường.
Vả lại, người Pháp, người Đức đâu có áp dụng cách phiên tên riêng kiểu Anh, mà dùng lối phiên của họ: Pushkin thành Pouchkine (kiểu Pháp) hay Puschkin (kiểu Đức), vậy thì tại sao chúng ta cứ phải lụy tiếng Anh?
Còn một số điều bất tiện khác của giữ nguyên dạng tiếng Anh so với phiên âm: viết một đường đọc một nẻo, có những chữ cái thừa so với tên gốc. My-an-ma nếu chuyển tự chính xác chỉ là Myan-ma, nhưng sang tiếng Anh phải đèo thêm chữ “r” ở cuối, chỉ cốt để nó được đọc chính xác là “ma” chứ không phải “mơ”: Myanmar. Hay ông Ban Ki Mun, việc gì cứ phải viết Ban Ki-moon, vừa nhiều chữ cái hơn vừa dễ đọc sai hơn?
Trước đây, trên tạp chí Tia sáng còn có một bài báo cực đoan hơn, cổ súy cho việc dùng chữ cái La-tinh (pinyin) cho tên riêng Trung Quốc. Tác giả bài viết không hiểu rằng làm như thế “để hội nhập quốc tế” thì vấp phải những nhược điểm lớn sau đây:
a) mất đi nghĩa của tên riêng: khi viết Bắc Kinh, người ta hiểu đây là kinh đô phía bắc, so với Nam Kinh, mà nếu viết Beijing và Nanjing thì không lột tả được;
b) gây thêm sự lộn xộn do trùng tên: Lu Xun có thể là Lỗ Tấn, cũng có thể là Lục Tốn, Pingxiang có thể là Bằng Tường (ở Quảng Tây), hoặc Bình Hương (ở Giang Tây);
c) khó đọc khó nhớ vì trúc trắc và không có liên hệ ngữ nghĩa, không gợi cảm xúc, mà cái mục đích đặt ra cũng ít khi đạt được (đã có bài phản bác, tôi không nhắc lại).
Cố GS Cao Xuân Hạo đã tự mâu thuẫn khi viết rằng luận điểm viết tên riêng nước ngoài theo nguyên dạng La-tinh làm cho quần chúng không đọc được là “không dựa trên một quá trình nghiên cứu nào, trên một cuộc thử nghiệm nào: nó chỉ dựa trên một sự khinh miệt đáng lấy làm lạ đối với cái “quần chúng” mà người ta làm ra vẻ quý trọng”.
Nếu chưa có nghiên cứu hay thử nghiệm, làm sao GS kết luận được rằng “nó chỉ dựa trên một sự khinh miệt quần chúng” mà không phải ngược lại?
Tôi có thể thay đổi lời GS ngược lại vì có bằng chứng phản chứng ở trên: luận điểm dùng nguyên dạng La-tinh “không dựa trên một quá trình nghiên cứu nào, trên một cuộc thử nghiệm nào: nó chỉ dựa trên một ảo tưởng đáng lấy làm lạ đối với cái “quần chúng” mà người ta làm ra vẻ quý trọng”.
Tôi không phản đối hoàn toàn cách viết nguyên tiếng Anh có khi vì lý do thuận tiện, không cần động não, và nó cũng có một số ưu điểm, nhưng cần cân nhắc tùy đối tượng nhắm đến, và phải đưa lên bàn cân xét ưu nhược một cách công bằng của hai phương pháp bằng lối tư duy thật sự khoa học, chứ không phải lối nói đầy cảm tính của một số ý kiến.
Ngay cả khi đã chọn cách viết nguyên dạng tiếng Anh, thì cần phải tạo địa vị hợp pháp cho nó trong tiếng Việt nữa, chứ không chỉ đơn giản cứ viết là viết.
Trong mọi ngôn ngữ (có lẽ chỉ trừ tiếng Việt) mọi từ dù là tên riêng hay tên chung, đều được phát âm theo quy tắc của tiếng nước đó (trừ một vài ngoại lệ dùng tiếng nước ngoài, châm ngôn La-tinh in nghiêng).
Học sinh phổ thông Việt Nam chỉ được dạy bảng chữ cái tiếng Việt cùng với các quy tắc phát âm, ghép vần của tiếng Việt. Vậy là phải bổ sung thêm chữ cái, hướng dẫn mọi quy tắc phát âm của tiếng Anh, mà điều này theo tôi vừa bất tiện, vừa tạo nên một sự lộn xộn lớn, vừa không khả thi. Chỉ mới như hiện nay mà đã có những trường hợp đọc và viết lẫn lộn giữa “d” và “đ” rồi (ví dụ tháng Ramadan nhiều khi được đọc là Ra-ma-dan, mà đúng ra là Ra-ma-đan).

Nguyễn Việt Long

Nếu...

Nếu chúng ta yêu quý một ai đó,
chúng ta sẽ không bao giờ mất họ,
vì họ sẽ mãi mãi ở trong tim chúng ta...


 

DỊCH THUẬT VÀ PHIÊN ÂM: BÀN THÊM CHUYỆN ƯU KHUYẾT

(tên gốc: CÓ NÊN DÙNG PHIÊN ÂM LATIN THAY ÂM HÁN VIỆT ĐỐI VỚI TÊN RIÊNG TRUNG QUỐC?)

Đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần số 27-2013 ra ngày 21-7-2013, tên bài và các đề mục do Tòa soạn báo đặt


Người Việt ta xưa nay vốn quen dùng âm Hán Việt trong tên người hay địa danh Trung Hoa. Những cái tên Tư-mã Thiên, Khổng Tử, Khổng Minh, Tào Tháo, Đỗ Phủ, Bắc Kinh, Hàng Châu, … đã ăn sâu trong tâm trí chúng ta. Nhưng từ dăm năm trở lại đây, có một số ý kiến muốn áp dụng lối phiên âm Latin của Trung Quốc, gọi là pinyin (âm Hán Việt là bính âm hoặc phanh âm) thay cho tên gọi Hán Việt quen thuộc. Lý lẽ biện hộ cho quan điểm này là pinyin phù hợp với “thông lệ quốc tế” trong xu thế hội nhập hiện nay, dễ tra cứu và phát âm giống tên gốc hơn. Thậm chí dùng âm Hán Việt còn bị quy kết là  “rào cản hội nhập”!

CỘI NGUỒN CỦA BÍNH ÂM
Trước hết ta hãy điểm qua lý do, lịch sử hình thành và phát triển của pinyin. Chữ Hán không phải là chữ ghi âm dựa trên một bảng chữ cái, mà là chữ biểu ý, còn gọi là chữ tượng hình, do đó phải có một hệ thống phiên âm kèm theo dành cho người học. Sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, nhằm mục đích xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, Quốc vụ viện (chính phủ) Trung Quốc đã tiến hành cải cách chữ viết cho dễ học dễ viết bằng cách lược bớt một số nét (hoặc viết đơn giản hơn) một số chữ Hán phức tạp, từ đó tạo ra loại chữ giản thể, đồng thời lập quy tắc phiên âm cho chữ Hán bằng hệ chữ cái Latin, gọi là pinyin (tên đầy đủ là Hán ngữ bính/phanh âmHanyu pinyin).
Hệ thống phiên âm pinyin về cơ bản ra đời năm 1958, sau đó được hoàn thiện và dạng thịnh hành hiện nay được thông qua năm 1978. Năm 1981 Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) công nhận pinyin là chuẩn phiên âm Hán ngữ. Sách báo Pháp, Anh, Mỹ bắt đầu sử dụng pinyin vào đầu thập kỷ 1980, nhưng phải đến cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ mới tiến hành chương trình chuyển đổi toàn bộ phiên âm tên riêng Trung Quốc từ hệ Wade-Giles cũ sang pinyin. Pinyin cũng được sử dụng tại Liên hợp quốc từ năm 1977 sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của tổ chức này (1971). Tuy nhiên, pinyin đã không thực hiện được tham vọng ban đầu là thay thế hẳn Hán tự, vì hai lý do chính: 1) có nhiều từ đồng âm nên dễ gây hiểu lầm hoặc khó đoán nếu không viết hẳn mặt chữ Hán ra; 2) tồn tại nhiều phương ngữ với các cách phát âm khác nhau đối với cùng một mặt chữ, trong khi pinyin dựa trên tiếng phổ thông (lấy phương ngữ Bắc Kinh làm chuẩn), do đó nếu chỉ viết dạng Latin hóa theo âm đọc, sẽ có nhiều người ở chính Trung Quốc không hiểu nếu họ không thạo tiếng phổ thông.
Vậy thì trước khi áp dụng pinyin, các ngôn ngữ phương Tây như tiếng Anh, Pháp, Đức,… sử dụng cách phiên âm nào? Nói chung mỗi thứ tiếng có quy tắc phiên âm của mình, thậm chí không phải chỉ có một cách. Dùng phổ biến nhất trong tiếng Anh là hệ Wade-Giles, ra đời từ cuối thế kỷ 19, lấy theo tên hai nhà ngoại giao người Anh là tác giả của phương pháp phiên âm này. Còn tiếng Pháp sử dụng hệ EFEO, do Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) của Pháp soạn thảo.
Ưu điểm dễ thấy nhất của pinyin chỉ là dễ tra cứu theo các ngôn ngữ phương Tây hay thuận theo cách phiên của nước chủ nhà. Tuy nhiên pinyin không bao trùm tất cả. Đài Loan cho tới nay vẫn không hoàn toàn sử dụng pinyin mặc dù có thông tin nói đã có quy định áp dụng từ năm 2009. Nếu đọc tờ Taipei Times (Đài Bắc thời báo) bằng tiếng Anh (www.taipeitimes.com/), ta thấy tên riêng vẫn ghi theo cách riêng (đa số theo hệ Wade-Giles) mà không theo pinyin và có kèm chữ Hán, chẳng hạn Chiang Kai-shek (Tưởng Giới Thạch), Lee Teng-hui (Lý Đăng Huy), Ma Ying-jeou (Mã Anh Cửu), Keelung (Cơ Long), Chiayi (Gia Nghĩa). Chính vì lẽ đó, các cuốn từ điển bách khoa của Anh, Mỹ hay Pháp khi ghi tên nhân danh hay địa danh Đài Loan đều theo đúng cách viết bản địa, tức là không theo pinyin. Và điều đáng ngạc nhiên là ngay một số mạng chính thống của Trung Quốc như Tân Hoa xã (http://news.xinhuanet.com/english/), Nhân dân nhật báo tiếng Anh (www.chinadaily.com.cn), Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc (http://english.cntv.cn/) cũng nhất nhất tuân theo quy ước này khi nhắc đến các tên riêng Đài Loan, như Koo Chen-fu (Cô Chấn Phủ), Wu Po-hsiung (Ngô Bá Hùng), Lin Join-sane (Lâm Trung Sâm), Taipei (Đài Bắc), Kaohsiung (Cao Hùng). Đối với các nhân vật gốc Hoa ở Hoa Kỳ, Singapore, châu Âu… thì họ tên của họ cũng phiên theo cách riêng (trừ một số người xuất thân từ Trung Hoa đại lục sang đây chưa lâu phiên tên họ theo pinyin như Cao Hành Kiện: Gao Xingjian): Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu), Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long), Chen-Ning Yang (Dương Chấn Ninh), Yuan Tseh Lee (Lý Viễn Triết). Nếu bạn tìm đọc sách viết về Trung Quốc trong phần lớn thế kỷ 20 (thậm chí có cuốn in vào cuối thế kỷ 20) thì họ cũng không dùng pinyin, sách tiếng Anh của các tác giả Đài Loan thì lại càng không.
Một ngộ nhận trong số những người ủng hộ việc sử dụng pinyin trong tiếng Việt là họ cho rằng pinyin giúp phát âm chính xác tên riêng Trung Quốc. Nếu không học cách phát âm Hán ngữ thì dù người Việt hay người Anh, người Pháp đều phát âm không đúng nhiều từ trong tiếng Hán nếu cứ đọc theo pinyin và chắc chắn người Trung Quốc không hiểu họ nhắc đến ai hay địa danh nào. Lý do là nhiều chữ Latin theo cách đọc thông dụng không phản ánh đúng âm tiếng Hán. Đó là chưa kể việc dùng pinyin trên sách báo phương Tây nói chung không ghi dấu thanh điệu do không thuận tiện (tiếng Hán có bốn dấu thanh điệu), nên chuyện ông nói gà bà tưởng vịt càng tăng.
Chẳng hạn Cao Cao (Tào Tháo) không đọc là Cao Cao như trong tiếng Việt (hay [Kaʊ Kaʊ] theo phiên âm quốc tế),mà phải đọc là [TsaʊTsaʊ]. Hay những phụ âm b, d, q, j trong pinyin  không đọc là [b], [d], [k], [dʒ] như ta tưởng. Xét về độ chính xác trong ghi âm, pinyin còn thua cả hệ Wade-Giles. Ưu điểm của pinyin so với hệ Wade-Giles là nó phân bổ các âm gần nhau trong tiếng Hán cho những chữ cái riêng biệt trong bảng chữ cái Latin (nhưng mất đi sự chính xác), khiến cho việc phân biệt âm dễ hơn. Chẳng hạn, các cặp phụ âm bật hơi và không bật hơi có âm gần nhau trong hệ Wade-Giles là k/k’, p/p’, t/t’, ch/ch’, ts/ts’ sang pinyin chuyển thành g/k, b/p, d/t, zh/ch (hoặc j/q  trước iü), z/c, dễ tách bạch hơn so với chỉ phân biệt bằng dấu ’ (mà có khi viết ra bị bỏ sót). Ví dụ: Chang Kuo-t’ao (Trương Quốc Đào) theo hệ Wade-Giles chuyển thành Zhang Guotao trong pinyin, Teng Hsiao-p’ing (Đặng Tiểu Bình) thành Deng Xiaoping.

TRÁNH NHỮNG ĐỀ XUẤT NỬA VỜI
Qua phân tích trên đây, ưu điểm phát âm chính xác cho người bản ngữ hiểu được mà một số người gán cho pinyin khi so sánh với âm Hán Việt chỉ là tưởng tượng. Mặc dù trong một số trường hợp, pinyin có thể gần tên gốc hơn âm Hán Việt, nhưng tên riêng đòi hỏi chính xác gần như tuyệt đối nên dù gần hơn mà vẫn bị lẫn lộn thì cũng chẳng có ý nghĩa gì. Xin lấy một ví dụ trong tiếng Việt cho dễ hiểu: Nguyễn Viết Vân hay Nguyễn Việt Văn cần chính xác tuyệt đối chứ không thể viết Nguyen Viet Van chung chung được. Trong khi đó tuy âm Hán Việt có thể không gần âm gốc bằng, nhưng trong nhiều trường hợp có thể khôi phục được nguyên dạng chữ Hán, điều mà pinyin chịu thua.
Trong khi đó, nhiều nhược điểm bộc lộ ở pinyin so với âm Hán Việt:
1. Tên riêng theo pinyin vô nghĩa, vô cảm, khó nhớ, khó đọc. Bắc Kinh hay Nam Kinh đều được người Việt hiểu ngay nghĩa là kinh đô phía Bắc hay phía Nam, còn Beijing  hay Nanjing chẳng gợi lên điều gì. Hà Nam hay Hà Bắc cho ta biết ngay hai tỉnh đó ở phía Bắc hay phía Nam sông Hoàng Hà, còn Hebei hay Henan thì không.
2. Tên riêng theo pinyin gây thêm sự trùng lặp, nhầm lẫn, nhất là nếu viết không có dấu thanh điệu. Lu Xun có thể là Lỗ Tấn hoặc Lục Tốn, Yan Yuan có thể là Nhan Uyên (học trò của Khổng Tử) mà cũng có thể là Nhan Nguyên (triết gia đời Thanh); Pingxiang  có thể là Bằng Tường (ở Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây) hay Bình Hương (ở tỉnh Giang Tây); Heng Shan có thể là Hoành/Hành Sơn (ở tỉnh Hồ Nam) hay Hằng Sơn (ở tỉnh Thiểm Tây [chỗ này nhầm: đúng là Sơn Tây]). Trường hợp ngược lại hầu như không xảy ra trong tên riêng vì số lượng âm Hán Việt nhiều hơn hẳn số lượng âm pinyin (nếu không kèm theo dấu thanh điệu thì càng ít).
Bạn thử tưởng tượng đọc TamQuốc diễn nghĩa, Thủy Hử  hay truyện chưởng Kim Dung (à phải viết là Sanguoyanyi, Shuihu, Jin Yong mới phù hợp) với các nhân vật Guan Yu, Zhuge Liang, Zhao Yun, Lin Chong, Lu Zhishen, Wu Song, Yang Bu Hui, Huoqingtong, … thì liệu có hứng thú như trước không?
Dường như cũng thấy những bất cập nếu chuyển hoàn toàn sang pinyin, một vị tiến sĩ đề xuất: “Nhân danh địa danh ở thời kỳ “đồng văn” (từ thế kỷ 19) nên nhất loạt dùng phiên âm Hán - Việt. Chúng ta sẽ đọc/viết là Khổng Tử, Giả Nghị, Đào Uyên Minh, Đỗ Phủ, Tương Giang... Nhưng tên riêng Trung Quốc thời kỳ tình trạng “đồng văn” chấm dứt (từ đầu thế kỷ 20 trở đi), chúng ta nên đọc/viết theo đúng âm Bắc Kinh (bính âm). Nếu chưa thực hiện được ngay thì tên riêng Trung Quốc đương đại (từ sau 1979) nhất thiết phải đọc/viết theo quy tắc ấy”1. Một đề xuất nửa vời gây sự thiếu nhất quán, đứt khúc về thời gian như vậy phỏng có nên? Chưa nói đến việc khó khả thi (hoặc nhà báo, dịch giả công đâu tra cứu việc này) khi xác định nhân danh, địa danh nào xuất hiện trước năm 1979 (hoặc trước đầu thế kỷ 20), nhân danh, địa danh nào xuất hiện sau năm 1979 (hoặc sau đầu thế kỷ 20) và xuất hiện ở đâu để quyết định phiên âm Hán Việt hay pinyin?
NGUYỄN VIỆT LONG

Wednesday, July 8, 2015

Người chồng hoàn hảo

NGƯỜI CHỒNG HOÀN HẢO
không uống rượu, không nói dối,
không lăng nhăng, không đôi co,
không mè nheo và KHÔNG TỒN TẠI.


Tiếng Việt: Bàn thêm chuyện ưu, khuyết

TTCT - Người Việt ta xưa nay vốn quen dùng âm Hán Việt trong tên người hay địa danh Trung Hoa. Những cái tên Tư Mã Thiên, Khổng Tử, Khổng Minh, Tào Tháo, Đỗ Phủ, Bắc Kinh, Hàng Châu... đã ăn sâu trong tâm trí chúng ta.

Nhưng từ dăm năm trở lại đây, có một số ý kiến muốn áp dụng lối phiên âm Latin của Trung Quốc gọi là pinyin (âm Hán Việt là bính âm hoặc phanh âm) thay cho tên gọi Hán Việt quen thuộc. Lý lẽ biện hộ cho quan điểm này là pinyin phù hợp với “thông lệ quốc tế” trong xu thế hội nhập hiện nay, dễ tra cứu và phát âm giống tên gốc hơn. Thậm chí dùng âm Hán Việt còn bị quy kết là “rào cản hội nhập”!
Cội nguồn của bính âm
Trước hết ta hãy điểm qua lý do, lịch sử hình thành và phát triển của pinyin. Chữ Hán không phải là chữ ghi âm dựa trên một bảng chữ cái mà là chữ biểu ý, còn gọi là chữ tượng hình, do đó phải có một hệ thống phiên âm kèm theo dành cho người học.
Sau khi nước CHND Trung Hoa được thành lập, nhằm mục đích xóa nạn mù chữ, nâng cao dân trí, Quốc vụ viện (chính phủ) Trung Quốc đã tiến hành cải cách chữ viết cho dễ học, dễ viết bằng cách lược bớt một số nét (hoặc viết đơn giản hơn) một số chữ Hán phức tạp, từ đó tạo ra loại chữ giản thể, đồng thời lập quy tắc phiên âm cho chữ Hán bằng hệ chữ cái Latin gọi là pinyin (tên đầy đủ là Hán ngữ bính/phanh âm - Hanyu pinyin).
Hệ thống phiên âm pinyin về cơ bản ra đời năm 1958, sau đó được hoàn thiện và dạng thịnh hành hiện nay được thông qua năm 1978. Năm 1981, Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) công nhận pinyin là chuẩn phiên âm Hán ngữ. Sách báo Pháp, Anh, Mỹ bắt đầu sử dụng pinyin vào đầu thập kỷ 1980, nhưng phải đến cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ mới tiến hành chương trình chuyển đổi toàn bộ phiên âm tên riêng Trung Quốc từ hệ Wade-Giles cũ sang pinyin.
Pinyin cũng được sử dụng tại Liên Hiệp Quốc từ năm 1977 sau khi Trung Quốc trở thành thành viên của tổ chức này (1971). Tuy nhiên, pinyin đã không thực hiện được tham vọng ban đầu là thay thế hẳn Hán tự vì hai lý do chính:
1) có nhiều từ đồng âm nên dễ gây hiểu lầm hoặc khó đoán nếu không viết hẳn mặt chữ Hán ra;
2) tồn tại nhiều phương ngữ với các cách phát âm khác nhau đối với cùng một mặt chữ, trong khi pinyin dựa trên tiếng phổ thông (lấy phương ngữ Bắc Kinh làm chuẩn), do đó nếu chỉ viết dạng Latin hóa theo âm đọc sẽ có nhiều người ở chính Trung Quốc không hiểu nếu họ không thạo tiếng phổ thông.
Vậy trước khi áp dụng pinyin, các ngôn ngữ phương Tây như tiếng Anh, Pháp, Đức... sử dụng cách phiên âm nào? Nói chung mỗi ngôn ngữ có quy tắc phiên âm của mình, thậm chí không phải chỉ có một cách. Dùng phổ biến nhất trong tiếng Anh là hệ Wade-Giles ra đời từ cuối thế kỷ 19, lấy theo tên hai nhà ngoại giao người Anh là tác giả của phương pháp phiên âm này. Còn tiếng Pháp sử dụng hệ EFEO, do Viện Viễn Đông Bác cổ (EFEO) của Pháp soạn thảo.
Ưu điểm dễ thấy nhất của pinyin chỉ là dễ tra cứu theo các ngôn ngữ phương Tây hay thuận theo cách phiên của nước chủ nhà. Tuy nhiên pinyin không bao trùm tất cả. Đài Loan cho tới nay vẫn không hoàn toàn sử dụng pinyin mặc dù có thông tin nói đã có quy định áp dụng từ năm 2009.
Nếu đọc tờ Taipei Times (Đài Bắc Thời Báo) bằng tiếng Anh (www.taipeitimes.com/), ta thấy tên riêng vẫn ghi theo cách riêng (đa số theo hệ Wade-Giles) mà không theo pinyin và có kèm chữ Hán, chẳng hạn Chiang Kai-shek (Tưởng Giới Thạch), Lee Teng-hui (Lý Đăng Huy), Ma Ying-jeou (Mã Anh Cửu), Keelung (Cơ Long), Chiayi (Gia Nghĩa). Chính vì lẽ đó, các cuốn từ điển bách khoa của Anh, Mỹ hay Pháp khi ghi tên nhân danh hay địa danh Đài Loan đều theo đúng cách viết bản địa, tức là không theo pinyin.
Và điều đáng ngạc nhiên là ngay một số mạng chính thống của Trung Quốc như Tân Hoa xã (http://news.xinhuanet.com/english/), Nhân Dân Nhật Báo tiếng Anh (www.chinadaily.com.cn), Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (http://english.cntv.cn/) nhất nhất tuân theo quy ước này khi nhắc đến các tên riêng Đài Loan như Koo Chen-fu (Cô Chấn Phủ), Wu Po-hsiung (Ngô Bá Hùng), Lin Join-sane (Lâm Trung Sâm), Taipei (Đài Bắc), Kaohsiung (Cao Hùng).
Đối với các nhân vật gốc Hoa ở Hoa Kỳ, Singapore, châu Âu... thì họ tên của họ cũng phiên theo cách riêng (trừ một số người xuất thân từ Trung Hoa đại lục sang đây chưa lâu phiên tên họ theo pinyin như Cao Hành Kiện: Gao Xingjian), Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu), Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long), Chen-Ning Yang (Dương Chấn Ninh), Yuan Tseh Lee (Lý Viễn Triết).
Nếu bạn tìm đọc sách viết về Trung Quốc trong phần lớn thế kỷ 20 (thậm chí có cuốn in vào cuối thế kỷ 20) thì họ cũng không dùng pinyin, sách tiếng Anh của các tác giả Đài Loan lại càng không.
Một ngộ nhận trong số những người ủng hộ việc sử dụng pinyin trong tiếng Việt là họ cho rằng pinyin giúp phát âm chính xác tên riêng Trung Quốc. Nếu không học cách phát âm Hán ngữ thì dù người Việt hay người Anh, người Pháp đều phát âm không đúng nhiều từ trong tiếng Hán nếu cứ đọc theo pinyin và chắc chắn người Trung Quốc không hiểu họ nhắc đến ai hay địa danh nào.
Lý do là nhiều chữ Latin theo cách đọc thông dụng không phản ánh đúng âm tiếng Hán. Đó là chưa kể việc dùng pinyin trên sách báo phương Tây nói chung không ghi dấu thanh điệu do không thuận tiện (tiếng Hán có bốn dấu thanh điệu), nên chuyện ông nói gà bà tưởng vịt càng tăng.
Chẳng hạn Cao Cao (Tào Tháo) không đọc là Cao Cao như trong tiếng Việt (hay [Ka Ka] theo phiên âm quốc tế) mà phải đọc là [Tsa Tsa]. Hay những phụ âm b, d, q, j trong pinyin không đọc là [b], [d], [k], [dj] như ta tưởng. Xét về độ chính xác trong ghi âm, pinyin còn thua cả hệ Wade-Giles.
Ưu điểm của pinyin so với hệ Wade-Giles là nó phân bổ các âm gần nhau trong tiếng Hán cho những chữ cái riêng biệt trong bảng chữ cái Latin (nhưng mất đi sự chính xác), khiến việc phân biệt âm dễ hơn. Chẳng hạn, các cặp phụ âm bật hơi và không bật hơi có âm gần nhau trong hệ Wade-Giles là k/k’, p/p’, t/t’, ch/ch’, ts/ts’ sang pinyin chuyển thành g/k, b/p, d/t, zh/ch (hoặc j/q trước i và ü), z/c, dễ tách bạch hơn so với chỉ phân biệt bằng dấu ’ (mà có khi viết ra bị bỏ sót).
Ví dụ: Chang Kuo-t’ao (Trương Quốc Đào) theo hệ Wade-Giles chuyển thành Zhang Guotao trong pinyin, Teng Hsiao-p’ing (Đặng Tiểu Bình) thành Deng Xiaoping.
Tránh những đề xuất nửa vời
Qua phân tích trên đây, ưu điểm phát âm chính xác cho người bản ngữ hiểu được mà một số người gán cho pinyin khi so sánh với âm Hán Việt chỉ là tưởng tượng. Mặc dù trong một số trường hợp, pinyin có thể gần tên gốc hơn âm Hán Việt, nhưng tên riêng đòi hỏi chính xác gần như tuyệt đối nên dù gần hơn mà vẫn bị lẫn lộn thì cũng chẳng có ý nghĩa gì.
Xin lấy một ví dụ trong tiếng Việt cho dễ hiểu: Nguyễn Viết Vân hay Nguyễn Việt Văn cần chính xác tuyệt đối chứ không thể viết Nguyen Viet Van chung chung được. Trong khi đó tuy âm Hán Việt có thể không gần âm gốc bằng, nhưng trong nhiều trường hợp có thể khôi phục được nguyên dạng chữ Hán, điều mà pinyin chịu thua.
Trong khi đó, nhiều nhược điểm bộc lộ ở pinyin so với âm Hán Việt:
1. Tên riêng theo pinyin vô nghĩa, vô cảm, khó nhớ, khó đọc. Bắc Kinh hay Nam Kinh đều được người Việt hiểu ngay nghĩa là kinh đô phía bắc hay phía nam, còn Beijing hay Nanjing chẳng gợi lên điều gì. Hà Nam hay Hà Bắc cho ta biết ngay hai tỉnh đó ở phía bắc hay phía nam sông Hoàng Hà, còn Hebei hay Henan thì không.
2. Tên riêng theo pinyin gây thêm sự trùng lặp, nhầm lẫn, nhất là nếu viết không có dấu thanh điệu. Lu Xun có thể là Lỗ Tấn hoặc Lục Tốn, Yan Yuan có thể là Nhan Uyên (học trò của Khổng Tử) mà cũng có thể là Nhan Nguyên (triết gia đời Thanh), Pingxiang có thể là Bằng Tường (ở khu tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây) hay Bình Hương (ở tỉnh Giang Tây), Heng Shan có thể là Hoành/Hành Sơn (ở tỉnh Hồ Nam) hay Hằng Sơn (ở tỉnh Thiểm Tây).
Trường hợp ngược lại hầu như không xảy ra trong tên riêng vì số lượng âm Hán Việt nhiều hơn hẳn số lượng âm pinyin (nếu không kèm theo dấu thanh điệu thì càng ít).
Bạn thử tưởng tượng đọc Tam Quốc diễn nghĩa, Thủy hử hay truyện chưởng Kim Dung (à, phải viết là Sanguo yanyi, Shuihu, Jin Yong mới phù hợp) với các nhân vật Guan Yu, Zhuge Liang, Zhao Yun, Lin Chong, Lu Zhishen, Wu Song, Yang Bu Hui, Huoqingtong... thì liệu có hứng thú như trước không?
Dường như cũng thấy những bất cập nếu chuyển hoàn toàn sang pinyin, một vị tiến sĩ đề xuất: “Nhân danh địa danh ở thời kỳ “đồng văn” (từ thế kỷ 19) nên nhất loạt dùng phiên âm Hán - Việt. Chúng ta sẽ đọc/viết là Khổng Tử, Giả Nghị, Đào Uyên Minh, Đỗ Phủ, Tương Giang... Nhưng tên riêng Trung Quốc thời kỳ tình trạng “đồng văn” chấm dứt (từ đầu thế kỷ 20 trở đi), chúng ta nên đọc/viết theo đúng âm Bắc Kinh (bính âm).
Nếu chưa thực hiện được ngay thì tên riêng Trung Quốc đương đại (từ sau năm 1979) nhất thiết phải đọc/viết theo quy tắc ấy”. Một đề xuất nửa vời gây sự thiếu nhất quán, đứt khúc về thời gian như vậy phỏng có nên?
Chưa nói đến việc khó khả thi (hoặc nhà báo, dịch giả công đâu tra cứu việc này) khi xác định nhân danh, địa danh nào xuất hiện trước năm 1979 (hoặc trước đầu thế kỷ 20), nhân danh, địa danh nào xuất hiện sau năm 1979 (hoặc sau đầu thế kỷ 20) và xuất hiện ở đâu để quyết định phiên âm Hán Việt hay pinyin?

Nguyễn Việt Long

Monday, July 6, 2015

Nếu

Nếu một ai đó chỉ quý trọng
bạn khi bạn suy nghĩ, sống theo
kỳ vọng của họ thì người đó thực

tế không quý trọng bạn mà chỉ
quý trọng bản thân mình.


Về Việt ngữ và Hoa ngữ

Ngô Tùng Phong nói về Hoa ngữ và ưu thế của Việt ngữ. Đã có ưu thế thì tại sao công sử dụng nói mà muốn quay lại "dĩ Hoa vi trung".
"Hoa ngữ là một loại sinh ngữ biểu ý, mỗi một chữ ghi một ý niệm. Vì thế cho nên, một người Tàu muốn sử dụng được Hoa ngữ một cách trung bình phải nằm lòng một số tối thiểu là từ ba ngàn đến bốn ngàn chữ. Sự cố gắng về lý trí vượt mức thông thường đó, đã tạo ra sự tôn sùng nhà nho, trong xã hội Trung Hoa và trong xã hội Việt Nam khi xưa.
Hoa ngữ hoàn toàn bất lực khi phải đóng vai trò dụng cụ phổ biến thông dụng và đại chúng cho văn hóa. Cũng vì trở lực tạo ra bởi một sinh ngữ biểu ý, mà văn minh Tàu khi xưa, mặc dầu lên đến cao độ, vẫn không có sinh lực bành trướng như văn minh Tây phương ngày nay.
Lối hành văn của Hoa ngữ là lối hành văn “khiêu ý” cho nên câu văn không có kiến trúc. Mà câu văn không có kiến trúc là một câu văn không có chính xác. Và một sinh ngữ không chính xác không thể trở thành một dụng cụ suy luận sắc bén và tinh vi được. Vì không có dụng cụ ngôn ngữ suy luận sắc bén và tinh vi để sử dụng trong công cuộc thám cứu vũ trụ vật chất và vũ trụ tâm linh, nên người Trung Hoa xưa đã thay thế suy luận bằng trực giác. Chúng ta đã xem qua trong một đoạn trên, ưu và khuyết điểm của trực giác. Tuy nhiên, có một sự kiện thiết thực không thể phủ nhận được là trong các nền văn minh cổ, chỉ có nền văn minh Trung Hoa là rất yếu kém về toán học và rất nghèo nàn về triết lý.
Nguyên do là Hoa ngữ, với lối văn khiêu ý, hoàn toàn bất lực khi đóng vai trò dụng cụ suy luận tinh vi và sắc bén.
Và chính ngày nay, mặc dầu Trung Hoa đang áp dụng những biện pháp huy động độc tài Đảng trị Cộng Sản cực kỳ tàn nhẫn, để dốc hết nỗ lực của tám trăm triệu dân vào công cuộc phát triển dân tộc bằng cách Tây phương hóa, chúng ta cũng có thể đoán biết rằng, công cuộc phát triển của Tàu, nếu có vượt được những trở lực vật chất và chính trị to tát, mà chúng ta đã biết, sẽ không vượt được một giới hạn ấn định bởi ảnh hưởng kìm hãm của một ngôn ngữ, không thể là một dụng cụ phổ biến, thông dụng và đại chúng, và một dụng cụ suy luận sắc bén và tinh vi.
Việt ngữ xưa kia dùng chữ Hán và chữ Nôm hoàn toàn lệ thuộc Hoa ngữ, nên đã có một thời kỳ cũng bất lực trong vai trò dụng cụ phổ biến thông dụng và đại chúng. Chỉ xét qua di sản văn hóa, vừa nghèo nàn vừa giới hạn của chúng ta, chúng ta càng ý thức được hậu quả tai hại của sự lệ thuộc và sự bất lực đó trong một ngàn năm. Nhưng từ ngày Việt ngữ được ghi âm bằng mẫu tự La Mã thì đã được giải thoát khỏi sự bất lực trên. Một sự kiện rất cụ thể tiêu biểu cho sự giải thoát này là, trong tất cả các sinh ngữ trong xã hội Đông Á ngày nay, Việt ngữ là sinh ngữ duy nhất, có thể dùng máy đánh chữ mà viết ra được. Sự kiện trên lại làm bộc lộ tầm xoay trở rộng rãi của lối ghi âm, sánh với lối biểu ý.
Sự ghi âm Việt ngữ bằng mẫu tự La Mã thay thế cho chữ Nôm và chữ Hán, là một ví dụ thành công của công cuộc Tây phương hóa của chúng ta, trong một phạm vi nhỏ, nhưng quan trọng và quyết định, phạm vi ngôn ngữ. Sự thành công này, đương nhiên gieo cho chúng ta một sự tin tưởng mãnh liệt vào những thành công phong phú hơn nữa, trong những phạm vi rộng lớn của công cuộc Tây phương hóa mà chúng ta đang theo đuổi."

Nguyễn Ái Việt (Debrecen,VIDI72)

Cải cách tiếng Việt

Tiếng Việt nhất định phải cải cách, do ngày càng khó đáp ứng nhu cầu phát triển. Ngày càng phát triển một số dị dạng, nếu không sửa sớm sẽ trở thành cố hữu. Nhưng phải cải cách theo hướng nào? Trước hết phải có một hệ thống nguyên tắc nền tảng, để xây dựng trên đó những quy luật đặc thù của tiếng Việt. Ngôn ngữ hình thành theo thói quen, dẫu không nên để bản năng lồng lên như một con ngựa chứng, cũng không nên phát hiện ra bánh xe.Theo tiếng Trung Quốc có thuận lợi về từ nguyên, do 80-90% từ tiếng Việt có liên hệ tới gốc Hán. Theo tiếng Anh-Pháp, có thuận lợi về khoa học công nghệ, giao lưu thương mại kinh tế. Về ngữ pháp, rõ ràng không thể quay ngược bánh xe, theo Trung Quốc, bởi vì từ thời Tố Tâm, Tản Đà, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, đến nay, kho tàng tiếng Việt viết bằng chữ quốc ngữ đã đồ sộ hơn hàng triệu lần so với toàn bộ di sản của cha ông để lại. Tiếng Việt bằng chữ quốc ngữ, dù muốn hay không, đã hình thành một văn phong, văn phạm và ngữ pháp mới, hướng về phương Tây. Tất nhiên có một số ý kiến cho rằng đó là "dĩ âu vi trung", cần phải có một ngữ pháp tiếng Việt hoàn toàn mới mẻ. Mọi tư tưởng mới cần được hoan nghênh, nếu không cắt bớt thời gian nói chuyện vu khoát, đi vào hành động. Hai là không trá ngụy hay lầm đường vào "dĩ Hoa vi Trung" như đã mắc lỡm cả ngàn năm. Cuối cùng thì các nhà ngữ văn, ngôn ngữ vẫn đưa ra toàn học thuyết tịnh không có tâm huyết và kiến thức đưa ra một chủ kiến thực hành nào. Không lẽ vẫn đề lại khó như thế.
Hãy xem Ngô Tùng Phong nói gì?
"Ngôn ngữ của một cộng đồng dân tộc, đương nhiên là dụng cụ của nền văn hóa của cộng đồng. Nhưng ngôn ngữ chỉ trở thành một dụng cụ sung mãn của nền văn hóa khi nào ngôn ngữ gồm được hai đức tính: dễ học để trở thành một dụng cụ phổ biến, thông dụng và đại chúng; và chính xác để trở thành một dụng cụ suy luận tinh vi và sắc bén."
Trong yêu cầu "chính xác để trở thành một dụng cụ suy luận tinh vi và sắc bén" (rõ ràng là điểm yếu của tiếng Việt) Ngô Tùng Phong cho rằng tiếng Việt có ưu thế so với Hoa Ngữ. Chính vì thế ông lạc quan ở tiền đồ phát triển của dân tộc. Văn minh Trung Hoa rực rỡ, nhưng đừng khiếp sợ nó đến nỗi tê liệt suy nghĩ và ý chí vươn lên.


Nguyễn Ái Việt (Debrecen,VIDI72)

Sunday, July 5, 2015

Con người ta...

Con người ta không nhận thấy chúng ta
làm gì cho họ chừng nào chúng ta chưa
ngừng làm điều đó...




Saturday, July 4, 2015

Répát kérek

A nyúl bemegy a boltba, és kér a medvétől két répát.
- Nincsen! - válaszolja a medve.
A nyuszika szomorúan elkullog. 2 óra múlva bemegy a boltba:
- Két répát kérek!
- Nincs, de ha még egyszer bejössz, és kérsz 2 répát, kilapítalak egy
kalapáccsal, és a kutyáknak adlak vacsorára!!!
A nyuszika elkullog, és 2 óra múlva újra bemegy a boltba:
- Van kalapács?
- Nincs.
- És kutyák?
- Azok sincsenek!
- Akkor kérek két répát!


(Post from Nghia Doan's wall/FB)

Đại kế hoạch của Bắc Kinh ở Biển Đông

Ưu tiên hàng đầu trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc lúc này phải là ngăn ngừa sự hình thành của một liên minh “chống Trung Quốc”, đồng thời duy trì bằng mọi cách sự ủng hộ rộng rãi đối với Chiến lược lớn Một Vành đai, Một Con đường

Từ cuối 2013, Trung Quốc đã bắt đầu có những điều chỉnh trong chính sách Biển Đông, nhưng hầu như không ai nhận thấy. Thay vì đối đầu trực tiếp với các nước có đòi hỏi chủ quyền, Trung Quốc tập trung cho công tác bồi đắp và tôn tạo những đảo đá nước này đang kiểm soát với quy mô và tốc độ tương xứng với sức mạnh kỹ thuật của mình.
Chỉ tới đầu năm 2015, thế giới mới bắt đầu để ý tới những diễn biến này sau khi một số viện nghiên cứu uy tín của Mỹ công bố những bức ảnh vệ tinh độ phân giải cao về quy mô xây đảo của Trung Quốc, gồm cả các cơ sở quân sự, đường băng…, qua đó có thể giúp Trung Quốc vươn sức mạnh quân sự tới những vùng biển tranh chấp. Điều này đã trực tiếp đe doạ an ninh các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Việt Nam và Philippines. Mỹ cũng không thể ngồi yên. Tháng 5/2015, Mỹ quyết khẳng định quyền tự do hàng hải và hàng không thông qua việc cử máy bay tới các khu vực đảo do Trung Quốc kiểm soát. Tại Đối thoại Shangri-la, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ kêu gọi tất cả các nước đòi hỏi chủ quyền “ngừng ngay lập tức và lâu dài” các hoạt động tôn tạo đảo đá, thực chất nhằm vào Trung Quốc.
Chỉ hơn nửa tháng sau, tại một cuộc họp báo đặc biệt, Bắc Kinh thông báo sẽ sớm chấm dứt các hoạt động xây mới đảo đá. Nhưng điều này không có nghĩa Bắc Kinh lại điều chỉnh chính sách Biển Đông, mà đơn giản chỉ là việc xây đảo đã đạt mục đích với diện tích bồi đắp và xây mới lên tới 2.000 mẫu Anh; còn các cơ sở khác, gồm cả đường băng, cảng biển và đèn biển đang được tiếp tục xây dựng để phục vụ cho các mục đích quân sự và dân sự. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Trung Quốc chỉ nhằm phát đi những tín hiệu hoà dịu cho khu vực và bên ngoài. Có thể Trung Quốc thấy được hoạt động xây đảo đã làm ảnh hưởng tới những mục tiêu đối ngoại rộng lớn hơn, cụ thể là Con đường tơ lụa trên biển.
Kể từ khi được khởi xướng cuối 2013, Sáng kiến Một Vành đai, Một Con đường (OBOR) đã trở thành Chiến lược lớn của Trung Quốc, với mục tiêu kết hợp nhu cầu cải cách kinh tế trong nước với tham vọng mở rộng ảnh hưởng ngoại giao, kinh tế trên một khu vực rộng lớn với dân số 4,4 tỷ người, gồm 64 quốc gia và tổng GDP 21 ngìn tỷ USD, gấp đôi GDP của Trung Quốc và tương đương 29% tổng GDP toàn cầu.
Nhưng chính sách Biển Đông hiện thời của Trung Quốc ngày càng mâu thuẫn với sáng kiến OBOR, vì nó làm tổn hại quan hệ giữa Trung Quốc với các nước ASEAN trong khi OBOR sẽ không thể thành công nếu thiếu sự cộng tác của khu vực. Sau vụ việc chiếm bãi cạn Scaborough của Philippines năm 2012 và hạ đặt giàn khoan tại vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam năm 2014, quan hệ giữa Trung Quốc với Philippines và Việt Nam đang xuống mức thấp nhất trong nhiều năm. Giờ đây các hoạt động xây đảo của Trung Quốc càng làm ASEAN lo ngại hơn. Tuy cả 10 nước ASEAN đều là thành viên của AIIB và mong muốn tận dụng các cơ hội kinh tế do sáng kiến của Trung Quốc mang lại, nhưng căng thẳng trên Biển Đông cùng với sức mạnh quân sự ngày càng tăng của Trung Quốc sẽ đẩy ASEAN nhìn nhận sáng kiến OBOR theo khía cạnh địa chính trị, thay vì lợi ích kinh tế. Có thể Bắc Kinh đã nhận ra căng thẳng kéo dài ở Biển Đông đang làm tổn hại lợi ích đối ngoại của chính mình, nhất là những tham vọng rộng lớn của OBOR, và sẽ phải khắc phục tình trạng này.
Bắc Kinh cũng ngày càng nhận thức rõ nhu cầu phải duy trì khu vực tương đối ổn định, không tạo cớ để các nước bên ngoài gây khó khăn cho quan hệ giữa Trung Quốc với ASEAN, đặc biệt ngăn ngừa khả năng hình thành liên minh “chống Trung Quốc” gồm ASEAN, Mỹ và có thể cả Nhật bản, Úc và Ấn Độ trên cơ sở lập trường chung phản đối chính sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Đây sẽ thực sự là thảm hoạ cho Con đường tơ lụa trên biển, khi sáng kiến này phải đi qua Biển Đông và rất cần sự ủng hộ của các nước ASEAN chủ chốt như Indonesia, Malaysia và Singapore. Đây cũng sẽ là tổn thất lớn cho các lợi ích an ninh của Trung Quốc ở Châu Á.
Vì những lý do trên, sẽ là ngớ ngẩn về chiến lược nếu những hoạt động bồi đắp và tôn tạo đảo đá không phục vụ các lợi ích đối ngoại mà của Trung Quốc mà chỉ càng làm các nước ASEAN rơi vào vòng tay của Mỹ. Ưu tiên hàng đầu trong chính sách Biển Đông của Trung Quốc lúc này phải là ngăn ngừa sự hình thành của một liên minh “chống Trung Quốc”, đồng thời duy trì bằng mọi cách sự ủng hộ rộng rãi đối với Chiến lược lớn Một Vành đai, Một Con đường (OBOR).
Cũng không nên quên rằng Cuộc họp báo ngày 16/6 diễn ra ngay trước Phiên Đối thoại Kinh tế và Chiến lược ASEAN-Mỹ lần thứ 7, và chỉ còn hơn 3 tháng nữa Tập Cận Bình sẽ thăm Mỹ. Động thái này có thể nhằm tạo không khí thuận lợi hơn cho quan hệ Mỹ-Trung. Dù thế nào, Trung Quốc vẫn muốn và coi trọng duy trì quan hệ ổn định với Mỹ. Đây cũng là điều Mỹ mong muốn.
Dù chính sách Biển Đông của Trung Quốc không thay đổi nhiều về thực chất, nhưng có vẻ nước này đang muốn gửi một tín hiệu hoà giải hơn ra bên ngoài thông qua tuyên bố sẽ ngừng các hoạt động bồi đắp, xây mới đảo và giảm căng thẳng. Điều mà Trung Quốc không công bố công khai - nhưng hy vọng bên ngoài hiểu - là nước này muốn nhận được nhiều hợp tác hơn để triển khai Chiến lược lớn OBOR. Nói cách khác, vấn đề Biển Đông có vẻ như đã tạm ngừng là “lợi ích cốt lõi” trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc.
Theo “Foreign Policy” 
Mỹ Anh (gt)
 (Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông)

4 quy tắc tâm linh của người Ấn Độ

- Quy tắc đầu tiên:
"Bất cứ người nào bạn gặp cũng đúng là người mà bạn cần gặp cả."
- Quy tắc thứ hai:
"Bất cứ điều gì xảy ra thì đó chính là điều nên xảy ra."
- Quy tắc thứ ba:
"Trong mỗi khoảnh khắc, mọi sự đều bắt đầu vào đúng thời điểm."
- Quy tắc thứ tư:
"Những gì đã qua, cho qua."

Xử lý tiếng nói và Dịch máy

Năm nay Việt Nam (và do IOIT đứng ra) là chủ nhà cho một trong những hội nghị lớn của thế giới về Xử lý tiếng nói và Dịch máy, diễn ra vào đầu tháng 12 tại Đà Nẵng. Như mọi năm, sẽ có thi nhận dạng tiếng nói, dịch máy, dịch máy tiếng nói, đặc biệt năm nay có Dịch Anh-Việt, Việt-Anh và dịch tiếng nói từ Anh sang Việt. Những nghiên cứu về Nhận dạng tiếng nói và dịch máy, cũng như tiền xử lý, hậu xử lý dữ liệu text cũng được hoan nghênh để gửi bài. Mọi người có hứng thú quan tâm thì tham gia nhé. Năm 2013 lần đầu tiên IOIT đại diện cho Việt Nam tham gia tại Heidelberg, năm 2014 tại Lake Tahoe, California, và năm nay tổ chức vào ngày 3-4/12 tại Đà Nẵng.

Lương Chi Mai

Ông Trần Quang Cơ: Việc cần làm với Mỹ 'chậm cả 10 năm'

Bản lĩnh Trần Quang Cơ từ trong sâu thẳm luôn chủ trương xây dựng một nền ngoại giao vì lợi ích quốc gia-dân tộc, bảo vệ đến cùng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
Năm 2015 kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ cũng là thời điểm đánh dấu quan hệ hai nước đã và đang phát triển vượt bậc. Nhất là trong bối cảnh lần đầu tiên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng chuẩn bị thăm chính thức Hoa Kỳ vào đầu tháng 7 này.
Nền ngoại giao “Đổi mới” với phương châm “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển” đã được khởi động vào thời điểm then chốt năm 1991 (Đại hội 7 Đảng Cộng Sản). Chính cái “nhân” gieo thuở ấy đã mang lại mùa gặt hứa hẹn hôm nay.
Tại một hội thảo gần đây về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, nguyên Đại sứ đầu tiên của nước ta tại Mỹ Lê Bàng đã đề nghị việc ghi nhận công lao của của một số cá nhân trong việc thúc đẩy, đàm phán bình thường hoá quan hệ với Mỹ mà trước nay chưa được nhắc đến nhiều trong đó có Thứ trưởng Trần Quang Cơ, Thứ trưởng Lê Mai...[1]
Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ cùng đoàn Việt Nam đến Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Paris (Pháp) để đàm phán về việc bình thường hoá quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ (1977) -Ảnh: Sách ảnh 65 năm ngoại giao Việt Nam (1945-2010)/ Báo Thanh Niên
Cái nhìn tỉnh táo từ rất sớm
Nhiều năm sau “thời điểm then chốt” khi nhìn lại, cựu Ủy viên TƯ Đảng, Thứ trưởng Thứ nhất Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ vẫn cảm thấy có phần tiếc nuối. Theo ông, những việc cần thiết làm với Mỹ, trên thực tế chúng ta đã tiến hành, nhưng “chậm trễ tới cả mười năm”[2].
Bởi như ông thẳng thắn chỉ ra khi được hỏi nếu nghĩ lại, ông có thấy trước đây những cơ hội nào bị bỏ lỡ, những điều gì Việt Nam có thể làm khác không: “Một nước nhỏ hay trung bình như Việt Nam thì càng nhiều bạn càng tốt. Tôi thấy điều có thể làm khác là phải đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế sớm hơn. Trước Đại hội Đổi mới (năm 1986), Việt Nam đã quá phụ thuộc vào ý thức hệ mà không đa phương hóa được quan hệ”.
Giờ thì đã quá muộn để có thể hỏi trực tiếp cựu Thứ trưởng Thứ nhất Trần Quang Cơ về cách ông tính như thế nào để đưa ra chỉ dấu cho thấy, chúng ta triển khai một kế sách về an ninh quốc gia quan trọng dường ấy mà để muộn mất cả chục năm. Chúng ta rất muốn hỏi ông nguyên nhân tại sao. Không phải để quy trách nhiệm, mà cái chính là để rút bài học cho hiện tại và cho tương lai.
Quả thật, ngay từ rất sớm, ông Trần Quang Cơ đã có cái nhìn tất tỉnh táo khi cho rằng, một nước Việt Nam đổi mới, độc lập với các nước lớn, cải thiện quan hệ và hoà nhập với các đồng minh của Mỹ ở Đông Nam Á là phù hợp với lợi ích của Mỹ về hoà bình, ổn định, nhằm duy trì ảnh hưởng của Mỹ và hạn chế các thách thức nổi lên đối với vị trí của Mỹ ở khu vực.
Ông Cơ cũng đã phân tích các mối tương tác tạo nên vị thế của Việt Nam trong quan hệ với Mỹ. Ông cho rằng, tuy không có một vị trí quan trọng hàng đầu trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, nhưng Việt Nam vẫn là một nhân tố mà Mỹ không thể không tính đến trong chiến lược của Washington ở Châu Á–TBD và Đông Nam Á. Hơn nữa, về kinh tế Mỹ có lợi ích tranh thủ thị trường và nguồn nguyên liệu của Việt Nam. Mỹ không muốn vắng mặt trong khi các đối thủ của Mỹ đi mạnh vào thị trường Việt Nam.
Trăn trở về quyền lợi đất nước, tinh thần độc lập, tự chủ
Là chuyên gia loại một, ngay từ những ngày đầu, ông Trần Quang Cơ đã giữ cương vị nòng cốt trong hầu hết các giai đoạn quan trọng nhất của ngành ngoại giao giai đoạn 1960 - 1980. Với tư cách một chuyên viên cao cấp về Mỹ, ông đã tham gia với vai trò là một trong những cán bộ lãnh đạo các đơn vị chuyên trách, tham mưu về giải pháp phục vụ cho cuộc hòa đàm Paris, sau đó trực tiếp tham gia đoàn đàm phán cả công khai lẫn bí mật (kết thúc vào tháng 1/1973).
Mấy năm về sau, trong chiều hướng đi tìm những đối thoại thẳng thắn giữa các cựu thù, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ McNamara đã đề nghị các học giả và các nhà lãnh đạo cuộc “chiến tranh Việt Nam” (theo cách nói của người Mỹ), cùng ngồi xuống duyệt lại những quyết định trong chính sách để hiểu rõ hơn, nhưng đặc biệt là để rút ra những kinh nghiệm lịch sử cho toàn cầu thông qua “bài học Việt Nam”.
Sáu hội nghị như thế đã diễn ra tại Hà Nội từ tháng 11/1995 đến tháng 2/1998. Hội nghị thứ 7 diễn ra tại Viện Rockefeller ở Bellagio, Italy. Ông Trần Quang Cơ, ông Nguyễn Cơ Thạch và một số học giả, tướng lĩnh và cựu lãnh đạo CHXHCN Việt Nam đã tham dự chuỗi hội nghị ma-ra-tông này, mà quan trọng nhất là hai hội nghị chính vào tháng 6/1997 và tháng 2/1998. Cả ông Cơ lẫn ông Thạch đã có những đóng góp đáng kể vào quá trình hàn gắn quan hệ Việt – Mỹ.
Nhưng có lẽ liên quan đến các diễn tiến phức tạp hơn trong quan hệ với Mỹ và các nước lớn khác là giai đoạn đầy năng động và sáng tạo của ngoại giao Việt Nam vào cuối những năm 1980, đầu những năm 1990. Ông Trần Quang Cơ lúc ấy đã là thành viên ban lãnh đạo của Bộ Ngoại giao, cùng với tân Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, Thứ trưởng Trần Quang Cơ luôn chủ động đề xuất các ý kiến dựa trên những đánh giá tỉnh táo, những trăn trở về quyền lợi của đất nước, thấm nhuần tinh thần độc lập, tự chủ trong tư duy cũng như trong tác phong lãnh đạo.
Liên quan đến công tác nghiên cứu chiến lược cũng như các hành vi mang tính động thái, ông Trần Quang Cơ luôn có cách nhìn “cân bằng và đối trọng”. Trong quan hệ với Mỹ, ông chủ trương phải tăng cường hợp tác trên nhiều mặt nhưng vẫn cần đấu tranh khi nẩy sinh vấn đề trái với lợi ích của ta (ví dụ như vấn đề chất độc da cam chẳng hạn). Với Trung Quốc cũng vậy, ông thường nhắc không thể quá nặng về hợp tác và nhân nhượng để bị đánh giá là ta thúc thủ, coi nhẹ mặt đấu tranh.
Viết những dòng này nhân ngày tiễn ông Trần Quang Cơ đi xa, lớp hậu sinh chúng ta hẳn không quên một trong những dòng tâm sự cuối cùng của ông, được lưu lại trong một bài viết ghi dưới là “tháng Chạp năm 2010” mà ông chuyển cho anh Nguyễn Vĩnh, nguyên Tổng Biên tập báo Quốc Tế (nay là báo Thế Giới và Việt Nam): “Rút cục chỉ có chính nhân dân ta mới thực sự cứu được nước ta thôi. Nhưng trên dưới phải một lòng, như thời Hội nghị Diên Hồng ngày xưa. Đảng phải dựa vào Dân, Dân vững lòng tin cậy vào Đảng thì dân tộc ta mới thực sự có sức mạnh để bảo vệ đất nước”.
Đinh Hoàng Thắng
Hà Nội ngày 1/7/2015, viết nhân Tang lễ cựu Thứ trưởng Thứ nhất Bộ Ngoại giao Trần Quang Cơ
[1] Cố Thứ trưởng Ngoại giao Trần Quang Cơ: Một lòng vì Tổ quốc, Thanh niên, 
[2] Câu chuyện về ngoại giao nhân dân, Dân trí, 10/10/2011.

Đừng trả thù

Đừng trả thù người đã làm
bạn tổn thương. Rồi một ngày
họ sẽ phải nếm trải điều mà
họ đã làm với bạn, và nếu may
mắn thì Chúa sẽ cho phép bạn
tận mắt chúng kiến điều đó!