Wednesday, September 2, 2026

Đôi điều về ứng xử

 Có nguyên tắc  xử thế nào mà nếu không ai nói cho bạn biết thì cả đời bạn cũng ngay thơ không biết gì

1. ​Dự bữa tiệc của người khác, vĩnh viễn đừng là người đụng đũa đầu tiên, để quyền làm chủ cho chủ nhà.

2. ​Lúc mua rượu, ngàn vạn lần đừng nói là mua để tặng, hãy nói là mua để mình uống.

3. ​Đi nhờ xe người khác, lúc xuống thì đóng cửa nhẹ tay thôi, người ta sẽ có thiện cảm với bạn.

4. ​Việc gì không phải mình bỏ tiền thì đừng phát biểu ý kiến gì cả, dễ khiến người ta bực.

5. ​Khi mời khách ăn cơm, dù trong lòng có xót tiền cũng phải tỏ ra hào phóng, nếu không thì bữa cơm đó mời cũng bằng thừa.

6. ​Nếu không phải chủ tiệc thì đừng làm người mời rượu đầu tiên, đừng đi một vòng mời khắp bàn, lấn át chủ nhà là đại kỵ.

7. ​Người ta giới thiệu cho bạn 1 dự án, bạn kiếm được 10 phần thì hãy mạnh dạn chuyển lại cho họ 6 phần, về sau bạn sẽ chẳng bao giờ lo thiếu việc để làm.

8. ​Địa vị chưa đủ thì đừng lấy trà thay rượu, thực lực chưa đủ thì đừng đứng ra mời cả bàn.

9. ​Đến nhà ai đừng đi tay không, tặng quà thì đừng tặng lẻ 1 món, quá nhiều thì chẳng ai trách, quá ít thì chẳng ai ưa.

10. ​Lương bao nhiêu cũng vậy, người ta hỏi thì nhất luật trả lời: "Cũng tạm đủ sống". Đó là câu trả lời hay nhất.

11. ​Giúp người khác tìm việc, nếu giới thiệu được sang công ty khác thì cố gắng đừng đưa vào công ty mình.

12. ​Bạn hỏi người ta 1 câu mà người ta trả lời lạc đề, thì chính đó đã là câu trả lời.

13. ​Có việc cần nhờ vợ của bạn mình giúp thì hãy hỏi qua bạn mình trước đã.

14. ​Không hỏi thu nhập của đàn ông, không hỏi tuổi của phụ nữ, không hỏi điểm số của con người ta.

15. ​Việc gì bỏ tiền ra giải quyết được thì cố đừng nhờ người quen, nhân tình còn đắt hơn tiền.

16. ​Ra ngoài xã hội, bạn phải cho người ta thể diện trước, thì người ta mới cho bạn thể diện.

17. ​Chủ nhà đã rót trà thì dù không khát bạn cũng phải nhấp một ngụm. Đó là sự tôn trọng.

18. ​Đừng cố nói lý với người không biết lý. Đối phó với loại người đó thì phải vô lý hơn cả họ mới là có lý.

19. ​Người khác nói "để lần sau tính" thì thực ra nghĩa là đừng nhắc lại nữa. Nghe hiểu được ẩn ý mới là bản lĩnh.

20. ​Nhà và xe dù mua trả hết một lần thì với bên ngoài cứ nói là mua trả góp. Như vậy người ta mới thấy cân bằng, mới không đố kỵ hoặc tìm bạn vay tiền.

21. ​Lời cha mẹ nói có thể không làm theo nhưng nhất định phải nghe cho nghiêm túc. Vì người thật lòng vì bạn chỉ có cha mẹ.

Đây chỉ là 1 trong số những nguyên tắc quan trọng trong cuộc sống. Bạn càng biết nhiều về những luật ngầm này bạn càng trở nên sáng suốt. Cuốn sách này không chỉ tổng hợp về những nguyên tắc xã hội mà còn giúp bạn trở nên nhạy bén hơn trong ứng xử với tình huống, nhiều hoàn cảnh, đây đều là những kinh nghiệm mà những người đi trước mất rất lâu để rút ra.

FB-Cafe cùng Tony

Tuesday, September 1, 2026

Lẽ đời

5 LOẠI TÀI SẢN CẦN TÍCH LŨY SUỐT ĐỜI

Ở tuổi này, tôi hiểu rằng, tài sản của một người không chỉ là tiền bạc, nhà cửa hay những gì đang sở hữu. Có những thứ không thể nhìn thấy trên số dư tài khoản hay sổ đỏ, nhưng lại quyết định chất lượng cuộc sống của chúng ta.

Một là sức khỏe.

Có thể chưa có nhiều tiền, nhưng còn sức khỏe thì vẫn còn khả năng làm việc, đi đây đi đó và bắt đầu lại nếu chẳng may thất bại.

Sức khỏe không đến từ một đợt tập luyện quyết liệt hay vài tuần ăn kiêng. Nó được tích lũy từng ngày, từ chuyện ăn uống, ngủ nghỉ và vận động. Đến một tuổi nào đó mới thấy, có tiền mà cơ thể không cho phép mình làm điều mình muốn thì cũng rất buồn.

Hai là năng lực.

Tiền có thể mất. Chức vụ rồi cũng đến lúc không còn. Nhưng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm đã tích lũy thì vẫn ở lại với mình.

Người có năng lực thật sự vẫn có thể gặp khó khăn, thậm chí thất bại. Nhưng họ ít khi bị dồn vào đường cùng, vì họ luôn có khả năng làm lại.

Ba là uy tín.

Uy tín phải xây dựng trong nhiều năm, nhưng có thể mất chỉ sau một lần thất hứa hay một cách hành xử không đàng hoàng.

Theo tôi, giữ uy tín cũng không có gì quá cao siêu. Đó là nói được thì làm được, minh bạch trong chuyện tiền bạc, nhận trách nhiệm khi mình sai và vẫn cư xử tử tế ngay cả khi không ai nhìn thấy.

Bốn là những mối quan hệ tốt đẹp.

Không cần quen thật nhiều người. Chỉ cần trong cuộc đời có một số người hiểu mình, tin mình và sẵn sàng có mặt khi mình thật sự cần.

Nhưng muốn có những người như vậy bên cạnh, trước hết mình cũng phải sống sao cho đáng tin, biết quan tâm và có mặt khi người khác khó khăn. Mối quan hệ lâu dài không thể chỉ được xây dựng bằng việc mình cần gì ở họ.

Năm là sự bình an.

Một người có thể sở hữu rất nhiều nhưng vẫn sống trong lo lắng, hơn thua và bất mãn. Ngược lại, có người không quá giàu nhưng lại ngủ ngon, sống nhẹ nhàng và biết hài lòng với những gì mình đang có.

Bình an không có nghĩa là cuộc đời không còn khó khăn. Đó là khi ta hiểu điều gì là đủ, việc gì đáng để cố gắng, chuyện gì nên buông và không để vài lời khen chê của người khác điều khiển tâm trạng của mình.

Đến một tuổi nào đó, ta sẽ nhận ra tài sản thật sự không chỉ nằm trong tài khoản. Đó còn là một cơ thể đủ khỏe để sống cuộc đời mình muốn; một năng lực đủ để không sợ mất chỗ đứng; một cái tên được người khác tin cậy; vài người chân thành bên cạnh và một nội tâm không dễ bị cuộc đời làm xáo trộn.

FB-Thành Công Cùng Tony, (Nguồn: Nguyễn Tuấn Quỳnh)

Tuesday, August 18, 2026

Câu hỏi về xh và con người

 THỜI ĐẠI TẠO RA CON NGƯỜI, HAY CON NGƯỜI TẠO RA THỜI ĐẠI?

Lịch sử thường được nhớ bằng tên của những con người nổi tiếng. Nhưng phía sau một cá nhân làm thay đổi lịch sử luôn là cả một thời đại. Và đôi khi, chính một con người lại khiến thời đại rẽ sang một hướng khác.

Khi nhìn lại lịch sử, chúng ta thường có xu hướng gom những biến động lớn vào tên của một vài con người. Một cuộc cách mạng gắn với một lãnh tụ, một phát minh gắn với một nhà khoa học, một đế chế gắn với một vị vua, một phong trào gắn với người khởi xướng.

Cách kể ấy dễ nhớ và dễ hiểu. Nhưng nó cũng tạo ra một ảo giác: dường như lịch sử được làm nên chủ yếu bởi những cá nhân xuất chúng.

Nếu một người không xuất hiện, liệu mọi chuyện có diễn ra như cũ?

Đó là một cách thử nghiệm tư duy mà Jared Diamond từng gọi là “Hamlet test”: thử loại một nhân vật ra khỏi câu chuyện rồi xem phần còn lại của lịch sử có thay đổi đến mức nào. Nếu một nhân vật biến mất nhưng những diễn biến chính vẫn gần như xảy ra, có lẽ cá nhân ấy không phải nguyên nhân quyết định. Nhưng nếu sự vắng mặt của họ khiến cả chuỗi sự kiện thay đổi đáng kể, vai trò của cá nhân trở nên khó có thể xem nhẹ.

Vấn đề nằm ở chỗ: rất ít trường hợp đơn giản như vậy.

THỜI ĐẠI TẠO RA CON NGƯỜI

Một con người không xuất hiện trong khoảng không.

Họ sinh ra trong một thời điểm cụ thể, được nuôi dưỡng bởi một nền văn hóa cụ thể, tiếp nhận những tri thức mà thế hệ trước để lại và hành động trong những giới hạn do kinh tế, thể chế, công nghệ, địa lý và các quan hệ xã hội tạo ra.

Một doanh nhân có thể có ý tưởng rất tốt, nhưng nếu công nghệ chưa đủ phát triển, thị trường chưa hình thành hoặc vốn chưa sẵn có, ý tưởng ấy có thể chẳng đi đến đâu.

Một nhà cải cách có thể nhìn thấy vấn đề rất sớm, nhưng nếu xã hội chưa sẵn sàng hoặc bộ máy không cho phép thay đổi, ảnh hưởng của họ vẫn bị giới hạn.

Ngay cả những người được xem là thiên tài cũng thường chỉ có thể phát huy năng lực khi họ gặp đúng môi trường.

Shakespeare không tự mình tạo ra ngôn ngữ tiếng Anh, sân khấu Elizabeth hay những câu chuyện dân gian và văn học mà ông kế thừa. Nhưng ông sống đúng vào một thời điểm mà những điều kiện ấy gặp nhau, và từ đó tạo ra những tác phẩm có ảnh hưởng vượt xa thời đại của mình.

Điều này cho thấy một nghịch lý khá thú vị: đôi khi chúng ta gọi một người là “vĩ đại” vì họ xuất hiện đúng lúc những điều kiện cần thiết đã hội tụ.

Nếu đổi thời đại, cùng một con người có thể trở thành một nhân vật hoàn toàn khác.

NHƯNG THỜI ĐẠI KHÔNG TỰ MÌNH HÀNH ĐỘNG

Tuy nhiên, nếu đi quá xa theo hướng ngược lại, chúng ta lại mắc một sai lầm khác.

Không phải cứ có đủ điều kiện thì một kết quả lịch sử nhất định sẽ tự động xảy ra.

Một xã hội có thể đứng trước cùng một cuộc khủng hoảng nhưng lựa chọn những cách giải quyết khác nhau. Một công nghệ có thể được phát minh nhưng không được sử dụng theo cùng một cách. Một cơ hội chính trị có thể xuất hiện nhưng cần một người nhận ra nó, tổ chức lực lượng và đưa ra quyết định vào đúng thời điểm.

Thời đại tạo ra những khả năng. Con người lựa chọn giữa những khả năng ấy.

Đó là nơi vai trò của cá nhân bắt đầu trở nên quan trọng.

Có những thời điểm lịch sử giống như một ngã ba đường. Nhiều hướng đi đều có thể xảy ra, nhưng một quyết định cụ thể có thể khiến xã hội đi vào một con đường thay vì một con đường khác.

Trong những trường hợp như vậy, cá nhân không tạo ra toàn bộ hoàn cảnh. Họ tác động vào một hoàn cảnh đã có sẵn.

Và đôi khi, tác động ấy đủ lớn để thay đổi kết quả.

THỜI ĐIỂM CÓ THỂ THAY ĐỔI MỌI THỨ

Có một khác biệt rất lớn giữa việc có một ý tưởng đúng và xuất hiện đúng thời điểm.

Một ý tưởng có thể đi trước thời đại hàng chục năm và gần như không tạo ra ảnh hưởng đáng kể. Một ý tưởng tương tự, xuất hiện khi công nghệ, thị trường và nhu cầu xã hội đã sẵn sàng, lại có thể thay đổi cả một ngành.

Điều này cũng đúng với chính trị, quân sự, khoa học và văn hóa.

Một quyết định trong thời bình có thể chỉ là một quyết định bình thường. Nhưng cùng quyết định ấy trong một cuộc khủng hoảng có thể trở thành bước ngoặt.

Vì vậy, khi đánh giá vai trò của một cá nhân trong lịch sử, chỉ nhìn vào tài năng là chưa đủ. Cần nhìn cả vào thời điểm mà tài năng ấy xuất hiện.

Có những người rất giỏi nhưng sinh ra quá sớm.

Có những người không nhất thiết vượt trội hơn tất cả những người xung quanh, nhưng lại xuất hiện đúng lúc, ở đúng vị trí và trước một vấn đề mà xã hội đang cần một lời giải.

Lịch sử đôi khi được thay đổi bởi chính sự gặp nhau ấy.

KHI MỘT NGƯỜI CÓ QUYỀN HÀNH ĐỘNG

Vai trò của cá nhân còn phụ thuộc vào vị trí mà họ nắm giữ.

Một ý tưởng trong đầu một người bình thường có thể chỉ ảnh hưởng đến vài người xung quanh. Nhưng khi người đó trở thành nhà lãnh đạo, nhà phát minh, nhà tư tưởng, nhà tổ chức hoặc người đứng ở một vị trí có quyền quyết định, cùng một năng lực có thể tạo ra tác động lớn hơn rất nhiều.

Quyền lực làm tăng phạm vi của lựa chọn cá nhân.

Nhưng quyền lực cũng không đồng nghĩa với khả năng kiểm soát lịch sử.

Một nhà lãnh đạo có thể đưa ra quyết định, nhưng không thể tùy ý thay đổi mọi điều kiện kinh tế. Một vị tướng có thể lựa chọn chiến thuật, nhưng vẫn phải đối mặt với địa hình, hậu cần, thời tiết, tinh thần binh sĩ và năng lực của đối phương. Một nhà cải cách có thể đề xuất chính sách, nhưng việc chính sách ấy đi được bao xa còn phụ thuộc vào bộ máy thực thi và phản ứng của xã hội.

Cá nhân có quyền lựa chọn, nhưng lựa chọn luôn diễn ra trong một không gian bị giới hạn.

LỊCH SỬ HIẾM KHI CHỈ CÓ MỘT NGUYÊN NHÂN

Một sự kiện lớn thường là kết quả của nhiều nguyên nhân cùng lúc.

Kinh tế tạo ra áp lực. Công nghệ mở ra khả năng. Thể chế tạo ra giới hạn. Văn hóa định hình cách con người nhìn thế giới. Địa lý tạo ra những lợi thế và bất lợi. Các nhóm xã hội theo đuổi những lợi ích khác nhau. Và cuối cùng, những cá nhân cụ thể đưa ra quyết định trong hoàn cảnh đó.

Nếu chỉ nhìn vào cá nhân, chúng ta dễ biến lịch sử thành câu chuyện về những “vĩ nhân”.

Nếu chỉ nhìn vào hoàn cảnh, chúng ta lại dễ biến con người thành những nhân vật gần như không có quyền lựa chọn.

Cả hai cách nhìn đều quá đơn giản.

Một huấn luyện viên không tạo ra toàn bộ tài năng của một đội bóng. Nhưng cách ông lựa chọn chiến thuật, sử dụng từng cầu thủ và phản ứng trước một trận đấu cụ thể có thể quyết định kết quả.

Một nhà lãnh đạo không tạo ra toàn bộ xã hội mà họ đang sống. Nhưng một quyết định của họ ở thời điểm đặc biệt có thể làm thay đổi quỹ đạo của xã hội ấy.

Lịch sử vì thế thường được tạo nên ở vùng giao nhau giữa cấu trúc và lựa chọn.

ẢO GIÁC KHI NHÌN TỪ KẾT QUẢ

Một trong những lý do khiến chúng ta đánh giá quá cao vai trò của cá nhân là vì chúng ta đã biết kết thúc của câu chuyện.

Khi biết một người cuối cùng trở thành nhân vật quan trọng, chúng ta dễ nhìn lại quá khứ và tưởng rằng sự xuất hiện của họ ngay từ đầu đã mang ý nghĩa đặc biệt.

Nhưng những người sống trong thời điểm ấy không biết tương lai.

Họ không biết ai sẽ trở thành nhân vật lịch sử. Họ không biết quyết định nào sẽ được ghi nhớ và quyết định nào sẽ bị lãng quên. Họ cũng không biết một lựa chọn tưởng như nhỏ bé hôm nay có thể dẫn đến một hệ quả lớn nhiều năm sau.

Đó là lý do lịch sử không nên chỉ được nhìn từ kết quả.

Một người thành công không nhất thiết đã luôn có con đường dẫn tới thành công. Một người thất bại cũng không nhất thiết đã đứng trước một kết cục tất yếu.

Những người trong lịch sử đã lựa chọn giữa nhiều khả năng mà lúc đó chưa ai biết chắc kết quả.

Nhìn lại quá khứ với kiến thức của hiện tại rất dễ khiến chúng ta quên mất sự bất định ấy.

KHI MỘT CON NGƯỜI GẶP ĐÚNG THỜI ĐẠI

Có lẽ câu trả lời nằm ở giữa hai cách nhìn.

Thời đại tạo ra những điều kiện để một con người có thể xuất hiện, trưởng thành và hành động. Nhưng con người lại có thể sử dụng những điều kiện ấy theo những cách rất khác nhau.

Có những thời đại sản sinh ra rất nhiều người tài nhưng không phải ai cũng tạo ra ảnh hưởng lớn.

Có những thời điểm xuất hiện nhiều cơ hội nhưng chỉ một số người nhận ra và biến chúng thành hành động.

Và cũng có những khoảnh khắc mà một quyết định của một cá nhân có thể làm thay đổi hướng đi của hàng triệu người.

Khi ấy, thật khó nói lịch sử được tạo ra bởi con người hay bởi thời đại.

Có lẽ chính sự tương tác giữa hai thứ ấy mới là điều đáng chú ý.

Một thời đại có thể tạo ra con người.

Nhưng một con người, khi gặp đúng thời điểm, có thể làm thay đổi cách cả một thời đại vận động.

Vì thế, khi nhìn vào một nhân vật lịch sử, có lẽ nên đặt hai câu hỏi cùng lúc: Nếu không có người ấy, điều gì vẫn sẽ xảy ra?

Và quan trọng hơn: Nếu người ấy xuất hiện trong một thời đại khác, liệu họ còn trở thành chính con người mà chúng ta biết hôm nay?

Lịch sử không phải là câu chuyện của những con người đứng một mình.

Nhưng lịch sử cũng không phải một cỗ máy tự vận hành mà con người chỉ biết đi theo.

Thời đại tạo ra những giới hạn và khả năng. Con người lựa chọn bên trong những giới hạn ấy. Và đôi khi, chính một lựa chọn cá nhân khiến cả con đường phía trước trở nên khác đi.

Thời đại tạo ra con người. Nhưng trong những khoảnh khắc đặc biệt, con người cũng có thể tạo ra một thời đại khác.

Ảnh: Martin Luther King Jr. phát biểu tại Cuộc Tuần hành Washington vì Việc làm và Tự do, ngày 28 tháng 8 năm 1963. Ông không tạo ra phong trào dân quyền từ một cá nhân đơn độc; ông xuất hiện trong một thời đại đã tích tụ những xung đột, nhu cầu và lực lượng xã hội đủ lớn. Nhưng bằng tiếng nói và khả năng lãnh đạo của mình, ông cũng góp phần định hình hướng đi của phong trào ấy – một minh họa cho cách con người vừa được tạo nên bởi thời đại, vừa có thể tác động trở lại thời đại.

David Phung (Nghiên cứu lịch sử)

Monday, August 17, 2026

Những hạn chế và điều đáng sợ nhất

 Những người chưa thành công trong xã hội này, đa phần là do khuyết những thứ này chứ không phải do số phận

​1. Khuyết thế giới quan:

Nhìn thế giới quá hẹp, ít trải nghiệm nhưng lại tưởng mình đã hiểu hết. Dễ tin tin đồn, dễ bị đám đông dẫn dắt, nhìn vấn đề phiến diện và thường lấy trải nghiệm cá nhân làm tiêu chuẩn đánh giá cả thế giới.  

​2. Khuyết giá trị quan:

Không có tiêu chuẩn rõ ràng để biết điều gì thực sự đáng giá. Dễ chạy theo tiền, danh tiếng, sự công nhận hoặc lợi ích trước mắt; thấy người khác có gì thì muốn có thứ đó nhưng không hiểu giá trị nào mới thực sự tạo nên một cuộc đời có chất lượng. 

​3. Khuyết nhân sinh quan:

Không biết mình muốn gì, muốn trở thành ai và phải đi đâu. Không có mục tiêu dài hạn nên dễ sống theo cảm xúc, thích kết quả nhanh nhưng không chịu được quá trình dài.  

​4. Nhận thức không đủ nhưng lại quá tự tin:

Biết một chút đã tưởng mình biết nhiều, nghe vài câu đạo lý đã tưởng mình nhìn thấu cuộc đời. Không còn khả năng tiếp nhận những điều trái với niềm tin của mình.  

​5. Không có khả năng tự phán đoán:

Người khác nói gì cũng dễ tin, số đông nghĩ gì thì nghĩ theo. Khi thất bại thường tìm một người hoặc một lý do để đổ lỗi thay vì tự xem lại cách mình lựa chọn.  

​6. Hành vi và mục tiêu luôn mâu thuẫn:

Muốn giàu nhưng không chịu tích lũy. Muốn giỏi nhưng không chịu học. Muốn thay đổi cuộc đời nhưng không chịu thay đổi thói quen. Muốn có kết quả lớn nhưng chỉ muốn bỏ ra cái giá rất nhỏ.  

​7. Cảm xúc lấn át lý trí:

Dễ nóng giận, tự ái, bốc đồng, dễ bị kích động. Chỉ vì người khác bất đồng quan điểm cũng có thể xem họ như đối thủ hoặc kẻ chống lại mình.  

​8. Nghiện kích thích ngắn hạn:

Thích những thứ cho cảm giác tức thời nhưng thiếu kiên nhẫn với những thứ cần tích lũy lâu dài. Muốn thành công nhanh, giàu nhanh, nổi tiếng nhanh nhưng không muốn đi qua giai đoạn âm thầm rèn luyện.  

​9. Không có trách nhiệm với lựa chọn của mình:

Khi thất bại, họ thường nói do số phận, ông trời, hoàn cảnh, thời thế, gia đình, xã hội hoặc người khác; rất ít khi hỏi: “Mình đã sai ở đâu?”  

​10. Đáng sợ nhất là không nhận ra cái khuyết của chính mình:

Người có năng lực còn có thể học thêm. Người thiếu kinh nghiệm còn có thể trải nghiệm. Nhưng người khuyết tam quan mà luôn cho rằng vấn đề nằm ở thế giới thì rất khó thay đổi. Sau cùng. Thất bại không đáng sợ. Đáng sợ là thất bại nhưng không chịu nhìn lại mình, chỉ dành cả đời để trách số phận.

Cà phê cùng Tony

Saturday, August 15, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (5)

Quảng trường Vörösmarty là một trong những nơi để lại nhiều kỷ niệm với những người bạn của tôi, nơi có tiệm bánh ngọt đẹp nhất thế giới của HTB. Hoàng tử tự hứa sẽ viết về Vörösmarty téri cukrászda, như một giấc mơ đã nằm trong tay mình. Nhưng cậu ta đã lừng chừng trong nhiều năm, cho đến khi quyết định "bây giờ hoặc không bao giờ", cuối cùng hắn cũng làm được điều mình muốn: viết tặng cho Magdi và các bạn của mình câu chuyện này bằng tiếng Hung và tiếng Việt.

"Quảng trường Vörösmarty nằm ở cuối phố Váci útca, một bên có lối đi ra khách sạn Duna Kontinentál phía bờ sông Duna, bên kia có lối đi bộ ra quảng trường Deák là bến xe bus liên tỉnh. Ở phố Váci útca và quảng trường Vörösmarty, người ta chỉ đi bộ. Không có bất cứ một phương tiện cơ giới nào chạy qua quảng trường, ngoại trừ tàu điện ngầm chạy trong lòng đất, cửa ga ra quảng trường trông giống như một cái hàng rào của nhà ai đó. Quảng trường Vörösmarty luôn có rất nhiều chim bồ câu. Ngày nắng, ngồi phơi nắng giữa quảng trường, nhìn người tất bật đi lại một cách lười biếng, cảm giác rất tuyệt. Xung quanh quảng trường có các tòa nhà cổ kính, có thể nhìn không chán mắt và tưởng tượng ra nhiều câu chuyện về số phận và cuộc đời, đan chen rồi lại rời xa.

Vörösmarty tér a Váci útca végén van, az egyik oldalán egy keskeny járat a Duna Kontinentál szállodába vezet, a másikon egy kis ustca nyilik a Deák Ferenc terére, ahol buszok várják a vidéki utazókat. A Váci útcán és a Vörösmarty terén csak gyalogon járnak. Nem mukodik bármilyen mechnikai járgány a tér teruletén, kivéve a foldalatti villámosok, amik mélyen a tér alatt jonnek és mennek. A foldalatti megálónak kijárata a tér kozepén van és úgy néz ki mint valamilyen háznak a kerítése. A Vörösmarty téren nagyon sok galamb van. Egy napos napon, a téren lustálkodva heverve a napsutésben és bámulva a sieto utazókra, egy olyan gyonyoru érzést tapasztalhat az ember. A tér kornyékén régi stilusú épuletek vannak, amelyekre soha nem únva bámulhatsz és kiképzelhetsz emberi sorsokat, életeket és torténeteket, amelyek átszonik egymást és távoznak egymástól.

Quán bánh ngọt là tầng dưới của một tòa nhà cổ chiếm hẳn một phía quảng trường, trước nhóm tượng đài vừa là đài phun nước, ở một góc nhìn đẹp nhất. Đây là quán bánh ngọt đẹp nhất Hungari và cũng là quán bánh ngọt đẹp nhất thế giới mà tôi đã từng biết. Đối với tôi quán bánh ngọt này có không ít kỷ niệm. Với tôi, quán bánh ngọt này chính là Budapest. Những khi nghĩ về Budapest, tôi lại nhớ đến quán bánh ngọt này. Nằm mơ về Budapest, cũng thấy quán bánh ngọt này. Chắc hẳn Bình "to" và Khánh còn có thể nhớ được cái quán bánh ngọt này, nơi ba chúng tôi đến đây lần đầu tiên, và đã ăn ngô luộc "fozott kukorica" bán rong gần trước cửa quán, ở trước cửa lối rẽ xuống đường metro. Ngô luộc của Hung vừa dẻo vừa ngọt, lại không non quá như ngô Mỹ nên có vị đậm đà thơm hơn, có thể ăn vài bắp không chán. Rồi chúng tôi mua kem để ăn ở quán bánh ngọt này. Chúng tôi thường chọn loại vị punch, màu hồng có vị hơi chua chua. Khánh chọn cho tôi, tôi không sành về kem. Đối với tôi, cảm giác mát lạnh của kem là quan trọng hơn cả.

A cukrászda egy régi épulet foldszintjén van, amely a tér az egyik oldalát foglalja, egy szobor-szokokút elott, a legszebb kilátással. Ez a Magyarország legszebb cukrászdája, és állitólag egyben a világ legszebbje is, legalább a tudásom szerint. Nekem ez a cukrászda orzott sok jó emléket. Bennem ez a cukrászda a Budapest jelképe. Az álmaimban a Budapestrol mindig látom a Vörösmarty téri cukrászdát. Egykori haveraim, "Nagy" Binh és Khanh, biztosan még emlészenek erre a cukrászdára ahol amikor mentunk oda eloszor ettunk fozott kukoricát, amit árultak a cukrászda mellet, a foldalatti bejárat irányában. A magyar fozott kukoricának jobb ize mint az amerikainak, mi gyakran fogyasztottunk jó néhány darabot. Utána veszunk fagyit a cukrászdában. Gyakran kértunk a puncsot, egy rózsszinu és enyhén savanyú fagyi fajtája. Khanh választott nekem, mert nem voltam nagy fagyi szakértoje. Nekem a fagyi huvossége a legfontosabb nem az ize.

Gerbeaud Kávéház

Rồi năm thứ năm đại học, về ở Budapest, tôi cũng thường ghé qua quán bánh ngọt này thường xuyên hơn, khi thì đi cùng với Khánh, Bình, khi thì với Ánh, khi thì một mình trước khi về ăn cơm ở nhà ăn của trường ELTE với Nhân ở đầu cầu Erzsébet, ở cuối bên kia của Váci útca. Tên Ánh thì thích học cách chơi sang, thường hay gọi một ly Martini gì đó, uống mãi chẳng hết. Bình "to", Khánh và tôi vẫn chén ngô, ăn kem hoặc uống coca cola cho nó bình dân và ngon thực sự.Một vài lần, tôi cũng hẹn Magdi đến đây. Nàng gọi một chai bia gì đó, không phải của Hung, hai đứa uống chung. Tôi cũng gọi thêm hai suất bánh ngọt. Bánh ngọt ở đây có nhiều loại làm rất tuyệt, không ngọt quá.

       Az egyetem otodik évében, Budapesten diploma munkáztam KFKI-ben és néhány tantárgyat hallgattam ELTÉN, tobb alkalmom volt a cukrászdát látogatni, néha Khanhhal és Binnhel, néha Ánnhal, náha egyedul az ebéd elott Nhannal, az ELTE menzán az Erzsébet hídfonél a Vasci útca másik végén. Ánh szeretett tanulni a luxus életmódot, gyakran parancsolt egy Martinit egy sárga citrom szelettel, de soha nem végzett el az ivással. Én, "nagy" Binh és Khánh  mindig fozott kukoricat és fagyit ettunk kolával jóizuen.  Úgy emlékszem hogy egy kétszer jottem Magdi-val. Egy sort kért és egyutt ittunk. Két torta adagot is kértem. Sok torta fajtája van a cukrászdában, mesterien készítve, és foleg nem túl édes.

       Lần thứ hai trở lại Hung, tôi trở lại quảng trường này cùng vợ con vào một ngày lạnh. Bé Fanni mới ba tuổi. Chúng tôi cũng ăn ngô luộc, bánh ngọt và kem punch. Fanni chạy theo đàn bồ câu trên quảng trường. Bầu không khí thật êm đềm hạnh phúc và đột nhiên tôi rất nhớ những người bạn cũ và những năm đi học. Ánh vẫn ở Budapest, nhưng chúng tôi không còn thời gian cho nhau, để cùng ngồi trước một ly Martini, chia nhau ăn một cái bánh ngọt như ngày xưa. Không rõ chúng tôi đang vội vã đi đâu hay đi về cuối đường đời. Và vội để làm gì, khi kết cục đều như vậy, không có gì mới lạ hấp dẫn. Vài lần, trong năm đầu, tôi cũng có dịp gặp Magdi tại đây. Nàng ở cách đấy vài bến tàu điện nên đến hẹn đến cũng tiện. Chúng tôi cũng uống cùng một chai bia, nhấm nháp một lát bánh ngọt, nói những chuyện không đầu không đuôi, đôi khi ngồi yên, chẳng nói gì, cùng nhấm nháp không khí trên quảng trường, nắng trên khung cửa, và căn phòng lớn, trang trí với những đồ gỗ của mấy thế kỷ trước với những chùm đèn pha lê uy nghi.

         Amikor Magyarországra jottem másodszor, elvittem feleségemet és kis lányom, Fannit a Vörösmarty terre egy hideg napon. Kis Fannikám három éves volt. Ettunk fozott kukoricát, tortát és fagylaltot. Fanni futott lelkesen a galambok után a téren. A légkor nagyon békés és boldog volt és hirtelenul nagyon sokat hiányoztak a régi barátok és diák kori évek. Ánh Budapesten volt, de nem volt idejunk egymásnak, hogy egyutt ulhessunk egy Martini elott, vagy osztozzunk egy tortát mint régen. Nem világos volt hogy hová siettunk, vagy egyszeruen csak az élet végére. Minek a sietés, amikor ugyanaz a vég lesz,  nincs bármilyen izgamas meglepetés. Az elso évben, Magdival találkoztam néhányszor. Magdi csak  néhány villámos megálóval lakott a Vörösmarty tértol, így konnyu volt neki jonni a találkozásunkra. Ittunk egyutt egy sort, bele kóstoltunk a régi torták ízébe, beszéltunk a kezdet and vég nélkuli dolgokról. Néha csak halgattunk, élvezve a Vörösmarty teri légkort, az ablakon átszuro napsugárt és az a nagy termet diszítve a múlt évszázadok bútoraival és a tekintélyes kristályos csillárokal.

     Nhưng rồi, cuộc sống thời đó trôi qua hối hả. Chúng tôi cũng không còn thời gian cho nhau. Cũng chẳng biết với thời gian đó, chúng tôi làm được gì hơn cho đời, cho mình. Rồi tôi sắm được xe hơi, ít khi có dịp đi bộ để trở về Quảng trường Vörösmarty. Đôi khi, có việc lái xe đi qua khách sạn Duna hoặc quảng trường Deák tôi cố nghển cổ nhìn về hướng quảng trường Vörösmarty để mường tượng lại quán bánh ngọt đẹp tuyệt vời và hình ảnh Bình, Khánh, Ánh, Nhân ngày xưa. Tất nhiên tất cả chỉ là ảo ảnh, tưởng tượng.  Hiện thực rất dễ dàng đạt được đó chỉ cách vài bước chân. Nhưng luôn có một khó khăn vô hình đẩy chúng ta ra xa cuộc gặp với những hoài niệm cũ. Mặc dù đôi lúc giấc mơ hiện thực đến mức không phải cố gắng gì. Nhưng người ta vẫn ngại ngùng làm một việc nhỏ xíu, để nó cứ mãi nằm trong mơ tưởng và nuối tiếc. Có lẽ điều cản trở lớn nhất là sự lười biếng. Tôi cũng không rõ lười biếng và già cỗi, cái nào là nguyên nhân của cái nào. Cũng như một lần tôi đã nói với một người bạn vong niên về ước mơ có một ngày nằm ngửa trên bãi cỏ nhìn trời xanh và mây trắng thỏa thích. Người bạn đó nghi ngờ đó là một ước mơ thực sự vì thực hiện giấc mơ đó không hề mất gì. Thế rồi mấy chục năm trôi qua, cái ước mơ đó vẫn chỉ vẫn là ước mơ. Con người cũng thật kỳ lạ, luôn tự trói buộc mình, hoặc ngại ngùng với những ràng buộc vô hình.

     De utána, az akkori élet rohant sok kulonbozo eseménnyel. Nem volt tobbé idonk egymásnak. Most már nem igazán tudom hogy azt az idot használva mit tehettunk magunknak vagy az életnek. Nekem elég pénzt sikerult keresnem hogy egy autokocsit vehettem, nem volt tobbé alkamam gyalogolni hogy viszalátogathassam a Vörösmarty teret. Néha dolgom volt arra felé, akkor vezettem autót a Duna Kontinentál szálloda vagy Deák tér mellett, probáltam felemelni a nyakomat és igyekeztem nézni a Vorosmarty tér felé, és hiába képzeltem el a régi cukrászdát a régi Binh, Khanh, Anh, Nhan,.... barátaimmal. De minden csak elképzelés volt. A nagyon konnyen elérheto valóság csak néhány lépéssel tovább van. De mindig valami láthatatlan nehézség taszított el bennunket a régi emlékekkel való találkozástól. Akár néha az álom olyan reális, nem túl sok eroltetés kell hozzá. De az ember tétovázik egy kis igyekvéssel, így az álom orokké egy álom maradt az orok sajnálatban. Talán legnagyobb akadály a lustaságunk. Nem tudom lustaság és és oregedés melyik az oka a melyiknek. Egyszer mondtam egy barátomnak hogy azt akarom hogy van egy teljes napom, nem csinálnék semmit csak bámulnék a kék égre és a fehér felhore. A barátom nagyon kételkedett hogy az az igazi álmom, mert annak az álomnak megvalósitása nem kerul semmibe. Évek teltek el, de az álom tényleg mindig csak egy álomnak marad.  Az ember olyan furcsa, mert mindig koti le magát, vagy tétovázik a láthatatlan kotésekkel.

     Trước khi rời Hungari đi Mỹ không lâu, tôi nhớ còn có dịp gặp Magdi tại quán bánh ngọt này. Nàng vẫn gọi chai bia và nói một câu đã nói bao nhiêu lần "Iszunk egyutt egy sort, jó?". "Chúng mình uống chung một chai bia, được không?" Tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt, một trắng (vanila) một đen (sô cô la). Trên bánh trắng là một lớp caramel vàng, thơm vị chanh, trên bánh đen là một lớp kem trắng muốt thơm mùi hồ đào. Chúng tôi vẫn im lặng ăn, thưởng thức không khí xưa cũ đặc quánh, với một linh cảm, bầu không khí tĩnh lặng hàng chục năm này sắp biến đổi. Chúng tôi chia tay nhau, như thể rồi sẽ gặp lại sau vài hôm, mặc dù biết thời gian trước mắt sẽ dài đằng đẵng, mỗi người đi trên con đường riêng của mình, rất khó lòng tìm lại một điểm giao nhau để gặp lại. 

         Roviden az Amerikába való távozás elott, úgy emlékszem hogy Magdival találkoztam a Vörösmarty teri cukrászdában. Mindig egy sort kért és mondta ugyanazt a mondatot, mit már tobbszor is mondott "Iszunk egy sort, jó?". Én is mindig ketto tortát kértem, egy fehér (vaniliás) és egy sotét barna (csokoládé). A fehér tortán volt egy sárga, citrom izu cukor réteg, a sotét barna tortán pedig volt egy hó fehér krém réteg a dió illattal. Csendesen fogyasztottunk, élvezve a régi surített légkort, egy jovore szóló érzéssel hogy ez a nem változott régi csendes hangulat a változásra készult. Elkoszontunk egymástól, mintha találkozni fogunk néhány nap után, bár tudtuk hogy nagyon hosszú távolét várt, egyikunk a saját utját fogja menni, és nagyon nehéz lesz visza találni egy metszo pontot, hogy viszaláthassuk egymást

        Cũng may, mười lăm năm sau, chúng tôi đã gặp lại nhau. Tôi đến Budapest từ Viên, chỉ có đúng một ngày. Chúng tôi hẹn gặp, tại bến metro ga Keleti. Chúng tôi thấy nhau, mỉm cười, và tiến lại gần nhau, không vội vã, không quá đon đả, như một đôi bạn vẫn thường gặp nhau hàng tuần, từ hàng chục năm. Sau khi cùng đi bộ lang thang trên đường Budapest hàng tiếng đồng hồ, chúng tôi chợt thấy mình đang đi trên quảng trường Vörösmarty. Không ai bảo ai, chúng tôi đi về phía quán bánh ngọt. Quán bánh ngọt được trang hoàng lộng lẫy hơn mang một tên mới lạ lẫm, nhưng vẫn còn phảng phất chút phong vị ngày xưa. Magdi lại gọi một chai bia, tôi vẫn gọi thêm hai suất bánh ngọt. Câu chuyện lặp lại y nguyên như cũ, đến mức có lúc tôi tưởng mấy chục năm vừa qua biến mất, nàng mới gọi bia và tôi mới gọi bánh ngọt ở lần đầu. Bia rót ra cốc, nàng cười và nâng ly "Szia" (Chào anh). Tôi không còn thói quen chào hỏi khi uống, nhưng còn nhớ người Hung uống bia không bao giờ cụng ly, nên chỉ cười và uống cạn cốc bia lạnh. Chúng tôi nhẩn nha nhấm nháp xong hai suất bánh ngọt cùng hai ly cà phê rồi đứng dậy. Có cảm giác chúng tôi đã ngồi đó suốt  mấy chục năm vừa qua. Khi đứng dậy, xung quanh đều đã có chút đổi thay.

     Szerencsésen, tizenot év után, találkoztunk még egyszer. Bécsbol jottem Budapestre, és csak egy szabad napom volt. Keleti pályaudvari metró volt a találkozásunk a helye. Láttuk egymást és mosolyogva kozelkedtunk egymáshoz, nem túl sietve, nem túl lelkesen, mintha mindig találkoztunk volna minden heten,  évek óta. Néhány órás sétáltunk a budapesti útcákon és hirtelenul felfedeztuk hogy Vörösmarty téren voltunk. Szótlanul sétáltunk a cukrászda felé. A régi cukrászda jobban nézett ki, de egy új idegen nevet viselt, a régi hangulat láthatatlanul lebegett a levegoben. Magdi kért egy sort, én ketto tortát ketto presszó kávéval. A torténet úgy ismétlodott, mintha a távoléti évek eltuntek volna Magdi sort és én tortát kértunk csak eloszor. A sort pohárba ontve, mosolygott, emelt poharat és mondta "Szia". Már sokáig elfelejtettem az ivás elotti koszontést, de mindig tudtam hogy egy magyarral nem illik kocintgatni a sorozéskor. Igy mosolyogtam és fenekig urítettem a huvos poharomat. Lassan befejeztunk a tortákkal és felálltunk. Olyan érzésem volt hogy ott ultunk évek óta és felálláskor a kornyezetunk már  egy kicsit változott.

      Nắng bên ngoài quảng trường vẫn rực rỡ như năm nào. Đàn chim bồ câu vẫn đậu kín khắp trên quảng trường. Không biết có còn cặp chim câu nào của ngày xưa cũ. Gió từ Duna ùa về lồng lộng như  vẫn gió năm xưa.

      A napsutés ragyogott kint mint régen. A tér még mindig tele volt a galambokkal. Nem tudtam, hogy kozuluk volt-e olyan galamb pár, amelyik is volt a régi napokban. Dunáról fújtott a szél uvoltve mint a régi év szele.

Sau này, Hoàng tử vẫn giữ nguyên cảm xúc với những kỷ niệm thời trai trẻ của mình. Mỗi lần trở lại Budapest là một lần trở lại với hoài niệm dĩ vãng. Volt Egyszer Egy Idő… Azok a szép napok, chú ta thổ lộ: "Cảm xúc dồn dập và man mác. Những câu hỏi về thời gian, ý nghĩa của cuộc sống chợt trỗi dậy như những đợt sóng từ quá khứ. Hồi đó, mình đang say mê đọc các loại triết học, để đến hôm nay nhiều câu hỏi vẫn còn quay lại. Nhưng tất nhiên không đợt sóng nào giống đợt sóng nào. Những giọt nước năm xưa đã đi mãi vào quá khứ. Chỉ còn một hình hài cũ quay lại lượm nhặt những mảnh vụn của những kỷ niệm đang dần nhạt nhòa".

Để đóng lại phần Tiệm bánh ngọt trên Quảng trường Vörösmarty, tôi trở lại ký ức của Hoàng tử với hình ảnh từ 2007. 

"Magdi vừa gửi cho tôi mấy tấm ảnh chụp tại tiệm bánh ngọt năm 2007 (Có bạn tốt là để tôi không bao giờ phải giữ ảnh). Nàng nói là tôi không hề uống bia ở lần cuối. Đúng ra là viết hoài niệm cũng như chơi bài nói dối, nhiều quân bài thật trộn lẫn với một ít quân bài giả. Thực tế, thì trong ảnh có thể thấy tôi đang bị cảm lạnh (có tên một tiểu thuyết Hung "Người bị lạnh mùa hè", chính hắn là tôi,  vì tôi luôn luôn và chỉ bị cảm về mùa hè) và vì thế tôi uống nước ngọt, nhưng kem thì không thể cưỡng nổi. Tôi không bao giờ biết cưỡng lại những cám dỗ. Mũi tôi ướt rượt. Có một ảnh chụp chung với Magdi (do nàng tự chụp), nhưng nàng không cho đăng lại vì, miệng đầy bánh ngọt vị chanh màu vàng, trông giống như mới đến từ Rumani (xứ sở của ma cà rồng. Xin lỗi Magdi anh chỉ đùa). Tôi không có lỗi."

     "Trong tiệm bánh ngọt quảng trường Vörösmarty (bây giờ hình như gọi là Gerbaud), tháng 6, 2007, buổi sáng duy nhất ở Budapest. Kem vị punch (thực ra bây giờ tôi cũng không chắc lắm, bọt sữa, bên cạnh nước ngọt. Căn phòng được bài trí ngày xưa, bàn ghế có vẻ mới." (HTB)

"Vörösmarty téri (most Gerbaud) cukrászdában. Julius 2007, egyetlen délelott Budapesten.  Puncs izu fagylalt (már nem annyira vagyok biztos), tejszínhabbal, jaffa mellett. Régi diszes terem." (HTB)

(còn nữa)

Tóm lược Tam Quốc diễn nghĩa

Tóm tắt nội dung

TAM QUỐC DIỄN NGHĨA

Một trong những thành công lớn nhất của Tam quốc diễn nghĩa là tính chất quy mô, hoành tráng của cốt truyện và nhân vật. Do vậy mà phần sau đây chỉ cố gắng tóm tắt hết sức sơ lược toàn bộ truyện theo những nét chính yếu mà không đi vào chi tiết nhân vật và sự kiện:

Nhà Đông Hán suy yếu.

Truyện lấy bối cảnh vào thời kỳ suy vi của nhà Đông Hán khi những hoàng đế cuối cùng của triều đại này chỉ lo ăn chơi sa đọa mà không quan tâm đến chính sự, bên cạnh việc quá tin dùng giới hoạn quan mà gạt bỏ những bề tôi trung trực. Triều chính ngày càng suy đồi, hủ bại, khiến kinh tế, xã hội khủng hoảng và đời sống người dân trở nên cơ cực. Đến đời Hán Linh Đế, loạn giặc Khăn Vàng nổ ra do Trương Giác, một người đã học được nhiều ma thuật và bùa phép chữa bệnh, cầm đầu. Sau đó là cuộc hội ngộ giữa ba nhân vật Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, cả ba người đều muốn dẹp loạn yên dân nên đã kết nghĩa huynh đệ với nhau ở vườn đào.

Hà Tiến huy động quân đội các trấn chẳng mấy chốc dập tắt được cuộc khởi nghĩa Khăn Vàng. Nhờ là anh rể vua, ông được nhậm chức đại tướng quân của triều đình. Sau khi Hán Linh Đế mất, Hà Tiến lập con trưởng của vua là Hán Thiếu Đế lên kế vị. Lúc đó ông có mâu thuẫn với bọn hoạn quan Thập thường thị nên muốn trừ bỏ bọn chúng. Thủ hạ của Hà Tiến là Viên Thiệu khuyên ông kêu gọi quân các trấn trên cả nước vào kinh đô Lạc Dương diệt hoạn quan, Tiến nghe theo ngay. Khi mà mưu đồ diệt hoạn quan của Hà Tiến chưa thành thì ông lại mắc mưu của đám hoạn quan, bị chúng lừa vào cung Trường Lạc và giết chết. Ngay sau đó các đại thần do Viên Thiệu, Tào Tháo cầm đầu đem quân vào cung giết sạch đám hoạn quan này.

Trong số các quan lại nhận lệnh Hà Tiến vào kinh diệt hoạn quan có cả gian thần Đổng Trác là thứ sử Tây Lương. Đổng Trác nhân cơ hội cả Hà Tiến và đám hoạn quan đều đã chết, liền tiến vào Lạc Dương làm loạn triều đình. Ông ta phế truất Hán Thiếu Đế và lập Trần Lưu Vương lên làm hoàng đế, rồi tự phong mình làm tướng quốc, thâu tóm triều chính. Chỉ mỗi thứ sử Tinh Châu Đinh Nguyên là dám phản đối sự lộng quyền của Trác, nhưng Trác không thể hại được ông do Đinh Nguyên có người con nuôi là Lã Bố rất dũng mãnh, hộ vệ. Tuy nhiên, Đổng Trác dùng kế mua chuộc Lã Bố, sai Lý Túc đem tặng cho Lã Bố vàng bạc và con ngựa Xích Thố của mình. Lã Bố nổi lòng tham, làm phản giết Đinh Nguyên ngay trong đêm hôm đó để quay sang quy phục Đổng Trác.

Cái chết của Đổng Trác và sự nổi dậy của Lý Thôi-Quách Dĩ.

Hành vi tàn bạo, lộng quyền của Đổng Trác khiến các chư hầu vô cùng phẫn nộ, họ hội quân với Viên Thiệu để cùng diệt Đổng Trác. Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi cũng đi theo liên quân diệt gian tặc. 

Lã Bố thường xuyên được Đổng Trác sai đi trấn áp chư hầu, từng một mình giao chiến với cả ba anh em Lưu Bị, nhưng liên tục thất bại. Sau nhiều chiến thắng liên tiếp, liên quân Viên Thiệu tiến thẳng đến Lạc Dương. Đổng Trác hoảng sợ, liền bắt vua Hán dời đô về Trường An lánh nạn.

Trong thời kì Đổng Trác nắm quyền, vẫn còn nhiều trung thần như Vương Doãn luôn tìm cách diệt trừ hắn. 

Một lần, Vương Doãn đã sử dụng liên hoàn kế, ban đầu hứa gả con gái Điêu Thuyền cho Lã Bố, nhưng sau đó lại dâng cho Đổng Trác, khiến Lã Bố tức giận chất vấn Vương Doãn. Vương Doãn nói thác rằng Trác muốn giữ Điêu Thuyền trước để chọn ngày tốt mà gả lại cho Bố, nhưng sau đó Bố thấy Trác ăn ngủ với Điêu Thuyền như vợ chồng thì vô cùng tức giận. Có lần Lã Bố nhân lúc Đổng Trác đang cùng vua bàn chính sự, lén tới đình Phượng Nghi để gặp Điêu Thuyền. Điêu Thuyền nghe lời Vương Doãn, đã nói khích vài câu để ly gián Đổng Trác với Lã Bố. Khi Đổng Trác về điện, thấy Lã Bố đang ôm Điêu Thuyền, nổi giận ném long kích vào Lã Bố nhưng ông đã may mắn tránh được. Từ đó, Lã Bố hận thù Đổng Trác, Vương Doãn thấy vậy liền nói khích ông nhiều hơn, khiến Lã Bố càng quyết tâm giết Đổng Trác để trả thù. Cả hai đã bày mưu lừa Đổng Trác vào kinh thành để rồi đích thân Lã Bố vác họa kích lao đến đâm chết ông.

Không lâu sau khi Đổng Trác bị giết chết, các thuộc hạ của hắn là Lý Thôi và Quách Dĩ đem quân Tây Lương nổi dậy làm loạn, lấy cớ báo thù cho chủ sau khi bọn chúng không được Vương Doãn ân xá. 

Lã Bố chống cự không nổi bèn bỏ thành mà chạy. Chẳng bao lâu sau, bọn Thôi, Dĩ chiếm được Trường An, giết được Vương Doãn, rồi nắm vua Hiến Đế thay Đổng Trác. 

Một số triều thần nhà Hán không chịu nổi sự lộng hành của chúng, bèn bí mật liên kết với chư hầu ở Tây Lương là Mã Đằng, Hàn Toại, âm mưu đem quân vào Trường An giúp vua Hán tiêu diệt bọn Lý Thôi, nhưng thất bại nặng nề. Cả hai may mắn chạy thoát nạn.

Liên minh chư hầu tan rã.

Trong lúc đó, các chư hầu trong liên quân chống Đổng Trác như Tào Tháo và Viên Thiệu lại lục đục với nhau. 

Tôn Kiên, cha của Tôn Sách và Tôn Quyền, lợi dụng lúc lộn xộn, đã lấy được ngọc tỷ truyền quốc rồi bỏ trốn về Giang Đông. Viên Thiệu nghi ngờ, lệnh cho thái thú Lưu Biểu ở Kinh Châu đem quân đánh úp Tôn Kiên để đòi lại ngọc tỉ. Từ đó Tôn Kiên hận thù Lưu Biểu, không lâu sau dẫn quân đánh Kinh Châu báo thù nhưng bị Lưu Biểu đánh bại, bản thân ông cũng bị tử trận. 

Con của Tôn Kiên là Tôn Sách đem ngọc tỷ chạy sang Hoài Nam nương nhờ Viên Thuật. Lúc đó liên quân chống Đổng Trác đã bị tan rã, các chư hầu quay về địa phương của mình và bắt đầu giao chiến với nhau. Nhiều anh hùng như Tào Tháo và Lưu Bị, mặc dù chưa chính thức được ban tước và quân, cũng bắt đầu xây dựng lực lượng riêng.

Viên Thiệu lúc mới khởi sự địa bàn rất nhỏ. Có lúc lương thực cạn kiệt, Thiệu phải mượn lương của chư hầu Hàn Phức ở Ký Châu. Mưu sĩ Phùng Kỷ liền bày mưu cho Viên Thiệu một mặt dụ Công Tôn Toản cùng Thiệu đánh Ký châu rồi hai bên chia đất, mặt khác báo tin này cho Hàn Phức, khiến ông ta hoảng sợ. 

Sau khi nghe lời dụ của Viên Thiệu, Hàn Phức liền dâng Ký châu cho Thiệu nhằm bảo vệ Ký châu khỏi sự xâm phạm của Công Tôn Toản. Nhờ đó, Viên Thiệu lấy được Ký châu mà không tốn binh lực. 

Công Tôn Toản biết mình bị Viên Thiệu lừa gạt, lập tức cất quân báo thù, kết quả là thảm bại. Từ đó cả Viên Thiệu và Công Tôn Toản bắt đầu nảy sinh hận thù và liên tục đánh nhau.

Tào Tháo cho đón cha mình đang lánh nạn ở xa tới căn cứ của mình, có đi qua nghỉ đêm ở Từ Châu. Thứ sử Từ Châu là Đào Khiêm lệnh cho bộ tướng Trương Khải tiếp tục hộ tống ông ta về chỗ Tào Tháo. Nhưng Trương Khải thấy cha Tào Tháo mang nhiều vàng bạc của cải nên nổi lòng tham, đã giết ông ta trong đêm để cướp sạch. 

Tào Tháo nghe tin thì vô cùng tức giận, đem đại quân đánh Từ Châu báo thù. ..

Quân đội của Đào Khiêm yếu thế, phải liên thủ với Lưu Bị lúc đó đang theo Công Tôn Toản, mới đẩy lui được quân Tào. Sau đó, Đào Khiêm ốm chết, Lưu Bị thay Đào Khiêm cai quản Từ châu.

Sau khi bị Lý Thôi và Quách Dĩ đánh đuổi khỏi Trường An, Lã Bố phiêu bạt qua nhiều nơi và nương tựa các chư hầu khác nhau. Sau này, Lã Bố thấy Tào Tháo mải đánh Từ châu mà lơi lỏng phòng bị, nên đã tập hợp quân đội cùng các thuộc hạ như Cao Thuận, Trương Liêu, Tang Bá đánh chiếm địa bàn Duyện Châu. Lã Bố cũng thu phục được mưu sĩ Trần Cung, người vốn muốn theo Tào Tháo nhưng bất mãn trước việc ông ta tàn sát dân Từ Châu khi đánh Đào Khiêm. 

Với tài túc trí đa mưu, Trần Cung giúp Lã Bố đánh thắng Tào Tháo ở trận Bộc Dương, thậm chí suýt bắt sống được ông. Tuy nhiên, Lã Bố sau đó đã trúng kế của Tào Tháo nên thất bại trong việc giữ địa bàn, cùng đường đành phải nương nhờ anh em Lưu Bị ở Từ Châu, nhưng phải tạm đóng quân ở quận Tiểu Bái. 

Tận dụng sự lơ là của Trương Phi khi được Lưu Bị tạm giao việc giữ Từ Châu, Lã Bố bất ngờ đánh úp Từ Châu. Để chuộc lỗi với Lưu Bị, Lã Bố vẫn cho ông ta đóng quân ở Tiểu Bái, nói thác là do Trương Phi nóng nảy dễ hỏng việc nên chỉ muốn thay Phi giữ Từ Châu. 

Khi Viên Thuật vây đánh căn cứ Tiểu Bái của Lưu Bị, Lã Bố đã bắn kích viên môn cứu ông, buộc Viên Thuật phải giải vây rút về. Tuy nhiên, Lã Bố sau đó lại trở mặt đánh Lưu Bị và chiếm được Tiểu Bái, buộc Lưu Bị phải dẫn quân về hàng Tào Tháo.

Viên Thuật xưng đế.

Lúc này ở Hoài Nam, Tôn Sách không muốn đứng dưới trướng Viên Thuật nữa, cùng Trương Chiêu và các thuộc hạ thân tín ra sức tự lập. Tôn Sách lấy cớ đi đánh chư hầu Dương châu Lưu Do để bảo vệ gia quyến, đồng thời để ngọc tỷ lại làm tin. Viên Thuật chấp thuận. Sau khi đánh bại được Lưu Do ở Dương châu, Tôn Sách thừa thắng chinh phục Ngô quận và Cối Kê, đánh bại được các chư hầu Nghiêm Bạch Hổ và Vương Lãng. Nhờ đó Sách chính thức làm chủ Giang Đông, li khai với Viên Thuật và gửi thư yêu cầu ông ta trả lại ngọc tỉ. 

Viên Thuật thấy Tôn Sách làm phản mình thì vô cùng giận dữ, nên không chịu trả ngọc tỉ. Có ngọc tỉ truyền quốc, Viên Thuật đã tự xưng đế không lâu sau đó, dù nhà Hán vẫn còn. Hành động này của Thuật bị Tào Tháo và các chư hầu xem là tội phản nghịch, nên họ đã cùng liên minh với nhau để đánh ông.

Để đối phó với các chư hầu, Viên Thuật muốn liên minh với Lã Bố, thậm chí cho sứ giả đến xin kết nghĩa thông gia. Nhưng Lã Bố đã khước từ yêu cầu này, quyết định đi theo liên minh các chư hầu để thảo phạt Viên Thuật. Viên Thuật thua to nhiều trận liền, lực lượng trở nên suy yếu, đành phải an phận ở Hoài Nam để cố thủ.

Lúc đó ở Trường An, các đại thần triều đình thấy bọn Thôi, Dĩ chuyên quyền, đã bày mưu với vua Hán để li gián bọn chúng, buộc Lý Thôi và Quách Dĩ nảy sinh mâu thuẫn và trở mặt đánh lẫn nhau. 

Nhân lúc bọn chúng tiêu diệt nhau, các quần thần bí mật hộ tống thiên tử về Lạc Dương để thoát khỏi bọn chúng. Lý Thôi và Quách Dĩ nghe tin phải giảng hòa rồi đem quân đuổi theo cướp giá. 

Các bộ tướng triều đình như Đổng Thừa, Dương Phụng, Từ Hoảng nhiều lần giúp vua đẩy lui được bọn chúng nhưng binh lực cứ hao hụt dần. 

Hán Hiến Đế đành triệu Tào Tháo đem quân đến cứu giá, cả Lý Thôi và Quách Dĩ đều bị Tào Tháo đánh bại. Cuối cùng, Tào Tháo nắm được vua Hán, dời đô về Hứa Xương, có thể dùng lệnh thiên tử để hiệu triệu chư hầu.

Tào Tháo lấy danh nghĩa của thiên tử, yêu cầu Lã Bố để Lưu Bị trở lại đóng quân ở Tiểu Bái, hai bên không được xâm phạm nhau. 

Tuy nhiên, Lã Bố về sau nhận ra hai bên Tào-Lưu đang cùng âm mưu đánh mình nên rất tức giận, liền đem quân đánh chiếm Tiểu Bái lần nữa, buộc Lưu Bị phải bỏ thành mà chạy.

 Tào Tháo thấy vậy bèn lấy danh nghĩa giúp Lưu Bị, đem đại quân đánh Lã Bố. Lã Bố thua trận liên tiếp, cả Tiêu Quan, Tiểu Bái và cả Từ Châu đều thất thủ, cuối cùng bị vây khốn ở Hạ Bì, cùng đường đành xin kết nghĩa thông gia với Viên Thuật để được ông ta gửi quân chi viện. 

Viên Thuật không tin, đòi Lã Bố phải đem con gái mình qua Hoài Nam trước rồi mới xuất binh. Do bị quân Tào vây chặt thành, kế hoạch này đã thất bại. 

Lã Bố sau đó bị các thủ hạ làm phản, trói lại nộp cho Tào Tháo và cuối cùng bị xử tử. 

Tuy lấy được Từ Châu, Tào Tháo đã không trao lại châu này cho Lưu Bị như đã hứa, mà quyết định giữ ông ta ở lại Hứa Xương để dễ bề kiểm soát.

Viên Thuật tuy không cứu Lã Bố, nhưng khi thấy thế lực của Tào Tháo ngày càng lớn mạnh, ông muốn đem ngọc tỷ và ngôi vua sang trao cho anh là Viên Thiệu ở Ký Châu để cùng liên minh chống Tào. 

Tào Tháo sai Lưu Bị đem quân chặn đánh Viên Thuật ở Từ Châu khi ông ta đang trên đường sang chỗ Viên Thiệu. Quân Viên Thuật thua to phải rút về Hoài Nam.

 Trên đường rút quân, quân của Viên Thuật hết lương không còn gạo để ăn, sĩ tốt bỏ trốn gần hết, khiến ông tuyệt vọng mà qua đời. Thế lực của ông sau đó nhanh chóng bị Tào Tháo thôn tính. Tào Tháo cũng tịch thu được ngọc tỷ của Viên Thuật.

Khi Tào Tháo nắm vua Hán, trở nên lộng quyền ngang ngược, khi quân phạm thượng. Hán Hiến Đế không cam chịu thân phận đó, lập tức viết một mật chiếu cho Đổng Thừa, khuyên Thừa trừ giặc. 

Đổng Thừa lập ra hội Nghĩa trạng, tức là hội chống Tào Tháo. Ít lâu sau có bảy người tham dự, trong đó có Mã Đằng và Lưu Bị. Về sau, Mã Đằng về Tây Lương, Lưu Bị về Từ Châu, Đổng Thừa giận họ nên phát bệnh. Khi chữa bệnh cho Đổng Thừa, thái y Cát Bình phát hiện Thừa muốn diệt Tào Tháo, xin tham gia vào Nghĩa trạng. Nhưng ngay sau đó kế hoạch đã bị bại lộ khi người đầy tớ của Đổng Thừa, do bị chủ trách phạt nên oán giận, bí mật tố giác vụ hội Nghĩa trạng cho Tào Tháo biết.

 Tào Tháo bèn cho bắt Cát Bình đem tra tấn để lấy lời khai nhưng Cát Bình đã tự sát. Sau một hồi điều tra, vụ việc đã bị phát hiện, và cả năm người bọn Đổng Thừa đều bị Tào Tháo tru di.

Lưu Bị sau khi tiêu diệt Viên Thuật đã không thu quân về Hứa Xương theo lệnh của Tào Tháo mà giết thái thú Từ Châu là Xa Trụ và đóng quân tại đây để ngầm củng cố thế lực, dù chưa chính thức li khai. 

Tào Tháo nghi ngờ, đã sai người đem quân tới Từ Châu giám sát Lưu Bị nhưng bị ông bức đuổi về. 

Biết Lưu Bị nằm trong hội Nghĩa trạng nên ngay sau khi trừ Đổng Thừa, Tào Tháo dẫn quân đánh Từ Châu, Lưu Bị không chống cự nổi phải chạy sang Viên Thiệu, Trương Phi trốn về Nhữ Nam còn Quan Vũ do cùng đường nên phải tạm hàng Tào Tháo. 

Tào Tháo rất mến mộ tài đức của Quan Vũ nên tìm mọi cách thu phục ông. Tuy nhiên, sau khi nghe tin Lưu Bị đang ở Hà Bắc cùng Viên Thiệu, Quan Vũ đã từ chối tiếp tục phụng sự Tào Tháo, tự mình cưỡi ngựa "qua năm ải chém sáu tướng" để về với Lưu Bị. 

Trên đường đến Hà Bắc, Quan Vũ gặp lại Trương Phi khi đó đang lánh ở Nhữ Nam. 

Khi đó Lưu Bị cũng muốn rời bỏ Viên Thiệu, bèn lấy cớ đi Kinh Châu để thương thuyết với Lưu Biểu rồi trốn đi hẳn, nên cuối cùng cả ba anh em huynh đệ đã hội ngộ trở lại ở Cổ Thành.

Chiến tranh Viên-Tào

Viên Thiệu sau khi tiêu diệt được kẻ thù phía bắc của mình là Công Tôn Toản đã kiểm soát được bốn châu lớn ở Hà Bắc, trở thành một thế lực quân phiệt hùng mạnh mà ngay cả Tào Tháo cũng phải e ngại. 

Do đó Lưu Bị sau khi li khai Tào Tháo ban đầu đã quyết định sang Ký Châu với Viên Thiệu để cùng đánh Tào, song do sớm nhận thấy Viên Thiệu không có khả năng bình định thiên hạ nên ông đành bỏ đi. Và trong chiến dịch quân sự đánh Viên Thiệu, Tào Tháo với chiến thuật "lấy ít địch nhiều" cùng tài mưu lược của mình, đã giành được thắng lợi ban đầu ở trận Bạch Mã - Diên Tân và chiến thắng quyết định của Tào Tháo là tại trận Quan Độ. 

Nỗ lực báo thù của Viên Thiệu sau đó đã bị phá sản hoàn toàn khi ông lại để thua tiếp một trận đánh lớn khác với Tào Tháo ở Thương Đình nên từ đó sức khỏe bắt đầu suy sụp, lực lượng cũng trở nên kiệt quệ.

Sau khi Viên Thiệu qua đời, do Thiệu bỏ con trưởng Viên Đàm để lập con út Viên Thượng lên kế vị, các con của ông đã nảy sinh mâu thuẫn rồi dấy binh đánh lẫn nhau. Tào Tháo thừa cơ hội anh em họ Viên cắn xé lẫn nhau, đem quân chiếm được cả bốn châu Hà Bắc, buộc hai anh em Viên Thượng và Viên Hy phải chạy sang Liêu Đông nương nhờ thái thú Công Tôn Khang. Tào Tháo quyết định không đem quân truy kích, khiến Công Tôn Khang quyết định giết hai anh em Viên Thượng và Viên Hy để giữ quan hệ tốt với ông. Thất bại của Viên Thiệu đã đặt cơ sở cho Tào Tháo củng cố quyền lực tuyệt đối khắp miền bắc Trung Quốc.

Lưu Bị kháng Tào

Lưu Bị chiêu mộ Gia Cát Lượng, trong Ba lần đến thăm túp lều tranh.

Cũng trong thời gian này, Lưu Bị lập được căn cứ mới ở Nhữ Nam để chống Tào Tháo. Ban đầu ông tự đem quân đi tấn công Tào Tháo nhưng bị thất bại nặng nề, bèn tới Kinh Châu nương nhờ Lưu Biểu là một người anh họ xa của mình cho lánh nạn. 

Lưu Bị được Lưu Biểu cho đóng quân ở quận Tân Dã để đề phòng Tào Tháo, tại đó ông đã thu phục được mưu sĩ Từ Thứ. Từ Thứ với tài mưu lược của mình, đã giúp Lưu Bị thắng quân Tào nhiều trận. Nhưng Tào Tháo lập mưu bắt mẹ của Từ Thứ, buộc Từ Thứ phải theo mình. 

Trước khi buộc phải rời bỏ Lưu Bị, Từ Thứ tiến cử Gia Cát Lượng với Lưu Bị. Sau ba lần đến thăm lều cỏ của Gia Cát Lượng, Lưu Bị đã chiêu mộ được ông ta làm mưu sĩ. Hai lần đầu tiên, Gia Cát Lượng lấy cớ đi có việc để từ chối gặp khách. Chỉ có lần cuối cùng vì cảm kích bởi sự chân thành và kiên trì của Lưu Bị mà Gia Cát Lượng mới quyết định theo phò tá.

Không lâu sau Lưu Biểu mất, để lại di chúc trao Kinh Châu cho con trưởng là Lưu Kỳ. Nội bộ Kinh Châu bắt đầu lục đục khi bộ tướng của Lưu Biểu là Sái Mạo đưa con thứ Lưu Tông lên làm chúa rồi định giết Lưu Kỳ để trừ họa, nhưng Lưu Kỳ đã chủ động trốn về Giang Hạ. 

Tào Tháo biết tin Kinh Châu đang có biến loạn, lập tức cho quân đi chiếm Tân Dã. Lưu Bị nhận thấy binh mã ở Tân Dã không đủ khả năng chống Tào nên muốn tạm rút lui. Do được lòng dân chúng thành Tân Dã nên trước viễn cảnh bị quân Tào xâm chiếm, toàn bộ dân trong thành một lòng xin đi theo Lưu Bị. 

Lưu Bị đành đưa dân Tân Dã về thành Tương Dương của Lưu Tông, tại đây Lưu Bị bị từ chối không cho vào thành. Không còn cách nào khác ông phải tiếp tục nam tiến xuống Giang Hạ, là thành của Lưu Kỳ, do bị Sái Mạo hãm hại nên bỏ trốn đến đây. 

Ở Giang Hạ, Lưu Bị cuối cùng cũng tạm có được một chỗ dung thân để chống lại cuộc tấn công dữ dội của Tào Tháo.

 Tào Tháo sai người đưa thư tới Tương Dương chiêu hàng Lưu Tông. Lưu Tông đồng ý, dẫn tùy tùng ra đầu hàng, chủ động nộp hết chín quận Kinh Châu cho Tào Tháo.

Trận Xích Bích

Còn ở Giang Đông, Tôn Quyền vừa mới lên nắm quyền sau cái chết bất ngờ của người anh Tôn Sách. Sau khi chiếm Kinh Châu mà không tốn binh lực, Tào Tháo tiếp tục huy động đại quân sang phía đông nam, chuẩn bị thảo phạt Tôn Quyền. 

Tháo ban đầu cho người sang Giang Đông dụ hàng, tuy nhiên Gia Cát Lượng đã tự mình đến quận Sài Tang và thuyết phục được Tôn Quyền hợp tác với Lưu Bị để kháng Tào. 

Các bề tôi của Tôn Quyền chia thành hai phe là chủ hàng và chủ chiến. Đứng đầu phe chủ hàng là Trương Chiêu, đứng đầu phe chủ chiến là Chu Du. Tôn Quyền nghe theo Chu Du, quyết liên minh với Lưu Bị để đánh Tào Tháo. 

Mùa đông năm 208, Tào Tháo dẫn đại quân hơn tám mươi vạn người tiến xuống Giang Đông tiêu diệt Tôn Quyền để thống nhất Trung Hoa. 

Biết quân Tào không giỏi thủy chiến lại dễ bị say sóng, Chu Du và Gia Cát Lượng đã lệnh cho mưu sĩ Bàng Thống đến trại Tào bày liên hoàn kế, dụ Tào Tháo cho nối các thuyền chiến lại với nhau để dễ bày binh bố trận. 

Chu Du tận dụng cơ hội này để dùng hỏa công kháng Tào, đã dẫn đến thất bại thảm hại nhất của Tào Tháo tại trận Xích Bích.

Thế chân vạc hình thành.

Sau khi thua trận Xích Bích, lực lượng của Tào Tháo về cơ bản không còn trội hơn so với Lưu Bị và Tôn Quyền như trước nữa. Thế chân vạc dần hình thành từ đây.

Do trước đó đã chiếm được Kinh Châu, Tào Tháo đã giao ba quận lớn của châu này là Nam Quận, Tương Dương và Hợp Phì lần lượt cho Tào Nhân, Hạ Hầu Đôn và Trương Liêu coi giữ. 

Liên minh Tôn-Lưu thừa thắng trận Xích Bích, cùng nhau đánh chiếm những vùng đất này, nhưng Lưu Bị đã chiếm ưu thế nhờ tài mưu lược của Gia Cát Lượng. 

Chu Du dẫn quân chiếm Nam Quận, đánh bật được Tào Nhân nhưng Nam Quận đã bị tướng của Lưu Bị là Triệu Vân chiếm mất trước đó, và Tương Dương sau đó cũng bị Quan Vũ thừa cơ chiếm trước. Trong khi đó, Tôn Quyền dẫn quân đánh trận Hợp Phì thì bị Trương Liêu đánh bại.

Để lấy Kinh Châu mà không phải cất quân, Chu Du chỉ cho Lưu Bị "mượn Kinh Châu" và khi Lưu Kỳ (con trưởng Lưu Biểu) chết thì phải trả, do Lưu Kỳ trên danh nghĩa vẫn đang kế thừa Lưu Biểu ở Kinh Châu. Tuy nhiên, Lưu Kỳ mất sớm, Chu Du lại sai Lỗ Túc đến đòi. Một lần nữa Gia Cát Lượng lại dùng mưu mẹo để trì hoãn vấn đề này khi nói rằng muốn mượn Kinh Châu cho đến khi Lưu Bị đánh chiếm được đất Tây Xuyên của Lưu Chương, nếu không sẽ không có chỗ dung thân. Vì thế Chu Du rất tức giận và thề sẽ tìm kế trả đũa Gia Cát Lượng.

Với ý định loại trừ Lưu Bị, Chu Du bày mưu cho Tôn Quyền gả em gái mình cho Lưu Bị. Sau đó, Lưu Bị mắc mưu sang Sài Tang để làm lễ cưới. 

Tuy nhiên, Tôn Quyền rất nghe lời mẹ mình là Ngô Quốc Thái Phu Nhân; bà này rất quý Lưu Bị và không cho ai hãm hại Lưu Bị. Cũng do tài mưu lược của Gia Cát Lượng mà Lưu Bị cuối cùng đã quay về Giang Hạ cùng với người vợ mới. 

Chu Du liền dùng cách khác đánh Kinh Châu khi chủ động sửa soạn binh mã rồi mượn tiếng đánh Tây Xuyên giúp Lưu Bị nhưng thực ra là muốn chiếm Kinh Châu để Lưu Bị chủ quan không phòng bị, nhưng mưu kế này cuối cùng vẫn thất bại bởi những kế sách đúng đắn của Gia Cát Lượng. Thất vọng, Chu Du buồn bã về Sài Tang rồi quá uất ức mà qua đời.

Tào Tháo sau khi nam chinh thất bại đã tiêu diệt chư hầu Hàn Toại, Mã Đằng và đánh bại con Mã Đằng là Mã Siêu ở Tây Lương, trước khi bình định Trương Lỗ ở Hán Trung, nhưng vẫn không thể thống nhất Trung Hoa. 

Về sau Mã Siêu quay lại đánh Tào Tháo ở trận Ký Thành để báo thù nhưng vẫn thất bại nặng nề, phải liều chết phá vây để chạy thoát. Mã Siêu ban đầu phiêu bạt qua Trương Lỗ, sau này do nghe lời dụ hàng của Lưu Bị mà Mã Siêu mới về theo Lưu Bị.

Trong thời gian đó, Lưu Bị cũng dẫn quân Tây chinh đánh Lưu Chương, chiếm được Thành Đô (Ích Châu). Tuy nhiên đó là một cuộc chiến không mấy dễ dàng vì dù thắng trận nhưng quân đội Lưu Bị chịu nhiều tổn thất, đặc biệt cái chết trong đám loạn tiễn của mưu sĩ Bàng Thống ở gò Lạc Phượng. 

Một thời gian sau Lưu Bị nhận ra cơ hội chinh phục Trung Nguyên đã đến, liền sai hai tướng Hoàng Trung và Triệu Vân đánh vào đất Hán Trung của Tào Tháo, giết được tướng Tào là Hạ Hầu Uyên. Tào Tháo tức giận đem quân đến báo thù nhưng lại thất bại nặng nề phải rút về Nghiệp Thành. Sau chiến thắng này, Lưu Bị lên ngôi Hán Trung vương.

Cái chết của Quan Vũ

Khi Lưu Bị đang đánh Hán Trung thì Quan Vũ (lúc đó đang được Lưu Bị giao việc giữ Kinh Châu) cũng đem quân đánh hai quận Tương Dương và Phàn Thành.

 Tướng giữ Phàn Thành là Tào Nhân thua trận liên tiếp. Tào Tháo phải sai Vu Cấm và Bàng Đức đem quân đi cứu viện. Quan Vũ đánh thắng cả đại quân cứu viện, Vu Cấm bị bắt sống, Bàng Đức không hàng bị chém, còn Tào Nhân bị Quan Vũ vây chặt ở Phàn Thành. 

Tào Tháo thấy tình hình nguy khốn đành phải nhân lúc Tôn Quyền đang muốn chiếm Kinh Châu, để liên minh với Đông Ngô cùng đánh Quan Vũ. 

Tháo sai Từ Hoảng đem quân đến chi viện cho Phàn Thành để dụ Quan Vũ đem quân ở Kinh Châu ra đánh. 

Do Tôn Quyền trước đó đã giả vờ cách chức Lã Mông để cho Lục Tốn, lúc đó còn là một vị tướng trẻ ít danh tiếng, lên làm đô đốc nước Ngô; Quan Vũ chủ quan khinh địch, liền dồn hết binh lực ở Kinh Châu tới đánh Từ Hoảng, khiến thành Kinh Châu gần như bỏ không. Tôn Quyền thừa cơ sai Lã Mông đem quân đánh úp Kinh Châu. 

Quan Vũ nghe tin đó thì hoảng hốt, đem quân từ Phàn Thành về định chiếm lại Kinh Châu thì thất bại và bị quân Ngô vây chặt ở Mạch Thành.

 Quan Vũ cùng đường phải sai sứ sang Thượng Dung yêu cầu hai bộ tướng khác của Lưu Bị là Mạnh Đạt và Lưu Phong đem quân tới cứu viện nhưng họ không đồng ý. Nỗ lực phá vây của Quan Vũ cũng không thành, ông cuối cùng đã bị Tôn Quyền bắt giết.

Ba nước cùng xưng đế. 

Tình trạng giằng co giữa ba thế lực vẫn bế tắc cho đến khi Tào Tháo chết vào năm 220, có lẽ do bị u não. 

Năm đó, con trưởng của Tào Tháo là Tào Phi ép phế Hiến Đế và lập ra nhà Ngụy. Đáp lại, Lưu Bị tự xưng đế Thục Hán (để chứng tỏ vẫn mang dòng máu quý tộc nhà Hán nhưng đặt đô tại Thành Đô Thục). Trước khi lên ngôi, Lưu Bị cũng tập trung diệt trừ Lưu Phong và Mạnh Đạt vì trước đó họ đã không cứu Quan Vũ. Lưu Phong bị giết nhưng Mạnh Đạt thì chạy thoát và đầu hàng Tào Phi.

Lúc này, Tôn Quyền lại ngả về phía Ngụy. Ông chịu để Tào Phi phong vương nước Ngô. Tôn Quyền làm việc này nhằm tập trung lực lượng chống Thục do Lưu Bị đã quyết tâm đông tiến đánh Ngô. 

Vì báo thù cho Quan Vũ, Tiên chủ Lưu Bị khởi binh phạt Ngô, cất 75 vạn đại quân tiến về phía đông đến Di Lăng. Ban đầu, quân Thục thắng liên tiếp nhiều trận, quân Ngô bại liên tục. 

Trong quá trình giao tranh, do thời tiết oi bức, Lưu Bị cho toàn quân hạ trại trong rừng để tránh nắng. 

Đô đốc Lục Tốn phía Ngô đã thừa cơ đó, ngay trong đêm dùng hỏa công thiêu cháy khu rừng nơi quân Thục hạ trại, khiến Lưu Bị đại bại trong trận Di Lăng, tướng sĩ chết vô số kể.

 Lục Tốn ban đầu định thừa thắng tấn công về phía nước Thục, nhưng sau khi phát hiện kế dụ địch của Gia Cát Lượng đã ngưng không tiếp tục dấn sâu về phía tây. 

Vì tin vào quyết tâm đánh Thục của Lục Tốn, Tào Phi phát động một cuộc xâm lược vào nước Ngô vì cho rằng quân Ngô vẫn còn ở ngoài địa phận. Cuộc tấn công này đã bị đè bẹp bởi sự kháng cự quyết liệt của quân Ngô cùng với bệnh dịch bùng phát bên phía quân Ngụy. Những chiến thắng liên tiếp trước Thục và Ngụy đã giúp thanh thế của Đông Ngô ngày càng lớn mạnh, tạo điều kiện để Tôn Quyền quyết định xưng đế.

Trong lúc đó tại nước Thục, Lưu Bị sau khi thua trận Di Lăng đã quá u uất mà qua đời, để lại con trai Lưu Thiện còn nhỏ dại. Trương Phi đã chết trước đó nên Lưu Bị đành phó thác Lưu Thiện cho Gia Cát Lượng chăm sóc. 

Nắm bắt cơ hội này, Tào Phi gắng mua chuộc một số lực lượng, trong đó có Tôn Quyền và các bộ tộc thiểu số để tấn công nước Thục. Một sứ giả của Thục thuyết phục được Tôn Quyền lui quân, nhưng Gia Cát Lượng vẫn phải lo xử lý quân của các bộ tộc thiểu số.

Một trong những mưu lược tài ba của Gia Cát Lượng trong thời gian này là tiến hành chiến dịch thu phục Mạnh Hoạch, thủ lĩnh bộ tộc người Man. 

Gia Cát Lượng đã bảy lần bắt sống Mạnh Hoạch trong các cuộc trấn áp bộ tộc này, nhưng lần nào cũng cho thả ông ra nguyên vẹn. Mạnh Hoạch vì cảm động bởi mưu trí và lòng nhân từ của Gia Cát Lượng nên sau đó đã thề mãi mãi gắn bó với nhà Thục.

Trong lúc này, Tào Phi cũng bất ngờ lâm bệnh mà chết, các vua Ngụy về sau dần mất thực quyền vào tay họ Tư Mã. 

Gia Cát Lượng do đó liền nhìn về phía bắc. Tuy nhiên, bản thân ông cũng không còn sống được bao lâu nữa. 

Chiến thắng đáng kể cuối cùng của ông trong chiến dịch chống lại quân Ngụy có lẽ là chiêu hàng được Khương Duy về phía mình. 

Khương Duy trước đó là một tướng bên Ngụy, có tài năng quân sự. Sau sáu lần xuất quân ra Kỳ Sơn, Gia Cát Lượng dù đánh thắng nhiều trận nhưng với quá nhiều khó khăn về tiếp tế lương thảo và tướng Ngụy là Tư Mã Ý chủ trương cố thủ không giao chiến, ông không thể đạt mục tiêu là đánh chiếm Trường An.

Đến khi Gia Cát Lượng mất, vua Thục Lưu Thiện lúc ấy làm theo lời dặn dò của ông, lần lượt cho Tưởng Uyển và Phí Y nhiếp chính. Sau khi cả hai người này qua đời, Khương Duy trở thành đại tướng quân thống lĩnh binh mã, tiếp tục các cuộc Bắc phạt với nước Ngụy, nhưng không giành được kết quả nào đáng kể.

Ở nước Ngô, sau khi Tôn Quyền qua đời, các vua còn lại của Đông Ngô là Tôn Lượng, Tôn Hưu và Tôn Hạo đều chỉ là những kẻ bất tài khiến triều chính rối ren. Nước Ngô suy yếu từ đó.

Nhà Tây Tấn thống nhất Trung Hoa

Khi cuộc chiến kéo dài nhiều năm giữa Ngụy và Thục đang diễn ra thì phía triều đình nhà Ngụy liên tục đổi ngôi. Nhà họ Tào ngày một yếu thế. 

Họ Tư Mã ở nước Ngụy liên tục lớn mạnh. Sau khi Tư Mã Ý mất, các con của ông là Tư Mã Sư và Tư Mã Chiêu lần lượt thay nhau nắm quyền chính. 

Nhận thấy nước Thục suy yếu, Tư Mã Chiêu đem quân diệt Thục, bắt được Lưu Thiện. Tuy nhiên, Khương Duy tiếp tục tiến hành chiến dịch của Gia Cát Lượng chống lại Tào Ngụy, ngay cả sau khi Lưu Thiện đầu hàng. 

Khương Duy bày mưu kích động xung đột giữa hai tướng lớn phía Ngụy là Chung Hội và Đặng Ngải. Kế sách này đã tiến rất sát đến thành công, cho đến khi một tướng Ngụy trung thành là Hồ Liệt phao tin ra ngoài. 

Thật không may, bệnh tim của Khương Duy bộc phát ngay giữa trận đánh cuối cùng. Ông liền dùng kiếm tự vẫn, đánh dấu sự kháng cự cuối cùng của nhà Thục Hán.

Sau khi Tư Mã Chiêu qua đời, con trai ông và là cháu của đại thần Tư Mã Ý là Tư Mã Viêm kế nghiệp. Cuối cùng, vào thời Tào Hoán, Tư Mã Viêm bắt Tào Hoán nhường ngôi giống như Tào Phi đã từng ép phế Hán Hiến Đế, trở thành vua Tấn Vũ Đế, sáng lập ra nhà Tấn.

Vua cuối cùng của Đông Ngô là Tôn Hạo đến năm 280 cũng bị quân đội của Tấn Vũ Đế đánh bại. Cả ba vua cuối cùng của ba nước là Tào Hoán, Lưu Thiện và Tôn Hạo đều được triều đình nhà Tấn cho sống cho đến tận cuối đời. Và thế là thời đại Tam Quốc cuối cùng cũng đã chấm dứt sau gần một thế kỷ đầy xung đột.

Ảnh: Tào Tháo

FB-Thái Bá Tân Vt

Wednesday, August 5, 2026

Câu chuyện của chúng tôi (4)

Bóng đá và âm nhạc là sở thích và cũng là nhu cầu của thể chất và tinh thần. Đó là những điều mà với mỗi người có ảnh hưởng khác nhau. Tuy nhiên, yêu thích thể thao ntn ko phải ai cũng như ai. Và âm nhạc cũng vậy, cùng với thời gian dành cho sự yêu thích của mình là khả năng thể hiện của bản thân. Có người được Trời phú tài năng nổi bật hơn người, còn đa số chỉ ca hát và ra sân cho vui, cho khỏe. Riêng tôi thì đá bóng rất nhiều. Nếu tôi sinh ra vào thời buổi này, tôi rất thích được đào tạo một cách bài bản từ nhỏ. Ko phải để trở thành cầu thủ chuyên nghiệp, mà ít ra cũng có phẩm chất của 1 cầu thủ, cả trên sân bóng và trong cuộc sống hàng ngày.

Ko như bóng đá hay âm nhạc, Budapest đã hầu như chinh phục tất cả chúng tôi với vẻ đẹp diễm lệ của dòng Duna giữa những lâu đài thành quách uy nghi của Buda và Pest, rất duyên dáng và thanh lịch. Vẻ đẹp này làm cho Budapest thực sự được coi là một trong những thành phố có kiến ​​trúc đẹp nhất châu Âu. Điểm đặc biệt ở đây là sự hiện diện đa dạng của các công trình thuộc nhiều thời kỳ và phong cách kiến ​​trúc khác nhau — từ kiến ​​trúc Gothic thời Trung cổ cho đến phong cách Art Nouveau đầy tráng lệ của Hungary. 

Có một điều khiến tôi đặc biệt yêu thích Budapest bởi kiến ​​trúc nơi đây cuốn hút nhất chính là ở những chi tiết nhỏ. Ko nhất thiết phải tìm đến các địa danh nổi tiếng; chỉ cần dạo bước trên những con phố ở Pest và ngước nhìn lên, chúng ta sẽ bắt gặp những lối vào tuyệt đẹp, những ô cửa sổ lồi, các bức tượng cột hình người (caryatid), những tác phẩm điêu khắc nhỏ, tranh khảm, những cánh cửa cổ kính cùng những mặt tiền công trình đầy bất ngờ và ấn tượng.

Thủ đô của nước Hung đã để lại ấn tượng vô cùng sâu đậm trong ký ức của tôi. Budapest làm tôi phải sững sờ trước vẻ đẹp hài hòa của những kiến trúc cũ và mới xen kẽ lẫn nhau. Ngay từ những ngày đầu thành phố là điều vô cùng hấp dẫn với tất cả chúng tôi. Nhìn thành phố từ trên cao, tôi vẫn thường tự hỏi: "Đã có bao nhiêu con người tài hoa chạm tay vào từng góc nhỏ của Budapest trong hơn 1000 năm qua để làm nên một thành phố như ta đang thấy?". Thành phố này đã làm bao nhiêu người phải đặt những câu hỏi như thế từ những lối đi lát đá, những vòm cây um tùm và những bãi cỏ xanh mượt đến những bậc thang ngoài trời hun hút lên thành Vár, từ những quảng trường đến những đại lộ sầm uất và duyên dáng với những tiệm café, nhà hàng hấp dẫn, từ những công trình văn hóa tuyệt đẹp mang những phong cách khác nhau đến Parlament huy hoàng tráng lệ... Budapest như một hòn ngọc bên dòng Duna, lấp lánh thơ mộng đầy mê hoặc như hiện ra từ những câu chuyện cổ tích đẹp man mác và huyền ảo vô cùng. 

   Tôi ngỡ ngàng nhìn không chán mắt những đường phố và con người xung quanh tôi, còn TV, báo chí và phim ảnh thì thật lôi cuốn và tạo được vô số ấn tượng với những quảng cáo đủ loại... Tất cả đều thú vị và lạ lẫm... Riêng HTB vốn rất lãng mạn, thích khám phá và "ham vui" hơn tôi đã có lý khi cho rằng tàu điện là một "đặc sản" của Budapest và rất thích thú khi trốn học/du ngoạn thành phố bằng phương tiện này.

Ko riêng gì HTB, cũng có nhiều người coi tàu điện Budapest là điều đáng nhớ nhất của tp này. TS. Vũ Hà Văn, dân nhảy tàu HN, học chuyên toán và Hà Nội - Amsterdam, sang Hung sau chúng tôi 15 năm với cảm nhận về Budapest: "cái gì cũng khác, cũng mới, từ đường phố, cửa hàng, thức ăn, cho đến phim ảnh và màu mắt của các cô gái. Quê hương nhất, chính là anh tàu điện. Tàu điện ở Budapest cũng màu vàng, và cũng leng keng, y hệt như tàu điện Bờ Hồ, có điều nó có cửa nghiêm chỉnh và phải mua vé. Ba mươi năm trước dáng nó bè bè béo béo chứ không thanh thoát chân dài như bây giờ.

Tàu điện quen thuộc nhất với sinh viên Việt Nam phải là tàu số 4 và 6, vì hai tàu bắt đầu ở gần ký túc xá của Đại học Bách Khoa, nơi quá nửa học sinh Việt Nam theo học. Tàu chạy dọc đại lộ một thời mang tên Lenin, mà tên người luôn xuất hiện một cách bất ngờ nhất trong các tạp chí sinh viên lưu hành trong các ký túc xá, cho đến Quảng trường Mátxcơva. Quảng trường Mátxcơva nay đã trở lại cái tên cũ Széll Kálmán (vị Thủ tướng Hungary cuối thế kỷ 19), còn đại lộ Lenin, cũng không khác với số phận của thành phố cùng tên bên Nga, đã chuyển thành con đường mang tên Teréz và Erzsébet, hai bà hoàng của Đế quốc Áo - Hung ngày trước".

Về những nơi thân quen với LHS trước đây và thế hệ Du học sinh (DHS) sau này (tôi phân biệt như vậy cho 2 khoảng thời gian: thời chiến và thời bình), Vũ Hà Văn nhớ đến Vár và Budapest với những hình ảnh và cảm nhận rất đẹp: "Đây là địa điểm du lịch số một của Budapest, có nhà thờ vua Matyás và pháo đài Những người đánh cá (thật ra là chỗ thu thuế cá ngày xưa), hai điểm mà hầu như du khách nào cũng ghé qua. Cái hay là ở trong thành không phải chỗ nào cũng làm du lịch cả, mà còn nhiều nhà dân sinh sống trong các dẫy phố nho nhỏ, có cột đèn bằng sắt xen lẫn cây cổ thụ, lòng đường lát đá đen, và dọc phố lác đác vài ngôi mộ chí.

Thành Vár ở địa thế ở cao, có thể nhìn xuống toàn cảnh thành phố, sông Danube xanh và những cây cầu tuyệt vời của nó. Cây cầu đẹp nhất có lẽ là Cầu Xích (Lánchíd - Chain Bridge), một trong những cầu treo bằng sắt đầu tiên trên thế giới. Được xây từ nửa đầu thế kỷ 19, Cầu Xích là một thành tựu kỹ thuật đáng kể của thời đó. Ở hai đầu cầu, nhà kiến trúc tài ba đã cho đắp sừng sững một đôi sư tử nhe nanh, như có ý nhắc nhở rằng sợ vợ không chỉ là đặc tính của đàn ông Châu Á. Dẫu vậy, người Hung thật xứng đáng là một dân tộc thông minh, cái gì cũng hơn người thường một chút, vì nếu nhìn gần, thì các bà sư tử này hình như không có lưỡi.

Budapest có những dãy phố cổ dọc theo bờ sông, phía Buda, tối mở cửa sổ có thể nhìn sang thành Vár và Nhà Quốc hội bên kia sông rực ánh đèn. Các khu cổ này một nhà to có nhiều căn hộ, có lẽ là chỗ ở cho các thị dân giàu có ngày xưa, cửa sổ cao và thoáng, mỗi nhà có một cái cổng đá xây rất phong cách, nhô ra đường để khi trời mưa khách vãng lai có thể vào trú được. Chiếc cổng đã che bao thế hệ thanh niên đi ngang qua nó. Ngày hôm nay là những cô cậu sinh viên của thế hệ iPad, 30 năm trước là thế hệ của tôi và bạn, 30 năm trước nữa là những sinh viên của năm 1956 đầy biến động, mà trong lòng họ không biết đất nước và bản thân sẽ đi về đâu…"

HTB thì kể lại ký ức về tàu điện nhiều hơn. Tên này còn nhớ rõ: "Ở Hungari thời đó, vé xe điện là 1Ft màu vàng, vé xe bus 1.5Ft màu xanh. Vé tháng xe điện là 20Ft đi được tất cả các xe điện, vé tháng bus giá 50 Ft đi được tất cả các phương tiện. Lên xe tự giác bấm. Thỉnh thoảng có người khám vé, nếu tóm được phạt bằng tiền vé tháng xe bus là 50Ft

Học bổng hàng tháng của chúng tôi là 500Ft, sau khi đã trừ phiếu ăn và ký túc xá, tiêu chừng 1 tuần thì hết. Vì vậy hiếm có tên nào đã từng là sinh viên mà không trốn vé xe. Cố nhiên 50Ft là một món tiền lớn, có thể vào tiệm ăn hạng 3 hai lần. Sau này khi tôi đã trở thành nghiên cứu viên, rồi giáo sư đại học, lương hàng tháng 12-16 nghìn FT (cố nhiên khi đó vé xe điện xe bus tăng gấp 2-3 gì đó) tôi vẫn trốn vé xe. Không phải vì tiền nhưng ngại đi mua vé và hay quên, lên xe rồi mới nhớ ra. Có lần trốn vé, thấy có cô soát vé rất xinh lên, tính lẩn, thì cô bám ngay lấy mình. Nhưng cô ấy không hỏi vé mà bắt chuyện lăng nhăng và khen mái tóc đen của mình. Cũng chém tích cực nên lờ được chuyện vé. Hú vía.

Ở Debrecen là tỉnh lẻ, mua vé tháng đi được có mỗi một cái tàu điện và khoảng 3 tuyến bus, nên cực kỳ lãng phí." HTB học Vật lý lý thuyết ở KLTE, Debrecen và từng có thời gian dạy ở đây nên mới có nhận xét như thế. Về tàu điện ở Budapest, tên này đã viết 1 bài với tâm trạng hoài cổ về cảnh đẹp của Budapest và những kỷ niệm của hắn trong bài "Budapesti villamosok - Những chiếc xe điện thành Budapest".

"Có lẽ đặc sản của Budapest là tàu điện. Kỷ niệm thời sinh viên là tàu điện. Khi buồn không biết làm gì lên tàu điện lang thang là thú vị nhất. 

Budapest có hàng chục tuyến tàu điện khác nhau, nhưng có một số tuyến tàu điện quen thuộc như 4, 6, 19, 18, 49, 47 mà ai cũng biết. Trong số các tuyến tàu điện tôi thích nhất và có kỷ niệm nhiều nhất với tàu số 2 và tàu số 19 chạy dọc hai bờ sông Duna bên Pest và bên Buda.

Đường tàu điện số 2, từ quảng trường Jászai Mari, ở đầu cầu Margit chạy đến Kozvágó híd, sát bến tàu Hév ra Csepel và Ráckeve. Có lẽ đây là tuyến đường đẹp nhất, chạy dọc bờ sông Duna bên Pest, chạy qua nhà quốc hội, Viện Hàn Lâm, khách sạn Duna, cầu Margit, cầu Xích (Lánc Híd), cầu Erzsébet, cầu Szabadság, cầu Petofi, chợ Szabadság, trường Kinh tế. Tàu điện số 2 tương đối đẹp đẽ và luôn được tân trang đàng hoàng hơn so với các tuyến tàu điện khác. (Hình như ngoài tàu điện số 2 còn có tàu điện số 18 cũng mới vì chạy đến bệnh viện János).

Có lẽ đây là tuyến tàu điện tôi có nhiều kỷ niệm nhất, vì tôi thường đi tàu điện số 2 để đón tàu Hév đi Ráckev đến nhà cô bạn là Magdi. Sau này, cô bạn lấy chồng, nhà lại ở sát cuối bên kia của bến tàu số 2 tại quảng trường Jásszai Mari, đi bộ chỉ mấy bước chân là về nhà hoặc ra đảo Margit đi dạo cũng rất gần.

Đường tàu 19, chạy từ ga Kelenfoldi đến quảng trường Batthány. Tôi cũng yêu tuyến tàu điện này, nhất là đoạn chạy dọc bờ sông bên Buda, có lối đi lên thành Vár, chạy qua cầu Lánc, cầu Erzsébet, cầu Szabadság, quảng trường tròn (Moricz Zsigmond Kortér), quảng trường Kosztolányi Dezso tér.

Hồi học ngoại ngữ , mỗi dịp trốn học đi chơi, tôi hay ngồi trên tàu điện 19 chạy dọc bờ sông. Hồi ở ký túc xá Budaors thì vì không muốn mua vé tháng xe bus, chúng tôi thường đi bộ ra đường Bartók Béla đón tàu 19, 49, 47 từ Kelenfold về. Sau này đi lên Vár chúng tôi vẫn thường đón tàu 19 và đi bộ lên Vár. Còn ga Batthány tér có chuyến xe bus (hình như số 16) mà bạn Nguyễn Cao Bình thường đón xe bus lên Óbuda có việc riêng. (Chuyện này tôi nghe láng máng, nhớ cũng loáng thoáng, phải đợi Cao Bình kể lại). Bến quảng trường Batthány đối diện với nhà Quốc hội và cũng là bến Metro nối vào tuyến từ quảng trường Moszkva (nay chắc đã đổi tên khác) đi đến Sugár và bến tàu Hév đi Godollo.

       Đối diện với bến Metro là một cái chợ rất lớn. Đi chợ ở Hungari cũng là một cái thú không thể quên và nếu bạn nào chưa có cái thú đó thì sẽ là một thiệt thòi vô cùng lớn, không thể bù đắp được. Khi nào rảnh sẽ nói thêm về chuyện này.

    Tôi nhớ tuyến xe điện 19 thường mở cửa, gió sông Duna thổi vào từ bốn phía mùa hè rất sướng, mùa đông hơi khổ một chút. Sau đoạn chạy qua cầu Lánc, chỗ có một con đường hầm xuyên qua núi Buda, là bến để chuyển qua xe bus hoặc đi bộ lên Vár nếu bụng không đói lắm. Đoạn này đặc biệt xóc, tàu rung lên xòng xọc, bánh xe xiết vào đường ray ken két, rất ồn. Bây giờ hình như đều đã thay bằng tàu điện mới hiện đại, nhưng chắc không có cái hương vị cổ điển như ngày xưa."

Tàu điện số 2 được coi là một trong những lựa chọn cho chương trình tham quan rẻ nhất ở Budapest. Vào thời của chúng tôi, đây là loại tàu điện đẹp nhất của Hungary (hoạt động cùng với những tuyến còn lại hầu hết là tàu loại cũ). Tuyến đường này uốn lượn dọc theo sông Duna từ Quảng trường Jászai Mari đến Nhà hát Quốc gia, đưa du khách đi giữa những công trình kiến ​​trúc mang tính biểu tượng của thành phố. Tất cả những cảnh quan vô cùng ấn tượng trên đoạn sông Duna nổi tiếng đẹp nhất này chỉ tốn một vé BKV (hoặc hai vé nếu bạn mua vé khứ hồi). Cần chú ý quan sát cả 2 bên trái và phải khi di chuyển theo cả hai chiều, vì tàu điện đi qua Tòa nhà Quốc hội, Cung điện Gresham, Cầu Lánchíd và dưới Cầu Erzsébet và nhiều địa điểm khác. Ở phía Buda, có thể nhìn thấy những ngọn đồi, Khu Lâu đài và Suối nước nóng Gellért. Và tất nhiên, cũng ko thể bỏ lỡ 2 trường ĐH Corvinus và BME, một ở bên Pest và một ở phía đối diện của Buda, cả 2 đều rất cuốn hút.

Đến nay tôi vẫn còn tiếc và vẫn tự trách mình vì đã ko có trải nghiệm thú vị như HTB về tàu điện Bp. Có lẽ do ham đá bóng quá? Nhẽ ra, tôi cũng phải khám phá ra điều có 1 ko 2 này mới phải. Ít ra, như vậy mới biết về Bp nhiều hơn, có nhiều chuyện để viết hơn! Nếu có dịp trở lại Hungary, nhất định tôi sẽ dành thời gian du ngoạn Budapest bằng tàu điện trong chương trình du hành của mình.

Budapest rất lôi cuốn với những cây cầu nối liền bờ Pest bằng phẳng với vùng đồi của Buda, mỗi cây cầu là một công trình nghệ thuật, trong đó nổi tiếng nhất là cầu Lánchíd - hoàn thành năm 1849. HTB đã dành cho cây cầu này những dòng đầy cảm xúc, và dù theo tiếng Hung tên đúng ra là Cầu Xích, nhưng theo ý hắn thì gọi là Cầu Sư Tử hay hơn.

"Đây là cây cầu đẹp nhất trong các cây cầu ở Budapest, mặc dù cầu Erzsébet và cầu Szabadság đều có những vẻ đẹp và duyên dáng riêng. 

Những con sư tử nằm làm bằng đá ở hai đầu cầu trông luôn luôn suy tư. Cầu Sư Tử có thể nhìn từ nhiều góc, nhưng tôi thích nhất là góc nhìn từ phía Buda, hơi chéo góc một chút về phía tòa nhà của Viện Hàn Lâm, nhưng đừng chéo quá để nhìn thấy nhà Quốc Hội. Thế mới biết, không phải nhiều cái đẹp ở bên cạnh nhau là hay. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao tôi chán xem các cuộc thi hoa hậu đến thế. Tình cờ góc nhìn này lại đúng là góc nhìn trong phim Chủ Nhật Buồn (Szomorú Vasárnap).

Cầu Sư Tử trong đêm rất diễm lệ, do ánh sáng bố trí rất tuyệt vời, hòa hợp với hình khối cổ kính, hơi lỉnh kỉnh những xích sắt, cùng với đám sư tử đá, và không khí mát lạnh, hơi lung linh từ nước sông Duna phả lên. Vừa có vẻ trong một nhà bảo tàng, vừa có vẻ như trong một cửa hàng đồ cổ, mà người ngắm cảnh lại có cảm giác đang nhâm nhi nước đá từ một cái cốc pha lê, đá chạm vào thành cốc kêu lanh canh trong một quá khứ xa xôi nào đó.

Ban ngày Cầu Sư Tử lại có vẻ đẹp khác. Chúng ta  có thể đứng ở Pest nhìn về phía Buda để thấy Bảo tàng tranh Dân tộc ở hậu trường. Hoặc chúng ta nhìn thẳng vào đường hầm, hoặc nhìn chéo về phía thành cổ. Tôi chưa bao giờ có dịp đi bộ qua cầu, hoặc đứng trên thành cầu nhìn sông Duna, Pest và Buda cho thỏa thích. Chắc cảm giác đó phải tuyệt vời lắm. Đôi khi có những việc dễ dàng và thú vị, mà người ta ngu ngốc không làm, có khi lại chỉ vì sợ người khác cười mình là lẩn thẩn hoặc ngốc nghếch. Tôi chỉ nhớ nhất là hình ảnh của cầu Sư tử nhìn thẳng vào gầm cầu từ bến tàu điện số 19.

Tôi sẽ nhớ mãi những lần lái xe qua cầu từ trên Vár xuống, hoặc chạy xuyên qua hầm ngầm xuyên núi Buda, cảm giác thật mạnh mẽ và thú vị. Cũng may là  đến bây giờ tôi vẫn còn giữ lại được một số cảm giác và cảm xúc.

Dưới đây là cầu Sư tử trong đêm, không thể xác định được đây là góc nhìn từ Buda hay nhìn sang Buda. Tôi nghĩ là góc nhìn của phim Szomorú Vasárnap, từ Buda nhìn sang.

Nhìn sang Buda, trong ánh sáng đẹp và tinh khiết.

Nhìn về phía Nemzeti Galéria (Bảo tàng tranh dân tộc), có cảm giác như một chuỗi xà tích nạm ngọc quý.

Cầu Sư tử đẹp cả trong ánh sáng ban ngày, nhìn về phía Pest. Một thứ ánh sáng dịu dàng, xanh trong vắt đến xao lòng.

Ánh sáng chiếu trên cầu Sư tử. Đây chưa phải là khoảnh khắc đẹp nhất. Dường như là một buổi chiều muộn, cầu Sư tử đã lên đèn, và đang đợi những ngôi sao sớm thắp lên trên bầu trời đang ngả màu tím sẫm.

Tôi hay nhìn cầu Sư tử nhất là từ góc nhìn này, từ dưới chân cầu nhìn lên.


Tại sao mình không có một buổi chiều nào hay một sáng nào đứng tha thẩn một mình trên cầu như bóng người trong ảnh. Không phải mình không muốn điều đó, không phải vì điều đó không hay, không phải vì mình không có thời gian. Chỉ là ngại thôi và thói quen ngần ngại ngu ngốc. Con người ta hay xấu hổ vì cảm xúc. Đó là một mâu thuẫn vô lý của con người. Bây giờ tôi mới thấy biết ơn Magdi về những khoảng thời gian làm những việc ngốc nghếch vô tích sự, nhưng để lại những cảm xúc lâu dài suốt đời như thế."

Pest có một con đường nổi tiếng mà LHS chúng tôi ai cũng biết, đó là Népköztársaság útja, nay là Đại lộ Andrássy. Đại lộ này là một bảo tàng trưng bày các phong cách kiến ​​trúc của nửa cuối thế kỷ 19. Phong cách tân Phục Hưng chiếm ưu thế, nhưng chúng ta cũng tìm thấy các công trình kiến ​​trúc tân Baroque, Cổ điển, Art Nouveau và Lãng mạn. Đại lộ Andrássy là cầu nối giữa trung tâm thành phố năng động và không gian xanh của thành phố, Városliget. Nó bắt đầu với những tòa nhà chung cư, như một con đường chính rộng lớn ở trung tâm thành phố, sau đó dần dần mở rộng, xanh tươi hơn, trải dài thành một đại lộ rợp bóng cây với những biệt thự hai bên và kết thúc ở Quảng trường Anh hùng. Đại lộ này cũng rất nổi tiếng với Đường sắt ngầm Földalatti Vasút.

Đại lộ Andrássy hình thành bởi ý nguyện của bá tước Andrássy Gyula.Với chiều dài 2310m, đây là đại lộ "sugár útja" dài nhất của Budapest và là con đường đầy quyến rũ giữa thành phố, một con đường hoa lệ với nhiều công trình của các kiến trúc sư nổi tiếng nhất đương thời. Người ta phải phá bỏ rất nhiều ngôi nhà để xây dựng lại quy củ theo trường phái neo-Renaissan; trong số những tác phẩm tiêu biểu nhất phải kể đến nhà hát Opera/Magyar Állami Operaház (1884) do kiến trúc sư Ybl Miklós thiết kế mang phong cách mới của thời kỳ đó, rất độc đáo khi kết hợp với phong cách Baroque, đây là một kiệt tác của con đường nổi tiếng này và cũng là niềm hãnh diện của Budapest cũng như của người Hungary. 

Magyar Állami Operaház

HTB thì quen dùng tên cũ, Népköztársaság útja, vì nó gắn với nhiều kỷ niệm. Đường này chạy từ quảng trường Deák Ferenc, qua quảng trường Liszt Ferenc, sau đó đến quảng trường November 7, bây giờ gọi là quảng trường Bát giác (Oktogon), sau đó đến Kodály Körönd, rồi đến quảng trường Anh Hùng nổi tiếng. Đây là tuyến đường của xe bus số 1, chạy từ Kelenföld (phía trường Ngoại ngữ) lên. Đoạn từ quảng trường Deák Ferenc đến quảng trường November 7, có những hàng cây tán lá rất rợp, dường như nắng không bao giờ tới được mặt đường. Hai bên rất nhiều cửa hàng cửa hiệu. Đoạn từ quảng trường November 7 đến quảng trường tròn Kodály là những nhà sát mặt đường, kiến trúc rất đẹp. Đặc biệt có một nhà hàng sang trọng, cắm rất nhiều ô, và có một cửa vào trông rất bắt mắt mà hắn ta quên mất tên. Từ quảng trường tròn Kodály đến quảng trường Anh Hùng là các biệt thự rất đẹp.

Trên đường Népköztársaság có một địa điểm đáng nhớ vì nó gắn liền với kỷ niệm về những ngày đầu chúng ta đến Budapest. Đó là Divat Csarnok, nơi chúng ta đều đến đó mua những bộ quần áo đầu tiên khi đến Hungary. HTB còn nhớ ngày hôm đó như mới ngày hôm qua. Anh Quang Việt, dẫn nhóm HTB đi và đưa ra một số tư vấn. Hoàng tử đi với Khánh và Trung, dĩ nhiên là cả bọn bàn luận với nhau xem nên mua gì. Trước tiên là phải mua một cái áo bành tô (kabát) để chống lại cái lạnh của mùa đông. Cả nhóm đều nhất trí mua một cái áo to dày, lót lông, nhồi bông, có mũ. Hình như cái áo của HTB màu tím, Trung và Khánh chọn màu nâu. Sau đó đến áo kardigán, một loại áo thay áo len, có khuy mở ở phía trước, bằng một thứ sợi nhân tạo nào đó. Loại này chỉ có một màu duy nhất là xanh lá cây đậm. Vậy là cả ba đứa mua 3 cái giống hệt nhau. Sau đó đến quần, lẽ dĩ nhiên Hoàng tử chọn quần 2-3 loe. Được tự do lựa chọn phải hưởng thụ một cái. Các chú sứ đã cấm, càng nên chọn cho khoái. Hắn nhớ một chiếc kẻ sọc màu hơi hung hung bằng len. Một chiếc kia bằng sợi tổng hợp màu boóc đô. Khánh hình như cũng chọn giống HTB. Riêng Trung thì cứ băn khoăn mãi về quần loe, cứ săm soi tìm loại nào không loe. Nhưng cuối cùng hình như cũng phải theo HTB. Cái quần thứ hai của Khánh là màu xanh đậm.

      Áo sơ mi thì dễ hơn, HTB chọn một cái màu vàng, một cái màu hồng và một cái màu trắng. Khánh và Trung cũng chọn cái màu vàng và một cái trắng. Về màu hồng thì hình như cả hai cậu đều ngần ngừ, chọn một cái màu trứng sáo thì phải. Riêng Trung, Hoàng tử ép phải mua cái màu hồng như hắn, vì Khánh nhất định không chọn màu hồng, vì có vẻ táo bạo về màu sắc quá. Hoàng tử khoái màu hồng để đi kèm với màu boóc đô của cái quần. Đến phút cuối cùng hắn phát hiện ra một chiếc áo màu trắng bằng một thứ vải trong suốt như đăng ten có hoa loang lổ, hắn bèn đổi để khác biệt áo trắng đơn giản của Trung. Hoàng tử nhớ mang máng nhưng không chắc lắm là Khánh cũng tán thành ý tưởng này và cũng chọn một chiếc giống như vậy. Vậy là ba đứa cứ mỗi cặp lại có 2 cái áo giống nhau.

Từ Divat Csarnok đi vài bước nữa là quảng trường Liszt Ferenc, nơi có một trường trung học, ở đó có cô bạn của Hoàng tử là Magdi dạy môn vẽ. Hồi sinh viên HTB ít khi có dịp qua lại quảng trường này, sau này mới có dịp qua quảng trường này mấy lần, hắn cũng đến thăm cô bạn cùng năm là Nguyễn Kim Bân (ELTE.M72), hình như nhà số 7, nhà ở tầng trệt trong một cái sân sạch sẽ nhưng cổ lỗ.

Từ quảng trường Liszt Ferenc đi thêm bước nữa là đến quảng trường November 7 (Cách mạng Tháng 10 Nga), ngày nay gọi là Oktogon. Đây vốn là giao lộ của đường Népköztársaság và Lenin körút (ngày nay gọi là Erzsébet körút) có các tàu điện số 4 và số 6 chạy qua.

 Dọc đại lộ Népköztársaság có tuyến đường tàu điện ngầm Földalatti số 1. Đây là tuyến đường nối tiệm bánh ngọt, chứa những kỷ niệm của HTB, trên quảng trường Vörösmarty đến khu mà HTB quên mất tên mà vào những năm 1985 HTB đã đến thăm Trương Đăng Dung (ELTE, M72) và Magdi (hồi đó ở gần đó, đang chuẩn bị sinh con gái là Linda).

   Bây giờ, chúng ta quay trở lại quảng trường tròn Kodály. Chắc các bạn sẽ phải nhớ ra vì nó là chỗ đẹp nhất trên đường đến sứ quán. Nếu bạn đi xe bus số 1, sau quảng trường November 7, bạn sẽ thấy một vòng tròn lớn, có bãi cỏ, các tượng đồng, và nhiều ngôi nhà có kiến trúc tuyệt đẹp bao quanh. Đó chính là quảng trường tròn Kodály một thời đã được gọi là quảng trường Adolf Hitler.

Quảng trường Anh Hùng nằm ở cuối đường Népköztársaság, đây là nơi diễn ra nhiều sự kiện chính trị của Hungari, giống như quảng trường Ba Đình và cũng là một danh thắng của Budapest. HTB sẽ có một bài riêng về quảng trường này và các tượng đài. Cần nhắc là ở đây có Bảo tàng Mỹ thuật quốc gia Budapest, quần thể tượng đài trên quảng trường. Cuối quảng trường là khu vườn bách thảo của Budapest (Város Liget) nơi có một tòa lâu đài cổ đẹp tuyệt vời. HTB cũng sẽ có một bài riêng về Város Liget.

 Chéo bên kia quảng trường Anh Hùng, gần cuối đường Népköztársaság là Sứ Quán Nam Tư cũ. Là nơi Thủ tướng Hung năm 1956 Nagy Imre vào ẩn náu trước khi nộp mình cho Hồng quân của Andropov. Hoàng tử nhớ Khánh đã chỉ cho hắn tòa Đại Sứ này khi vừa ở Sứ quán Việt Nam qua. Nó là một tòa biệt thự rất đẹp, cổng và hàng rào sắt sơn đen. Hoàng tử đứng lặng yên ngắm cánh cửa và ước ao có một lần được vào đó xin visa để qua Nam Tư. Chắc Khánh cũng nghĩ vậy. Thậm chí hai tên này cũng thảo luận xem hộ chiếu của chúng tôi có đi Nam Tư được không, vì Nam Tư theo quan niệm của nhiều người Hung và Nam Tư thời đó cũng là xã hội chủ nghĩa. Cuối cùng thì cả hai cũng không đủ dũng cảm để thử. Mãi tới sau này, 20 năm sau, năm 1990 Hoàng tử mới có cơ hội vào cánh cửa đó lấy thị thực qua Nam Tư để đi Ý. Hắn rất tiếc là chuyến đi này không có người bạn vàng thuở nào. Lúc lấy xong thị thực cho cả vợ con, Hoàng tử có chút xúc động nhớ lại chuyện ngày xưa.

(còn nữa)