Wednesday, September 23, 2020

Tính cách và đường lối cm (3)

HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

— Kỳ 3 (Kỳ Cuối) —

LÁNH ĐẾN MOSCOW

Khi mối quan hệ Tưởng – Cộng tan vỡ, chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc lánh đến Moscow bằng con đường xuyên qua sa mạc Gobi. Cuộc đời ông sau đó là được bao phủ bởi một màn sương mờ không rõ ràng, nhưng người ta tin rằng Hồ đã sống ở Berlin một thời gian. Sau đó du hành đến Bỉ, Thụy Sĩ và Italia – dĩ nhiên, dưới nhiều bí danh khác nhau.

Sau năm 1928, cái tên Hồ Chí Minh lại bất ngờ xuất hiện ở miền đông Thái Lan trong vỏ bọc một nhà sư Phật giáo. Tại đây, ông cạo trọc đầu và hoạt động giữa những người Việt lưu vong, xây dựng các hội nhóm chính trị, xuất bản nhiều ấn phẩm báo chí… Từ đó xuyên qua biên giới tuồn vào Việt Nam.

Năm 1930, theo lời khuyên của Đệ tam Quốc tế, Hồ Chí Minh đã góp công lớn trong việc giải quyết những tranh chấp gay gắt nảy sinh giữa những người theo chủ nghĩa Cộng sản ở Đông Dương, đặt nền móng cho sự thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng – tiền thân của Đảng Cộng Sản Việt Nam (hay còn gọi là Đảng Lao Động) sau này. 

Cùng năm đó, được sự hậu thuẫn của những người Cộng Sản, một cuộc nổi dậy của nông dân đã nổ ra ở Việt Nam. Năm 1931, Hồ bị bắt ở Hong Kong và bị tống giam vào nhà tù của thực dân Anh vì các hoạt động lật đổ. Vào thời điểm đó, dưới sự đàn áp của Pháp, ông cũng chính thức bị kết án tử hình vắng mặt. Người Pháp đã tìm mọi cách để dẫn độ Hồ về, nhưng ông cho rằng mình là một người tị nạn chính trị, và vì thế không thể bị dẫn độ. Vụ án được (Sir) Stafford Cripps thụ lý ở London trong một phiên tranh biện với Hội đồng Cơ mật, đã ra phán quyết cuối cùng: Hồ được trả tự do. Ngay sau đó, ông lánh khỏi Hong Kong (lần này là dưới vỏ bọc một thương gia Trung Quốc) để trở lại Moscow.

Tại Moscow, Hồ theo học tại các trường Cộng Sản như Viện nghiên cứu các vấn đề Dân tộc & Thuộc địa, cũng như trường Lenin danh tiếng. Tuy nhiên, năm 1938 ông quyết định quay ngược lại Trung Quốc và trở thành thông tín viên trong hàng ngũ Bát lộ quân nổi tiếng của Mao Trạch Đông. Từ đó, ông tìm đường đi xuống phía Nam để trở về quê hương vào năm 1940. Đó cũng là lần đầu tiên Hồ Chí Minh đặt chân về Việt Nam sau hơn 30 năm xa cách.

NHÀ LÃNH ĐẠO BẬC THẦY

Thời điểm này cũng là một bước ngoặt lớn. Không chịu bất cứ sự chống trả nào, người Nhật đã hất cẳng Pháp, chiếm quyền kiểm soát bán đảo Đông Dương một cách hiệu quả, trong khi giới cầm quyền tại đây (hầu hết thuộc chính quyền Vichy) đã chấp nhận hợp tác với người Nhật. Bằng sự táo bạo và "ảo tưởng" tuyệt vời, Hồ đã lợi dụng Thế chiến thứ 2 để tập hợp một liên minh những người theo chủ nghĩa dân tộc và những người cộng sản Việt Nam để thành lập tổ chức gọi là Việt Minh (tức Mặt trận Độc lập).

Việt Minh đã phát triển một lực lượng du kích lên đến khoảng 10 nghìn người. Những "Người đàn ông mặc áo đen" này đã quả cảm chiến đấu chống lại quân Nhật trong rừng rậm và tạo nên nhiều thành công đáng nể.

Những hành động của Hồ đã đưa ông lên tầm thế giới với tư cách là nhà dân tộc chủ nghĩa hàng đầu Việt Nam và là đồng minh của Hoa Kỳ chống lại người Nhật. Ông nói: 

❝Tôi đã là một người Cộng Sản, nhưng không còn nữa. Tôi là một người con của đất nước Việt Nam, và không là gì khác.❞

Năm 1942, các báo cáo cho thấy Hồ đã đến Côn Minh theo đề xuất của các cố vấn quân sự Mỹ. Ông bị bắt tại đó bởi người của Tưởng Giới Thạch và bị cầm tù cho đến tháng 9/1943 trước khi được trả tự do theo yêu cầu (được cho) là của phía Hoa Kỳ. (Tập thơ nổi tiếng "Nhật ký trong tù" của ông, được cho là ra đời trong thời gian này – lời người dịch)

Trong quá trình được trả tự do, theo Fall, Hồ đã hợp tác với một tướng lĩnh Quốc Dân Đảng (tướng Trương Phát Khuê – lời người dịch) để thống nhất và tổ chức lại các nhóm người Việt lưu vong tại miền Nam Trung Quốc thành khối thống nhất. Một hệ quả của nó là vào năm 1944, Hồ đã chấp nhận trở thành người đứng đầu của Chính phủ Cộng hòa Lâm thời Việt Nam. Chính phủ này tuy chủ yếu chỉ là hình thức trên giấy, nhưng nó đã cho phép Hồ gửi một thông điệp mạnh mẽ đến Cơ quan tình báo chiến lược Hoa Kỳ (OSS – lời người dịch). Vì vậy, khi Việt Minh tiếp quản Hà Nội năm 1945, trong đoàn tùy tùng của ông có mặt những sĩ quan quân sự cấp cao của Mỹ. Cũng trong giai đoạn này, ông đã lấy tên chính thức là Hồ Chí Minh.

TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP

Với sự kết thúc của Thế chiến thứ 2, Hồ tuyên bố nền độc lập cho Việt Nam, nhưng phải mất 9 năm để tuyên bố của ông trở thành hiện thực. Đầu tiên, theo hiệp ước Postdam, Quốc dân đảng chiếm đóng Hà Nội và các khu vực phía Bắc Việt Nam. Thứ hai, người Pháp (bằng tàu của Anh) sẽ tái chiếm Sài Gòn và phần phía Nam đất nước. Và thứ ba, liên minh dân tộc chủ nghĩa của Hồ đã bị căng thẳng dưới áp lực của những sự kiện này.

Thành lập một lực lượng du kích mới lấy Việt Minh làm nòng cốt, Hồ và các đồng sự của mình (theo hầu hết các nguồn tin), đã thanh toán dứt điểm những người bất đồng chính kiến không muốn chiến đấu theo cách của ông để giành độc lập. Các vụ ám sát thường xuyên được ghi nhận. Cũng trong thời gian đó, khi người Trung Quốc rút khỏi miền Bắc và người Pháp đang Bắc tiến từ phía Nam, Hồ đã thương lượng với Pháp để cứu lấy chính thể dân tộc chủ nghĩa của mình.

Trong một thỏa thuận mà Hồ Chí Minh thực hiện ở Paris năm 1946, ông đồng ý để Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở thành một bộ phận của Liên hiệp Pháp với tư cách là một quốc gia tự do trong liên bang Đông Dương. Người Pháp công nhận Hồ là quốc trưởng và hứa sẽ tổ chức một cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam về vấn đề của một nước Việt Nam thống nhất dưới thời Hồ Chí Minh.

Nhưng đến đầu năm 1947, hiệp định bị phá vỡ và hai bên trở mặt giao chiến với nhau. Du kích Việt Minh trấn giữ các vùng rừng rậm và làng mạc trong khi người Pháp chiếm các đô thị lớn. Suốt 7 năm, chiến tranh bùng nổ khi lực lượng của Hồ tập trung sức mạnh và ngày càng siết chặt vòng vây. Trong hầu hết thời gian này, Hồ Chí Minh bị cô lập trên mặt trận ngoại giao bởi ông không được những người Cộng Sản Liên Xô và Trung Quốc công nhận, cho đến khi chiến thắng của ông trước người Pháp gần như là điều chắc chắn.

Trong một nỗ lực nhằm củng cố các lực lượng chính trị của mình, Pháp đã triệu hồi Bảo Đại – người từng giữ vai trò Hoàng đế và là con rối của Nhật. Hủ bại và chỉ ham hưởng thụ, Bảo Đại nhanh chóng cùng các nhân tình của mình "phắn" sang Paris, để lại một chế độ suy yếu tan hoang ở Sài Gòn. Dĩ nhiên, điều này đã chứng tỏ rằng không có một sự ủng hộ nào đối với đội quân viễn chinh Pháp, vốn đã bị đánh gục bởi chiến thuật du kích của Tướng Giáp. Cuối cùng, vào ngày 8 tháng 5 năm 1954, người Pháp bị đánh bại hoàn toàn tại Điện Biên Phủ. Chiến tranh Đông Dương chính thức kết thúc vào tháng 7 với cái giá phải trả cho người Pháp là 172.000 thương vong; và với Việt Minh, con số dự đoán có lẽ là gấp ba như thế.

Hiệp định ngừng bắn được ký tại Geneva ngày 21 tháng 7 năm 1954. Tuy nhiên, nó thể hiện được ít hơn nhiều so với hy vọng của Hồ. Cũng trong thời điểm này, Hoa Kỳ chính thức can thiệp vào Việt Nam thông qua gói viện trợ 800 triệu đô la / năm cho người Pháp. Lo ngại về sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản ở châu Á gây ảnh hưởng đến Washington, phó tổng thống Mỹ là Richard Nixon đã nói: "Trong trường hợp cần thiết để ngăn chủ nghĩa Cộng Sản lan rộng ở châu Á, chúng ta phải chấp nhận mạo hiểm đưa quân của mình vào. Và tôi nghĩ Cơ quan Hành pháp phải làm điều đó.".

Tuy nhiên, hiệp định Geneva đã chia cắt Việt Nam thành hai miền tại vĩ tuyến 17. Nó cũng loại bỏ chính quyền Pháp trên bán đảo và tạo điều kiện cho các cuộc bầu cử toàn dân vào năm 1956 như một phương tiện để thống nhất đất nước.

Mặc dù là một bên tham gia Hiệp định Geneva nhưng Hoa Kỳ đã từ chối ký kết. Một bên khác không ký vào hiệp định là miền Nam Việt Nam, cũng từ chối tổng tuyển cử. Cùng lúc, Mỹ đã nhanh chóng xây dựng bộ máy quân sự của mình ở Sài Gòn để bày tỏ sự ủng hộ với chế độ Ngô Đình Diệm. Hành động này được xem như một biện pháp chống lại những hoạt động du kích ngày một rõ ràng hơn của Mặt trận Giải phóng Dân tộc thời điểm sau năm 1956.

Tiền tuyến của Mặt trận Giải phóng Dân tộc, cơ bản là độc lập với lực lượng của Hồ Chí Minh ở miền Bắc, đã gia tăng ảnh hưởng của nó trong thập niên 60. Nó tự cung tự cấp cho bản thân từ chính vũ khí thu được của người Mỹ và từ một số nguồn miền Bắc cung ứng. Bắt đầu từ năm 1964, Mỹ đã đổ hàng ngàn lính vào Nam Việt Nam để chống lại Việt Cộng và sau đó là tiến hành ném bom miền Bắc. Việc Mỹ ngừng ném bom vào năm 1968, cuối cùng đã dẫn đến các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris. Nhưng dù cho có như vậy, thì cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam vẫn tiếp diễn.

TỰ TIN VÀO CHIẾN THẮNG

Xuyên suốt tất cả, Hồ luôn tự tin vào chiến thắng. Năm 1962, khi cuộc chiến mới chỉ là xung đột cục bộ giữa lực lượng Nam Việt Nam cùng 11.000 cố vấn Mỹ với lực lượng du kích nhỏ hơn phía bên kia, ông đã nói với một khách quốc tế người Pháp:

❝Người Pháp các bạn biết rõ về Việt Nam, cũng như có nhiều mối quan hệ cũ ở đây. Và chúng tôi đã phải mất 8 năm chiến đấu cay đắng để đánh bại các bạn. Giờ thì chế độ miền Nam được trang bị tốt hơn và được người Mỹ giúp đỡ. Người Mỹ mạnh hơn nhiều so với người Pháp, mặc dù họ hiểu về chúng tôi ít hơn. Thế nên, có thể chúng tôi phải mất đến 10 năm để làm điều tương tự. Nhưng tôi tin, đồng bào anh hùng ở miền Nam cuối cùng rồi cũng sẽ đánh bại họ.❞

Đến đầu năm 1967, khi nói chuyện với Ashmore và Baggs, Hồ vẫn tràn đầy tự tin. Ông nói:

❝Chúng tôi đã chiến đấu vì độc lập của mình hơn 25 năm. Tất nhiên, chúng tôi trân trọng hòa bình, nhưng để mua hòa bình với người Mỹ hay bất cứ một bên nào khác bằng cái giá là nền độc lập, thì chúng tôi sẽ không bao giờ!❞

Khi cuộc trò chuyện gần đi đến hồi kết, ông nắm chặt tay phải xúc động nói: 

❝Các bạn phải biết giải pháp của chúng tôi. Sau một thời gian dài đấu tranh gian khổ để giành lại độc lập cho đất nước, thì ngay cả vũ khí hạt nhân của các bạn cũng không thể buộc chúng tôi đầu hàng được đâu.❞

Nói về cái chết của chính mình, Hồ dường như không có chút cảm xúc nào. Hồ Chí Minh đã được khuyên phải nghiêm khắc từ bỏ thuốc lá, nhưng rồi ông vẫn hút. “Khi bạn là một ông già như tôi, thì bạn chẳng cần phải lo lắng về tác hại của thuốc lá nữa” – Hồ hóm hỉnh. 

… [ HẾT ] …

© Ảnh: Chàng thanh niên Nguyễn Ái Quốc (thứ ba từ trái sang) cùng với các đại biểu dự Đại hội V của Quốc tế Cộng sản

© Bài của ký giả ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (năm 1969)

© Bản dịch của sonle

Vh tuyên truyền và chuyện bốc mả/khai quật lịch sử

 Cứ đào bới mãi mấy cái mả/tượng đài cũ rồi gắn những chữ vừa nhàm vừa nhảm vào với nhau, nghe nhiều quá thành chối, nhưng ko bao giờ bộ máy tuyên truyền chán, kiểu: vĩ đại, sáng suốt, quang vinh... lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu ...từ đời tám hoánh, nhưng sự thật thì những gì đang tiếp nối/diễn ra chẳng đâu vào đâu cả.

Họp hành đại hội chán chê, hết nghị quyết này đến nghị quyết khác, toàn nói 1 đằng làm 1 nẻo. Chủ yếu là vẽ vời, dựng cảnh hoành tráng cho VN 2020 ...nhưng rốt cục là chẳng có gì ra hồn.

Giờ lại vẽ tiếp cái bánh rõ to đến VN 2045.

Đến lúc đấy (nếu chẳng ra gì?) chắc lại moi lại thành quả hôm nay như với mấy cái mả thối CCRĐ, NVGP, chống nọ chống kia... ra để đề cao vai trò, tô trát/ngụy biện cho xu thế cuồng bạo đang gia tăng cùng đạo binh CS-CA như 1 công cụ ccvs vạn năng nhằm giải quyết mọi vấn đề phát sinh, nếu có và cái bộ máy vẫn thế?

3GAI

Tuesday, September 22, 2020

Tính cách và đường lối cm (2)

HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

— Kỳ 2 —

THỜI TRAI TRẺ

Nền tảng giáo dục cơ bản mà ông Hồ nhận được là từ cha mình và trường làng. Lớn hơn một chút, ông học vài năm ở trường Lycee (tức Trung học) Quốc Học ở cố đô Huế. Ở đây, nên nói thêm rằng, trường Quốc học chính là ngôi trường mà cha ông Ngô Đình Diệm – tức thượng thư Ngô Đình Khả – đã sáng lập nên với mục đích duy trì truyền thống hiếu học của dân tộc. Danh sách những học sinh xuất sắc của trường phải bao gồm những cái tên lỗi lạc như: Võ Nguyên Giáp – vị tướng huyền thoại của chiến tranh du kích; hay Phạm Văn Đồng – thủ tướng đương nhiệm của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

Ông Hồ rời trường vào năm 1910 khi chưa có bằng tốt nghiệp và trở thành giáo viên bán thời gian tại một trường tư thục trong một thị trấn đánh cá nhỏ ở phía Nam. Theo nhiều nguồn tin có thể tin cậy, chính trong thời gian giảng dạy ở đây, ông Hồ đã quyết định sẽ tìm đường sang châu Âu. Để thực hiện mục tiêu ấy, mùa Hè năm 1911, ông ghi danh theo học nghề phụ bếp tại một trường thương mại ở Sài Gòn. Đây là những kỹ năng dễ dàng nhất để đến được châu Âu vào thời điểm đó.

Khoá học này mang đến cho ông Hồ khẩu vị của một người sành ăn cũng như khả năng chế biến một món ăn ngon mà ông thích làm khi có thể.

Tuy nhiên, không cần chờ đợi lâu, bằng năng khiếu của mình trong ẩm thực, ông Hồ đã được nhận lên tàu Latouche-Treville ngay khi khóa học còn chưa kết thúc. Khi ấy, mọi người trên tàu gọi ông là Ba.

Trong chuyến đi của mình, ông đã đặt chân đến Marseilles; các cảng ở châu Phi và Bắc Mỹ. Giải thích ý nghĩa quan trọng của những chuyến đi này đối với nhận thức của Hồ Chí Minh như một cuộc cách mạng, ông Fall đã viết trong cuốn "The Two Vietnams":

"Những mối liên hệ của ông với chủ nghĩa thực dân da trắng ngay trên sân nhà của họ đã phá tan mọi lầm tưởng trong ông về 'sự vượt trội của chúng', và sự liên kết của ông với các thủy thủ từ Brittany, Cornwall hay Frisian Islands – những người mù chữ và mê tín như hầu hết tầng lớp nông dân thấp kép nhất ở Việt Nam – đã làm nốt phần còn lại của lịch sử."

"Ông Hồ vẫn thích kể câu chuyện về con tàu của mình khi dừng chân tại một cảng châu Phi. Ông nhớ lại những người bản xứ bị buộc phải nhảy xuống vùng nước đầy cá mập để bảo vệ mỏ neo của tàu và bị giết bởi chúng dưới đôi mắt thờ ơ của hành khách và thủy thủ đoàn.

Nhưng cũng chính những mối liên hệ với châu Âu mang lại cho ông sự mặc khải về giá trị cá nhân và phẩm giá của chính mình. Khi ông đặt chân đến châu Âu trong một bộ Âu phục, những người da trắng (trong lần đầu tiên tiếp xúc) đã gọi ông là "monsieur" – tức "Quý ngài" – thay vì sử dụng từ "tu" – một từ hay dùng cho trẻ em, như cách mà người Pháp thường gọi dân ở các xứ thuộc địa, bất kể người dân bản xứ ấy được giáo dục như thế nào.

Trong những năm tháng lênh đênh trên biển, ông Hồ đọc rất nhiều, từ Shakespeare, Tolstoy, Marx… đến cả Zola. Theo những lời kể sau này, ông thậm chí còn sống như một người khổ hạnh và có đôi chỗ tương đồng với người theo chủ nghĩa thuần khiết. Khi chứng kiến những người thuộc tầng lớp đáy xã hội bị miệt thị và xúc phạm tại cảng Marseilles, ông đã tự hỏi:

❝Tại sao người Pháp không khai hóa cho chính người dân của họ trước khi giả vờ mang đến văn minh cho chúng ta?❞

Khi Thế chiến thứ Nhất nổ ra, ông Hồ đến sống ở London, nơi ông làm việc như một người xúc tuyết và phụ bếp cho Escoffier, một đầu bếp bậc thầy tại khách sạn Carlton. Người ta nói rằng, Escoffier đã nâng đỡ cho ông một vị trí làm việc tại bếp chính với mong muốn truyền dạy cho Hồ tất cả về nghệ thuật ẩm thực. Tuy nhiên, lúc đó chàng thanh niên Việt Nam 24 tuổi này lại quan tâm nhiều hơn đến chính trị. Ông gia nhập Hiệp hội Người lao động ở nước ngoài, bao gồm chủ yếu là người châu Á, và là thành viên phong trào đòi độc lập của Ireland. [ ⟶ ông cụ máu ghê, đi đâu cũng chiến 😙 ]

Cũng trong thời gian chiến tranh ấy, Hồ đã rời bỏ nhà bếp của Carlton để ra biển và lên đường đến Hoa Kỳ. Ông được cho là đã sống ở khu Harlem một thời gian. Bản thân ông cũng thường nhắc đến chuyến đi Mỹ của mình, dù đôi khi là khá mơ hồ về chi tiết. Theo Phạm Văn Đồng, người cộng sự thân cận của ông, điều khiến ông Hồ ấn tượng nhất ở Hoa Kỳ là "sự man rợ và xấu xa của chủ nghĩa tư bản, băng Ku Klux Klan và sự phân biệt chủng tộc dã man với người da đen".

Khoảng năm 1918, Hồ trở về Pháp và sống trong một căn hộ nhỏ trên đồi Montmartre của Paris, làm nghề chỉnh sửa ảnh dưới cái tên Nguyễn Ái Quốc.

Tại Hội nghị Hòa bình Versailles năm 1919, ông nổi lên như một người phát ngôn tự do cho quê hương mình. Nhận thấy khả năng giành được độc lập của Việt Nam trong đề xuất của Tổng thống Woodrow Wilson về quyền tự quyết của các dân tộc, ông Hồ – trong bộ vest đen đi thuê và mũ quả dưa – đã đến Cung điện Versailles để trình bày yêu cầu của mình. [ ⟶ ngầu ghê! 😲 ]

Dĩ nhiên, bản đề xuất ấy không được chấp nhận, dù Hồ đã vạch sẵn một tiến trình cho Việt Nam. Trong đó, không bao gồm việc độc lập, mà chỉ đề cập đến các quyền tự do cơ bản, bình đẳng giữa giới chức cầm quyền Pháp và người dân bản địa.

Nhưng những gì mà Hồ hy vọng về việc giải phóng Việt Nam khỏi ách cai trị của thực dân Pháp đã bị phá hủy hoàn toàn bởi sự thất bại của Hội nghị Versailles trong việc giải quyết các vấn đề thuộc địa. Vì thế, niềm tin của ông giờ đây được chuyển sang Chủ nghĩa Xã Hội. Thật vậy, bài phát biểu được ghi âm đầu tiên của Hồ là tại một đại hội của đảng Xã hội Pháp vào năm 1920, và đó là một lời kêu gọi không phải cho cách mạng thế giới mà là "chống lại những kẻ đã gây ra nhiều tội ác ghê tởm trên quê hương tôi.". Ông đề nghị đảng có "những hành động thiết thực hơn để hỗ trợ người dân bản xứ bị áp bức."

Như một định mệnh, ngay lập tức sau đó, Hồ trở thành một trong những thành viên sáng lập của Đảng Cộng sản Pháp vì ông cho rằng những người theo chủ nghĩa Xã hội mới chỉ đang quan tâm đến vấn đề thuộc địa, trong khi những người Cộng sản đã sẵn sàng thúc đẩy sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Ông nói với các đại biểu: "Tôi không hiểu gì về chiến lược, chiến thuật và tất cả những từ đao to búa lớn khác mà các bạn sử dụng, nhưng tôi hiểu rõ một điều duy nhất: Quốc tế thứ ba quan tâm rất nhiều đến vấn đề thuộc địa. Các đại biểu của nó cũng hứa sẽ giúp các dân tộc thuộc địa bị áp bức giành lại tự do và độc lập, trong khi những người ủng hộ Đệ nhị Quốc tế thì không nói một lời nào về số phận của các khu vực thuộc địa chúng tôi."

BIÊN TẬP VIÊN BÁO TUẦN

Với quyết định gia nhập vào những người Cộng sản, sự nghiệp của ông Hồ đã có một bước ngoặt rõ rệt. Một mặt, ông trở thành thành viên ưu tú của Đảng Cộng sản Pháp cũng như là biên tập viên của tờ Le Paria (Người Cùng Khổ), tờ báo tuần của Hội liên hiệp Thuộc địa mà ông cùng tham gia thành lập năm 1921. Hội Liên hiệp Thuộc địa là một tổ chức nhiều sắc tộc những người đến từ Algeria, Senegal, Tây Ấn và châu Á đang lưu vong ở Paris, những người đã được thống nhất bởi một chủ nghĩa dân tộc nhiệt thành và đều cam kết chung cho chủ nghĩa cộng sản.

Mặt khác, một Hồ Chí Minh với vẻ ngoài mảnh khảnh đã trở thành một nhà hùng biện. Ông đi khắp nơi ở Pháp để nói chuyện với đám đông binh lính và công nhân chiến trường người Việt đang đợi hồi hương.

Bên cạnh đó, Hồ còn bị hấp dẫn bởi Moscow, nơi có thể gọi là trung tâm đầu não của Chủ nghĩa Cộng Sản thế giới. Ông đến Moscow lần đầu tiên vào năm 1922, nơi ông đã gặp Lenin và trở thành một thành viên của Đệ Tam Quốc Tế khu vực Đông Nam Á. Bằng tất cả nhiệt huyết của mình, ông cất lên tiếng nói, gặp gỡ tất cả những Đảng viên Cộng sản, giúp đỡ thành lập Quốc tế Nông dân (hay còn gọi là Krestintern) cho công cuộc cách mạng giữa các dân tộc thuộc địa.

Sau một thời gian ngắn ở Pháp, Hồ trở lại Moscow, nơi là căn cứ của ông trong nhiều năm sau đó. Ông theo học Trường Đại học Lao động Cộng sản Phương Đông, được đào tạo chính quy về chủ nghĩa Mác và các kỹ thuật kích động, tuyên truyền.

Năm 1925, Hồ được cử đến Quảng Châu với tư cách là thông dịch viên cho Michael Borodin, một trong những lãnh đạo của phái đoàn Liên Xô giúp đỡ Tưởng Giới Thạch – khi đó, Tưởng được Quốc tế Cộng ủng hộ với tư cách là người thừa kế của Tôn Trung Sơn. Trong thời gian này, ông bắt đầu truyền bá tinh thần cách mạng ở Viễn Đông. Hồ tập hợp những người tị nạn Việt Nam, tổ chức thành Đoàn Thanh niên Cách mạng Việt Nam và thành lập Liên đoàn các dân tộc bị áp bức ở châu Á. Tổ chức này nhanh chóng trở thành đảng Cộng sản Nam Hải, tiền thân của các nhóm Cộng sản quốc gia khác nhau, trong đó có đảng Cộng sản Đông Dương của riêng Hồ năm 1930.

Trong hai năm, cho đến tháng 7 năm 1927, khi Tưởng từ chối các đồng minh Cộng sản của mình, Hồ đã gửi những người Việt giỏi nhất đến trường quân sự của Tưởng tại Whampoa trong khi tiến hành một khóa huấn luyện về khả năng kích động chính trị cho các đồng chí của mình.

… [ Còn tiếp ] …

© Ảnh: Chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) tại Hội nghị Hòa bình Versailles (năm 1919)

© Bài của ký giả ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (năm 1969)

© Bản dịch của Hube See Less

Những kẻ dối trá

Dối trá và lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn không có trí óc để trung thực.

BENJAMIN FRANKLIN

Hãy sống như thế!

Hãy uống nước từ dòng suối nơi ngựa uống. Con ngựa sẽ không bao giờ uống nước độc.

Hãy đặt giường nằm nơi con chó ngủ.

Ăn trái cây đã có sâu vào.

Hãy chọn cây nấm mà côn trùng đặt chân.

Trồng cây nơi chuột chũi đào.

Xây ngôi nhà của bạn, nơi con rắn nằm sưởi ấm.

Đào giếng nơi những con chim trốn cái nóng.

Đi ngủ và thức dậy cùng lúc với những con chim - bạn sẽ gặt hái tất cả những ngày vàng.

Ăn nhiều màu xanh lá cây - bạn sẽ có đôi chân mạnh mẽ và một trái tim bền bỉ, giống như những sinh vật trong rừng.

Bơi thường xuyên và bạn sẽ cảm thấy mình ở trên trái đất này giống như những con cá trong nước.

Hãy nhìn lên bầu trời thường xuyên nhất có thể và suy nghĩ của bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng và rõ ràng.

Hãy im lặng thật nhiều, nói ít - và sự im lặng sẽ đến trong tim bạn, và tinh thần của bạn sẽ an tĩnh và tràn đầy bình yên.

Thánh Seraphim của Sarov

"Hãy uống nước từ dòng suối nơi ngựa uống

Con ngựa chẳng bao giờ uống nước xấu đâu

Hãy đặt giường nơi chú mèo nằm ngủ

Ăn trái cây có dấu vết của chú sâu

Hãy chọn nấm có côn trùng đậu lại

Hãy trồng cây nơi chuột chũi dũi đất lên

Xây nhà bạn nơi rắn nằm sưởi ấm

Đào giếng nơi loài chim tránh nắng rền

Đi ngủ và thức giấc cùng lũ chim - bạn gặt hái những ngày vàng thóc lúa

Ăn nhiều màu xanh - bạn có đôi chân và trái tim khỏe như những sinh vật rừng sâu

Bơi thường xuyên, bạn sẽ thấy mình sống trên trái đất như cá trong làn nước,

Ngắm bầu trời luôn khi có thể, suy nghĩ bạn sẽ nhẹ bẫng và trong suốt

Hãy im lặng nhiều, nói thật ít - sự tĩnh lặng sẽ đến trong tim, tâm hồn bạn an tĩnh và tràn đầy bình yên."

(Bản dịch của Nguyễn Quỳnh Mai) 


“Drink water from the spring where horses drink. The horse will never drink bad water.

Lay your bed where the cat sleeps.

Eat the fruit that has been touched by a worm.

Boldly pick the mushroom on which the insects sit.

Plant the tree where the mole digs.

Build your house where the snake sits to warm itself.

Dig your fountain where the birds hide from heat.

Go to sleep and wake up at the same time with the birds – you will reap all of the days golden grains.

Eat more green – you will have strong legs and a resistant heart, like the beings of the forest.

Swim often and you will feel on earth like the fish in the water.

Look at the sky as often as possible and your thoughts will become light and clear.

Be quiet a lot, speak little – and silence will come in your heart, and your spirit will be calm and full of peace.”

Saint Seraphim of Sarov

Monday, September 21, 2020

Ký ức/Emlékezet: Từ ấy trong tôi... vang mãi âm thanh mê ly của 1 giọng hát Hung

 

Zsuzsa Koncz (Hungarian: Koncz Zsuzsa, born 7 March 1946, Pély) is a Hungarian pop singer, whose lyrics (mostly written by János Bródy) were sometimes highly critical of the country's pre-1990 political system.

Her career started after her performance in the Ki mit tud? talent show of 1962. She has been performing with various bands and musicians over the years, most notably Illés and János Bródy. In the 1970s, she made several successful tours abroad, mainly in Eastern Bloc countries as well as in West Germany (sometimes under the names Shusha Koncz and Jana Koncz in German-speaking countries), but also in France, the US, and Japan. She remains extremely popular in Hungary, with some of her songs now part of Hungarian folklore, among them: 'A Kárpáthyék lánya', 'Ha én rózsa volnék', and 'Valahol egy lány'. (Wikipedia)

Koncz Zsuzsa a magyar zenei világ egyik állócsillaga, évtizedek óta az egyik leghíresebb énekesnőnk, aki még mindig telt házas Aréna-koncertet ad - legutóbb 2019 márciusában. Rengeteg ismert és civil rajongója áradozott arról, hogy fiatalokat megszégyenítő energiával szenzációs, kétórás koncertet adott.  

Trích đăng từ bài Koncz Zsuzsa 73 évesen is gyönyörű - Advent első vasárnapján így köszöntötte rajongóit (FEMINA)

Ảnh: Reader's Digest

Tính cách và đường lối cm (1)

The X-File of History: Đây là một tài liệu hiếm rất thú vị do một ký giả người Mỹ viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, được đăng trên một trong những tờ báo quan trọng, uy tín nhất lịch sử nước Mỹ — tờ New York Times. Và sở dĩ nó đặc biệt là bởi lẽ bài báo được đăng ngay sau khi Bác qua đời (ngày 04 tháng 9 năm 1969), trong thời điểm cuộc chiến tranh đang diễn ra khốc liệt nhất. Bài viết có tựa đề: HỒ CHÍ MINH: NGƯỜI ĐÃ THÀNH CÔNG TRONG VIỆC HÒA NHẬP CHỦ NGHĨA DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

— Kỳ 1 —

Trong các nhà lãnh đạo của thế kỷ 20, Chủ tịch Hồ Chí Minh gây được sự chú ý hơn cả về tính nhẫn nại và kiên trì. Chính ông là người đã dành trọn cuộc đời để theo đuổi mục tiêu giành độc lập cho Việt Nam và đã thành công trong việc hòa nhập chủ nghĩa cộng sản với chủ nghĩa dân tộc.

Từ thuở thiếu thời, ông Hồ đã luôn đi tìm sự đồng thuận cho con đường tự do của Việt Nam thoát khỏi chế độ thuộc địa của Pháp. Ông kiên trì qua nhiều năm dù cơ hội đạt được mục tiêu ấy có vẻ như thấp đến mức vô lý. Cuối cùng, với thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ vào năm 1954, Hồ Chí Minh đã thành công trong việc theo đuổi lý tưởng của mình. Không những vậy, Điện Biên Phủ còn đánh dấu một kì tích của chiến thuật du kích, sau 9 năm kể khi ông Hồ được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Sau sự phân chia tạm thời tại vĩ tuyến 17 bởi Hiệp định Geneva năm 1954 cũng như sự cứng rắn hơn bao giờ hết khi Hoa Kỳ dành sự ủng hộ cho Ngô Đình Diệm ở miền Nam, ông Hồ đã lãnh đạo các đồng chí của mình ở miền Bắc chống lại những cuộc tấn công của quân đội Mỹ. Trong cuộc chiến này, thủ đô Hà Nội cùng các tỉnh lân cận đã liên tục bị máy bay Mỹ ném bom.

Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh cũng chính là nguồn cảm hứng cho Mặt trận Giải phóng Dân tộc, hay còn gọi là Việt Cộng, trong các hoạt động ở miền Nam. Đây là cuộc xung đột lâu dài, đẫm máu và tốn kém chống lại chế độ Sài Gòn và các đồng minh của Mỹ.

Tại cuộc chiến mà Hoa Kỳ ngày càng trở nên sa lầy, đặc biệt là sau năm 1964, ông Hồ đã khéo léo duy trì một sự cân bằng tinh tế trong mối quan hệ của mình với Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Những nước cộng sản với cùng hệ tư tưởng này đã sẵn sàng trở thành những hậu phương cung cấp thực phẩm và hàng hóa chiến lược cho ông Hồ. Đó là thước đo về khả năng ngoại giao tài tình của ông Cụ khi tạo được các điều khoản hữu hảo với tất cả các bên.

NHỎ NGƯỜI VÀ MẢNH KHẢNH

Không chỉ đối với 19 triệu người ở phía Bắc vĩ tuyến 17, mà còn với hàng triệu người khác thì hình dáng Hồ Chí Minh hiện lên với vẻ ngoài nhỏ nhắn, mảnh khảnh, làn da ngăm đen cùng với khuôn mặt khắc khổ, chòm râu phất phơ dưới cằm, gò má trũng sâu và một đôi mắt ngời sáng. Trông ông giống như một tộc trưởng, một George Washington của quốc gia mình. Mặc dù tên của ông không gắn liền với bất cứ quảng trường công cộng, các tòa nhà, nhà máy, sân bay hay đài kỷ niệm nào, nhưng sức hút của ông Cụ cũng như tình cảm mà người dân dành cho ông là điều không phải nghi ngờ.

Ông được mọi người gọi là "Bác Hồ", một cái tên được sử dụng trong báo chí Bắc Việt thời đấy. Trong thời gian cuộc chiến chưa leo thang như thời gian sau này khiến ông bị giới hạn bởi các vấn đề về an toàn và nhiệm vụ chỉ huy, ông Cụ thường xuyên đến thăm các làng mạc và thị trấn. Theo một cách giản dị, ông đặc biệt thích ghé thăm trường học và trò chuyện với lũ trẻ. Những người phương Tây biết ông đều bị thuyết phục rằng, dù cho bất kể những mưu kế, chiến lược của Hồ Chí Minh trong các vấn đề chính trị có lớn đến đâu, thì ông luôn là người gần gũi giản dị khi bày tỏ cảm xúc của mình đối với những người dân bình thường.

Quả thực, sự nổi tiếng cá nhân của ông Hồ là như vậy và nó thường được thừa nhận, thậm chí bởi nhiều kẻ thù chính trị của mình, rằng Việt Nam sẽ được thống nhất dưới sự lãnh đạo của ông nếu có cuộc bầu cử toàn quốc như cam kết tại Geneva. Vì vậy, các vùng lãnh thổ của miền Nam Việt Nam đã được Mặt trận Giải phóng Dân tộc kiểm soát hiệu quả bất chấp sự hiện diện của hàng trăm ngàn lính Mỹ.

Thông minh, tháo vát và tận tụy, dù đôi khi là vô tình, ông Hồ đã tạo ấn tượng tốt đối với nhiều người có cơ hội tiếp xúc với mình. Một trong số đó là Harry Ashmore thuộc Trung tâm Nghiên cứu về các thể chế Dân chủ và là cựu biên tập viên của báo Arkansas Gazette.

Harry Ashmore và William C. Baggs — biên tập viên của tờ Miami News — là một trong số những người Mỹ cuối cùng đã có dịp tiếp xúc với ông Hồ khi họ đến thăm Hà Nội vào đầu năm 1967.

"Hồ Chí Minh là một người đàn ông lịch sự, nhã nhặn, tinh tế một cách nhẹ nhàng và không có tính cách cay độc." — Ashmore nhớ lại trong một cuộc phỏng vấn gần đây. Tại buổi gặp mặt, ông Hồ đã mặc bộ đồ trắng cao cổ đặc trưng của mình, được gọi là cu-nao (đây là từ giữ nguyên theo cách diễn đạt của tác giả. Cá nhân chúng tôi nghĩ nó có nghĩa là "áo gụ"), và đôi dép cao su hở mũi. Ông hút nhiều, loại thuốc lá Salems do Mỹ sản xuất.

THÀNH THẠO TIẾNG ANH

Cuộc trò chuyện kéo dài hàng giờ của họ bắt đầu bằng tiếng Việt với một thông dịch viên nhưng nhanh chóng chuyển sang tiếng Anh. Ashmore đã rất ngạc nhiên bởi sự thông thạo tiếng Anh của ông Hồ, và càng ngạc nhiên hơn nữa khi biết đó chỉ là một trong nhiều ngôn ngữ (Trung Quốc, Pháp, Đức, Nga...) mà ông có thể sử dụng thành thục.

Trong một khoảnh khắc, Hồ Chí Minh đã gợi cho Ashmore và Baggs nhớ lại rằng ông từng ở Hoa Kỳ. "Tôi nghĩ rằng tôi hiểu người Mỹ" — ông nói. "Và tôi không hiểu làm thế nào họ có thể tham gia trong cuộc chiến này. Liệu Nữ thần Tự do có đứng trên đầu nàng ấy không?"

Đây là một câu hỏi tu từ mà ông Hồ cũng đặt ra cho những người Mỹ khác trong nỗ lực chỉ ra những gì trong tâm trí họ là một sự mâu thuẫn: một dân tộc thuộc địa đã giành được độc lập cho mình bằng đấu tranh cách mạng lại đi đàn áp một dân tộc thuộc địa khác để ngăn chặn họ mưu cầu độc lập.

Kiến thức của ông Hồ về lịch sử nước Mỹ rất sắc sảo, và ông đã tận dụng nó vào mùa Hè năm 1945 khi viết bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ông nhớ lại nội dung Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ, nhưng không phải theo kiểu chính xác từng từ. Trong một nhiệm vụ quân sự cùng với người Mỹ (ở đây, có lẽ ý tác giả là thời điểm Việt Minh cộng tác với nhóm OSS của tình báo Hoa Kỳ thời điểm trước 1945), Hồ Chí Minh đã cố gắng hỏi xin một bản sao của bản Tuyên ngôn độc lập nước Mỹ. Và khi không ai có thể cung cấp nó, ông đã nhờ các quân nhân diễn giải nó theo hồi ức của họ.

Vì vậy, bản tuyên ngôn của ông bắt đầu bằng: "Mọi người đều được sinh ra bình đẳng. Họ được ban tặng bởi Đấng Tạo Hóa những quyền không thể thay đổi được; trong đó có quyền Sống, Tự do và mưu cầu Hạnh phúc." Sau khi giải thích rằng điều này có nghĩa là "tất cả các dân tộc trên trái đất đều bình đẳng từ khi sinh ra, tất cả mọi người đều có quyền sống, được tự do và hạnh phúc", ông Hồ tiếp tục diễn đạt bằng cách của mình, thể hiện những nguyện của người dân Việt Nam và tuyên bố độc lập.

GẦN GŨI VÀ THÂN THIỆN

Ngoài người Mỹ, ông Hồ đã thổi bùng lên "ngọn lửa" với nhiều người khác đã tiếp xúc với ông qua nhiều năm.

"Đặc biệt đáng yêu và thân thiện" là mô tả của lãnh đạo Ấn Độ Jawaharlal Nehru.

Paul Mus, nhà nghiên cứu phương Đông người Pháp, đã tiến hành nhiều cuộc nói chuyện với ông Hồ vào năm 1946 và 1947, đã tìm thấy ông là "một nhà cách mạng vô biên và không thể tha hoá, một vị thánh."

Một chỉ huy hải quân Pháp đã quan sát một hành khách Việt Nam mảnh khảnh trên tàu trong 3 tuần, đã kết luận rằng ông Hồ là "một người đàn ông thông minh và quyến rũ, cũng là một người duy tâm, hoàn toàn cống hiến tất cả cho lý tưởng mà ông ta đã lựa chọn" và một người có "đức tin ngây thơ trong các khẩu hiệu chính trị xã hội đang được in nhan nhản trên mọi ấn phẩm của thời đại chúng ta."

Hồ Chí Minh là một người Cộng sản rất thực dụng, một người ưa làm hơn là lý luận. Các phát biểu và bài viết của ông đã được tổng hợp trong bốn cuốn "Những tác phẩm được chọn của Hồ Chí Minh" được phát hành tại Hà Nội từ năm 1960 đến năm 1962.

Bernard B. Fall — một tác giả người Mỹ sống ở Việt Nam — đã xuất bản tuyển tập này dưới tiêu đề "Con đường cách mạng Hồ Chí Minh". Chúng là những tài liệu được diễn đạt hết sức đơn giản và rõ ràng, hầu hết đều có tính chính trị và gần như không thể bổ sung vào nội dung của học thuyết Mác-xít.

Giống như Mao Trạch Đông, một nhà lãnh đạo cộng sản khác, ông Hồ cũng sáng tác thơ và một số được xem là khá ảnh hưởng. Một trong những bài thơ của ông, được viết khi ông là tù nhân của những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc vào năm 1942-43, được gọi là "Thu Dạ":

Trước cửa lính gác bồng súng đứng,

Trên trời đám mây tàn bay bên vầng trǎng;

Lũ rệp bò ngổn ngang như xe tǎng,

Đàn muỗi lúc tụ lúc tán như máy bay;

Lòng nhớ cố quốc cách xa nghìn trùng,

Giấc mộng vấn vương mối sầu mới như vạn mối tơ;

Vô tội mà ở tù đã một nǎm nay,

Già này hoà nước mắt viết thơ tù.

Trước cửa lính canh bồng súng đứng,

Trên trời trǎng lướt giữa làn mây;

Rệp bò ngang dọc như xe cóc,

Muỗi lượn hung hǎng tựa máy bay;

Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,

Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay;

ở tù nǎm trọn thân vô tội,

Hoà lệ thành thơ tả nỗi này.

(Người dịch đã lấy bản gốc thay vì bản dịch tiếng Anh của tác giả bài báo)

Sự nổi lên của ông Hồ không phải là một câu chuyện được viết đầy đủ. Ngược lại, chi tiết của nó tại một số điểm quan trọng là không thể xác thực. Điều này dẫn đến việc tình báo Pháp đã đưa ra một giả thuyết có đến hai Hồ Chí Minh sau khi so sánh hình ảnh trước và sau của ông Hồ.

Một lý do đáng tin cậy giải thích cho nghi ngờ đó là bởi ông Hồ sử dụng khoảng một chục bí danh khi hoạt động, mà trong đó Hồ Chí Minh chỉ là một. Giải thích khác là sự bí ẩn của ông Hồ khi tiết lộ thông tin tiểu sử của mình. "Anh biết đấy, tôi là một ông già, và một ông già thì thích giữ bí mật của mình," — Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với ông Fall. Bằng ánh mắt thích thú, ông tiếp tục, "Chờ cho đến khi tôi chết. Sau đó, anh có thể viết về tôi như tất cả những gì anh muốn". Tuy nhiên, Fall đã thuật lại rằng, trước khi rời Hà Nội, ôngđã nhận được một bản tóm lược ngắn gọn không dấu diếm về cuộc đời của ông Hồ, "rõ ràng là được gửi theo lời dặn của "ông già" ấy".

Mặc dù có sự minh bạch (tuy giới hạn) của ông Hồ, nhưng Fall thực sự đã có một mối liên hệ mật thiết với nhà lãnh đạo Việt Nam. Fall nhớ lại ông đã cho nhà lãnh đạo Việt Nam xem một bản vẽ tay chân dung Hồ Chí Minh, được vẽ bởi vợ mình. "Oh, tuyệt quá. Trông rất giống tôi", ông Cụ vui vẻ. Sau đó, ông lấy một bó hoa đưa cho và bảo: "Hãy tặng bó hoa này cho cô ấy, nói với cô ấy bức vẽ rất đẹp và hôn lên hai má cô giúp tôi."

Mặc dù có một số điều không chắc chắn về ngày sinh của ông, nhưng bằng chứng đáng tin cậy nhất cho thấy ông sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 tại Kim Liên, một ngôi làng ở tỉnh Nghệ An thuộc miền Trung Việt Nam. Nhiều nguồn cho biết tên thật của ông như Nguyễn Ái Quốc (tức người yêu nước họ Nguyễn). Tuy nhiên, Wilfred Burchett, một phóng viên sinh ra ở Úc, người hiểu rõ ông Hồ, tin rằng (và hiện giờ nó được chấp nhận) rằng tên khai sinh của ông là Nguyễn Tất Thành.

Ông được cho là con út trong số ba người con trong gia đình. Cha của ông chỉ khá giả hơn một chút so với nông dân trồng lúa trong vùng, nhưng rõ ràng ông là một người quyết tâm, vì ông đã đậu các kỳ thi và có một công việc trong chính quyền phong kiến ngay khi Pháp cai trị.

Là một người theo chủ nghĩa dân tộc, cha của ông Hồ đã từ chối học tiếng Pháp, ngôn ngữ của những kẻ chinh phục đất nước mình, và gia nhập các hội bí mật chống Pháp. Thuở thiếu thời, chú bé Hồ đã có kinh nghiệm ngầm đầu tiên trong vai trò người đưa tin của cha mình trong mạng lưới chống Pháp. Ngay sau đó, cha ông mất việc và trở thành một thầy lang, chuyên chữa bệnh theo cách truyền thống của phương Đông.

Mẹ của ông Hồ được cho là có nguồn gốc nông dân, nhưng ông không bao giờ nói về bà.

… [ Còn tiếp ] …

© Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp đón đoàn nhân sĩ, trí thức người Mỹ (năm 1967)

© Bài của ký giả ALDEN WHITMAN, đăng trên New York Times (năm 1969)

© Bản dịch của Hube See Less

Thế giới trong ĐDVH: Cắt & Giảm

 bão cắt nhân sự đến

Đây chỉ là một danh sách lúc nầy. Và các cty còn giảm nữa

phi công, kỷ sư, vv sẽ chạy xe ôm

———-

1- Hãng Hàng Không Lufthansa sa thải 22 ngàn nhân viên.

2- Raytheon chuyen làm Vũ Khí cắt 15 ngàn

3- Guggenheim cắt 5 ngàn 

4- Kohl cắt 7,500 nhân viên

5- Dell Computer cắt 2 ngàn

6- Citi Bank cắt 5 ngàn

7- United Hàng Không cắt 16,500 nhân viên

8- Ford Motor cắt 1,500 

9- MGM Resort cắt 18,000 ngan

10- Coca Cola cắt 4 ngàn

11- Saleforse cắt 1,000

12- American airline cắt 19 ngàn

13- Delta Airline cắt cắt 2 ngàn Phi công.

14- Boeing cắt 18 ngàn nhân viên

15- Warner Media làm phim cắt 600

16- AT&T cắt 4,000 nhân viên

17- NBC Universal cắt 4,000

18- Spirit Airline cắt 2,000

19- LBrand gồm Victoria Secret & Bath Body cắt 900 nhân viên.

20- Creative artist cắt 275 nhân viên

21- Oilfield cắt 21 ngàn nhân viên

22- Hãng Mercedes Motor cắt 20 ngàn

23- Men warehouse cắt 20% và chuẩn bị khai phả sản.

24- Linkedln cắt 1000

25- Southwest Airline cắt 25 ngàn 

26- American airline cắt 25 ngàn

27- JC Penny cắt 1,000 và chuẩn bị phá sản.

28- PVH Calvin Klein and Tommy Hilfiger đóng 162 cửa hàng và cắt 500 nhân viên

29- Ngân Hàng Welfargo cắt 20 ngàn

30- Walgreen cắt 4,000

31- Levi's cắt 700

32- Macy's cắt 3,900

33- HSBC Bank cây 35,000 nhân viên.

34- Khách sạn Hilton cắt 2,100 nhân viên

35- Chevron cắt 5,000 nhân viên

36- IBM cắt 3,700 nhân viên

37- Uber cắt 2,000 nhân viên

38- Airbnb cắt 2,000 nhân viên

38- Virgin Atlantic cắt 3,150 nhân viên

39- Lyft cắt 1,000 nhân viên

40- TripAdvisor cắt 900 nhân viên

41- Hert cắt 10,000 nhân viên và khai phá sản

42- Walt Disney World cắt và giảm giờ 43 ngàn nhân viên.

43- Telsa cắt 4,800 nhân viên không cần thiết

44- Under Armor cắt 6,700 nhân viên

45- Classpass cắt 700

46- Famed Auction cat 200

47- Sephora cắt 3,000

48- Bird Scooter cat 300

49- Everlane 268 nhân viên

50- ZipRecuiter 500 nhân viên

51- Sonder cắt 400

52- GE cắt 2,500 nhân viên bên Hàng Không.

53- Trump's Properties cắt 200 nhân viên

54- Air Canada 5,100 nhân viên

55- Cirque Xiếc Ảo Thuật  cắt 4,670 và khai phá sản.

56- Marriot Hotel toàn bộ nhân viên giảm 50% tiền lương để tránh sa thải.

57- Scandinavian Air cắt 10,000 nhân viên

vv

Nguyễn Quang Quý

Sunday, September 20, 2020

Độc Lập & Tự Do

 Ko có Độc Lập thì ko thể có Tự Do. Nếu ko có Tự Do thì chẳng có gì nghĩa lý cả!

Về công ơn và lương hưu trong chế độ hiện nay

 PHẢI CHĂNG HỌ ĂN CHÁO ĐÁ BÁT

Một số nhà trí thức phản biện, trong đó có tôi, bị một số DLV và bồi bút của tuyên giáo vu cho tội ăn cháo đá bát. Họ lập luận rằng trong khi nhiều bạn bè đi chiến đấu, một số hy sinh hoặc bị thương  thì  chúng tôi được Đảng cho ăn học, ra nước ngoài làm nghiên cứu để trở thành tiến sĩ, giáo sư. Thế mà không biết công ơn, lại nói xấu, phê phán Đảng, chống lại Chủ nghĩa Mác Lê.

Xin kể câu chuyện giữa ba người bạn, vào năm 1988, đã đối thoại về vần đề vừa nêu 

Tôi, Nguyễn Trọng Thao và  Văn Phó là bạn học cùng lớp thời Đại học Bách khoa  (1956-1960), cùng đi làm nghiên cứu sinh và nhận bằng tiến sĩ ở Liên Xô, cùng đi làm chuyên gia ở Châu Phi (1986-1989) tại một nơi, cùng là đảng viên , sinh hoạt trong cùng một chi bộ mà Văn Phó là bí thư. Một hôm họp chi bộ, Trọng Thao có ý kiến cho rằng Đảng có một số sai lầm trong lãnh đạo. Hằng ngày, giữa chốn bạn bè Thao cũng hay bộc trực phê phàn Mác Lênin và đường lối cộng sản. Sau cuộc họp Văn Phó nói với Thao và tôi ở lại để trao đổi giữa các đồng chí, vừa là bạn bè.

Văn Phó nói rằng đồng chí Thao đã có những nhận thức sai lầm. Liệu không có Đảng, không có cách mạng thì chúng ta suốt đời cầm cày đi sau con trâu chứ làm sao được như ngày nay, nghĩa là được học đại học, được có học vị tiến sĩ, được đi làm chuyên gia, thế mà đồng chí Thao đã không biết ơn, lại đi nói xấu Đảng và chủ nghĩa Mác Lê.. 

Văn Phó còn nói nhiều nữa với tư cách bí thư thuyết phục đảng viên. Để Văn Phó nói xong, Thao mới lên tiếng : 

Thao nói chậm rãi nhưng chắc nịch, với một tự tin lớn : Phó ạ, điều Phó nói có thể đúng cho đồng chí và một số người khác chứ không đúng cho Thao này và có lẽ cũng không đúng cho cả Nguyễn Đình Cống ngồi đây và rất  nhiều, rất nhiều bạn khác. Nhà Thao tuy không giàu có, chỉ thuộc loại trung nông, nhưng bố Thao biết con mình là đứa thông minh, có ý chí nên đã khuyến khích và chịu nhiều vất vả để nuôi Thao học hành. Đúng là ở đại học Thao được cấp học bổng từ nguồn ngân sách (chứ chẳng phải của đảng), và đó là trách nhiệm của Nhà nước trong việc đào tạo nguồn lực. Việc Thao học đại học trước hết là nhờ bản thân có năng lực, kế đến nhờ bố mẹ rồi sau mới nhờ Nhà nước tạo điều kiện. Nếu không có cách mạng thì người như Thao cũng không chịu sống kiếp ngựa trâu. Dưới thời đô hộ của Pháp nhiều người phải sống lầm than, bị bóc lột, chịu áp bức. Vì sao vậy?. Chủ yếu là họ kém trí tuệ và thiếu bản lĩnh. Thiếu tư liệu sản xuất chỉ là nguyên nhân phụ. Bên cạnh họ có những người nhờ tài năng, nhờ nghị lực cá nhân mà trở thành nhà kinh doanh, nhà trí thức, được du học và trở thành nhà khoa học. Nếu nói nhờ cach mạng mới được học hành thành tài thì hỏi những người như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Xiển, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước, Tôn Thất Tùng, Hoàng Xuân Hãn, Trịnh Xuân Thuận và hàng ngàn, hang vạn trí thức người Việt ở khắp nơi trên thế giói không nhờ cách mạng, không nhở cộng sản mà vẫn học hành thành tài, là vì sao. Đúng là có một số con em bần cố nông nhờ có cách mạng nên mới được học. Nhưng họ có được thành tài không thì còn phải nhờ vào nhiều thứ khác quan trọng hơn, trước hết là trí tuệ và bản lĩnh của họ. Nếu nói nhờ cách mạng thì tầng lớp cầm quyền lợi dụng được nhiều nhất, trong nhân dân thì tầng lớp vô sản mang tiếng là được  hưởng lợi hơn, nhưng thực chất vẫn nghèo đói. Trở nên giàu có lại là bọn liên kết với quyền lực để tham nhũng, để cướp đoạt. Còn việc đi làm nghiên cứu ở Liên xô, đồng chí Phó có nhớ trước khi đi chúng ta được căn dặn thế nào không. Chúng ta được nghe giảng rằng đi làm nghiên cứu là  nhiệm vụ mà Nhà nước tin và giao cho chúng ta để đào tạo thành những người kiến thiết đất nước. Nếu mọi người đều đi đánh nhau cả thì khi đánh nhau xong ai sẽ làm công việc kiến thiết. Vì vậy đi học, làm nghiên cứu cũng là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng.  Đó không phải là một ưu đãi đặc biệt gì cho cá nhân. Chúng ta được đào tạo và chúng ta đã làm việc chứ có phải ngồi chơi đâu. Chúng ta làm việc và được trả lương chứ có phải được ưu đãi gì đâu. Phải chăng công sức của các trí thức trong việc xây dựng đất nước là không đáng kể. Còn việc đi làm chuyên gia như chúng ta hiện nay cũng là đi làm nghĩa vụ. Nước bạn trả cho chúng ta lương tháng từ 1200 đến 1500 đô la. Thế mà Bộ tài chính cử người sang các Sứ quán thu lại phần lớn, chỉ cho chúng ta hưởng khoảng 300 đô la mỗi tháng. Nếu xem khoản chúng ta đóng góp cho Nhà nước là đóng thuế thì mỗi năm chúng ta đồng thuế khoảng trên 10 ngàn đô. Thế thì ai phải cám ơn ai ?

Còn việc mà đồng chi cho là tôi nói xấu, phê phàn Đảng. Tôi chỉ phản biện những cái sai chứ tôi không nói xấu. Mà lãnh đạo Đảng nhiều lần kêu gọi đảng viên và quần chúng chỉ ra cho thấy những thiếu sót, những sai lầm kia mà. 

Văn Phó ngồi nghe , trong thâm tâm chắc biết Thao nói đúng nên không phản bác lại được câu nào, chi nói ấp úng : Điều đồng chí Thao nói là do suy nghĩ cá nhân, đúng sai đến đâu cần thảo luận. Chỉ cần nhắc rằng chúng ta là đảng viên, cần thực hành nghiêm kỷ luật đảng, đặc biệt là 19 điều cấm. 

Biết rằng không thể tranh luận với Thao, bày ra việc này có lẽ Phó chỉ đề phòng khi bj cấp trên hỏi đến vai trò của bí thư khi trong chi bộ có người dám nói như Thao. Hồi còn học với nhau, Phó tự biết mình chỉ là một sinh viên bình thường, một đoàn viên biết nhất nhất vâng lời các đảng viên để tu dưỡng, để phấn đấu vào đảng, còn Thao là một trong số các sinh viên xuất sắc. Tự biết không giáo dục được Thao, Văn Phó quay sang tôi, mong tìm sự ủng hộ. 

Phó hỏi tôi : anh Cống thấy thế nào về ý kiến của tôi và của anh Thao. 

Đoán rằng Phó có hy vọng tôi sẽ có phần nào đó ủng hộ anh. Chẳng là tôi vừa mới được kết nạp, phải tỏ ra bênh vực bí thư chi bộ.

Văn Phó hoàn toàn không ngờ khi tôi nói : Tôi hoàn toàn nhất trí và ủng hộ ý kiến của anh Thao. Chúng ta là những trí thức, cần có suy nghĩ độc lập và tự do tư tưởng, cần dũng cảm bảo vệ điều mà mình cho là đúng, phản biện những điều mình cho là không phù hợp với quy luật. 

Ngoài câu chuyện trên tôi còn muốn đề cập đến ý kiến của một số người về lương hưu.. Họ tưởng nhầm răng lương hưu là  của Đảng cho, là ân huệ ủa Đảng, phải ghi nhận công ơn ấy.

Đó là một nhận thức sai lầm nghiêm trọng. Chẳng có lương hưu nào của Đảng cả. Lương hưu là một phần trả công cho người lao động, được bảo hiểm xã hội thu giữ và chi dần. Đảng, Nhà nước chẳng có quyền hạn và trách nhiệm gì trong chuyện này (Riêng Nhà nước có thể ra luật về Bảo hiểm xã hội). Việc trả lương hưu thì tất cả các nước, mọi chế độ đều thực hiện. Không biết bọn người cho rằng lương hưu là ân huệ của Đảng, của Nhà nước có trí tuệ thấp kém đến bực nào.

Nguyễn Đình Cống

 ĐÀN ÔNG 

- Sư phụ, đàn ông có hái được sao trên trời cho người phụ nữ mình yêu?

- Hái được.

- Đàn ông có lặn xuống biển mò được ngọc trai cho người phụ nữ mình yêu?

- Lặn được

- Đàn ông có làm được thơ hay cho người phụ nữ mình yêu không?

- Làm được.

- Sao chồng con không làm gì cho con cả?

- Ta bận chút việc, ngày mai sẽ trả lời con.

Từ đấy sư phụ không còn xuống núi nữa.

Ngô Mạnh Hùng

Saturday, September 19, 2020

Chuyện của chủ tịch Chung

 Nguyễn Quang A: BẮT PHONG CHÓ?

Tổng Trọng ơi,
Đại tá Phong, nhà báo nhận kiếp chó, cựu cảnh sát tư tưởng của ông đưa thông tin VẠCH TRẦN âm mưu tấn công Đồng Tâm đây này! Nếu thông tin này là GIẢ thì các vị hẳn phải bắt Nguyễn Như Phong cho nên cứ xem Phong có bị bắt hay không là có thể tin hay không tin thêm một chút BÍ MẬT ĐỘNG TRỜI NÀY. Mà đừng có hoắng lên, tin mà là thật thì càng phải bắt Phong chó vì tội để LỘ bí mật của ĐCSVN. Từ nay đến Đại hội 13 của ĐCSVN còn lắm trò vui, cứ diễn đi.
-----------

-Kế hoạch đó, trong cuộc họp duyệt ngày 7 tháng 1, em không đồng ý. Quan điểm của em là dân Đồng Tâm không phải là kẻ địch. Và mang quân tấn công vào làng là cực kỳ nguy hiểm, không đúng với quan điểm, chủ trương xử lý điểm nóng của Đảng...Em còn cẩn thận ghi vào góc bản kế hoạch là "Tôi không đồng ý với kế hoạch này...".
-Chỉ với lời thú nhận này thôi, ông Chung đã giáng 1 cát tát, làm lật mặt toàn bộ ban Lãnh đạo CS Việt nam. Tất cả những luận điểm đê hèn, xảo trá và mang tính chất “gắp lửa bỏ tay người” của họ trong vụ thảm sát Đồng tâm, phút chốc, đã sụp đổ tan tành. Từ nay, khi ra ngoài đường, chắc ông Tổng phải luôn mang theo chiếc quạt mo, để tiện che mặt.
-Chống lại chính sách ăn cướp đất đai của Đảng, dân Đồng tâm đã bị đàn áp dã man, để làm gương cho dân chúng cả nước.
-Còn chống lại chủ trương “coi dân là kẻ địch” của Đảng, đó mới là lí do chính, khiến ông Chung phải bị “nhập kho”, để làm gương cho những ai muốn “tự diễn biến, tự chuyển hóa” và ai mà biết, sau khi được tại ngoại, ông ta sẽ tiếp tục công bố thêm những chuyện động trời gì? “Cẩn tắc, vô áy náy”. Dự rằng, ông Tổng sẽ “bảo vệ” Đức Chung bằng kĩ. Khi nào, “trạch đẻ ngọn đa”, sẽ cho tại ngoại.
           HAI SỰ THẬT VỀ NGUYỄN ĐỨC CHUNG. 
Thú thật là tôi cũng định im vì sợ phạm quy định " tiết lộ bí mật sức khỏe"... Nhưng nay báo chí đã nói, và luật sư cũng đã công bố, nên muốn nói kỹ hơn cho mọi người hiểu.
Sự thật thứ nhất là : Nguyên Đức Chung bị ung thư trực tràng. Giữa năm 2016, sau khi đi Pháp xử lý cắt đoạn trực tràng bị " ung thư giai đoạn đầu" về, chính Chung khoe với tôi: " May mà em phát hiện ra sớm. Bác sĩ khuyên cắt... thế là em cắt béng. Nhưng bây giờ phải sống chung với thuốc, ít nhất là 5 năm...". 
Sau này, thấy Chung vẫn một tuần đi chơi tennit một buổi, rượu uống rất ít, và vẫn làm việc quần quật thì tôi tin sức khỏe của Chung đã ổn. Hôm trước khi Chung bị bắt, lúc gặp nhau, tôi có hỏi chuyện căn bệnh ung thư. Chung có bảo:" bây giờ thì tạm ổn. Nhưng không đủ thuốc là không được..."
Nghe nói từ khi Chung vào trại giam, được kiểm tra sức khỏe và điều kiện nơi giam giữ đảm bảo. Tuy nhiên, việc đưa thuốc vào là rất khó khăn, bởi lẽ : Ai dám đảm bảo độ an toàn của thuốc...Việc đưa thuốc vào trại cho người bị giam giữ là phải có đơn của bác sĩ đủ thẩm quyền, và các loại thuốc đưa vào phải được kiểm tra, giám định.
Sự thật  thứ hai là : Trong vụ tấn công vào Đồng Tâm, chính Nguyễn Đức Chung là người không đồng ý với kế hoạch của CA HN.
Sở dĩ tôi dám khẳng định điều này là vì  ngay sau khi có chuyện ba cán bộ CA hy sinh, tôi có gọi điện hỏi Chung : Tại sao lại để anh em hy sinh thế? Chung nói ngay: Kế hoạch đó, trong cuộc họp duyệt ngày 7 tháng 1, em không đồng ý. Quan điểm của em là dân Đồng Tâm không phải là kẻ địch. Và mang quân tấn công vào làng là cực kỳ nguy hiểm, không đúng với quan điểm, chủ trương xử lý điểm nóng của Đảng...Em còn cẩn thận ghi vào góc bản kế hoạch là " Tôi không đồng ý với kế hoạch này..."
Tôi rất ngạc nhiên khi nghe Chung nói vậy. Sau này, tôi có lần hỏi lại " Tại sao lãnh đạo TP không đồng ý mà CA HN vẫn làm?" Thì Chung chỉ lắc đầu: " Chuyện lằng nhằng lắm... Mà thôi, anh biết làm gì? Tổ bạc tóc!".

Nguyễn Như Phong

HN 1000 năm vật vã: Thủ đô tan nát

 NỖI ĐAU CỦA NGƯỜI HÀ NỘI 

Ở Đồng Tâm, chưa chịu nghe dân. Ở vị trí Chủ tịch UBND TP Hà Nội, chưa chịu nghe dân. Sao không can đảm hỏi ý kiến toàn dân một lần?

Hơn mấy chục năm qua Hà Nội phải chịu đựng những ông Thị trưởng phá hoại. Kiến trúc Hà Nội bị băm nát. Giao thông Hà Nội nối đuôi nhau ùn tắc. Không khí Hà Nội mỗi ngày thêm khó thở.

Dẫu là dân tứ xứ đến thì cũng phải biết nâng niu Hà Nội. Vì Hà Nội là Thủ đô của cả nước. Hà Nội không phải sở hữu riêng của nhóm lợi ích. Sao không để cho người dân tự do bàu chọn Thị trưởng Thủ đô Hà nội?

Có thể chạy khỏi Mai Dịch. Nhưng không thể chạy khỏi sự phán xét của Lịch sử. Lịch sử sẽ ghi nhớ thời kỳ nát tan này của Thủ đô Hà nội. Sự phán xét của Lịch sử đối với kẻ có tội thì vô cùng nghiệt ngã. Đến mức con cháu phải đổi họ tên để trốn chạy tổ tiên.

Nguyễn Ngọc Chu

TRUYỆN VUI CUỐI TUẦN – HÉTVÉGI VICCEK (No. 242)

 Cạnh tranh

Trong tù, một tù nhân hỏi một bạn tù:

- Thế anh làm sao mà phải vào đây?

- Cạnh tranh nhau thôi. Tôi in tiền giống y như nhà nước.

-----------

A konkurencia

A börtönben egy rab megkérdi a másiktól:

- Téged mi juttatott ide?

- A konkurencia. Ugyanolyan bankjegyeket nyomtattam, mint az állam.

Nguyễn Ngô Việt (DEBRECEN.vidi73)

Friday, September 18, 2020

Trò câu lưu bỉ ổi

 CỰC LỰC PHẢN  ĐỐI HÀNH ĐỘNG PHI PHÁP CỦA AN NINH VIỆT NAM!

Mình nhận được lời mời của ông Đại sứ Mỹ dự buổi cà phê tại tư dinh của ông lúc 15:30 chiều nay. Mình dự định qua ngân hàng làm một giao dịch, rồi đi dự. 14h mình ra đến đầu ngách thấy 10 cậu an ninh, có một số quen mặt, mình biết không thể đi nên quay lại để báo cho ông Đại sứ là mình không thể dự được. Đi được 15m thì họ xông đến và bắt cóc mình, tống mình lên xe chở thẳng ra đồn cảnh sát phường, nơi mình đã bị câu lưu nhiều lần. Mình cực lực phản đối và nói hành vi của họ là phi pháp. Biết họ muốn cản cuộc cà phê của mình nhưng họ phải vẽ ra lý do: hỏi bác về các posts của bác trên Facebook, muốn bác xác nhận có phải của bác không và ký vào biên bản. Mình bảo họ, đây là lần thứ 18 các bạn đã bất chấp pháp luật làm bậy nên mình sẽ KHÔNG trả lời bất cứ câu hỏi chất vấn kiểu điều tra nào và sẽ KHÔNG ký bất kể văn bản nào! Rồi quay sang nói chuyện đủ thứ từ Đồng Tâm cho đến cổ di truyền học. Sau 17 giờ mình bảo mình phải đi đón cháu nội ở nhà  trẻ, họ không cho đi. Mình bảo thế trả điện thoại  để mình gọi về nhà để người khác đi đón cháu. Họ bảo bác nói tên của cháu bác rồi anh em sẽ nói cô đưa cháu về! Mình không chấp nhận. Họ rất bức bách nói mình chửi ông Trọng, ông Tô Lâm! Mình bảo ông Hồ bảo nếu chính quyền làm bậy thì dân ĐUỔI chính quyền đi! Họ bảo ông Hồ không bảo chửi lãnh đạo! Mình bảo dân ĐUỔI thì còn nặng hơn chưởi nhiều! Và đã làm chính trị gia thì phải cố ghe dân chưởi chứ. Họ bảo mình gọi họ là thằng là xúc phạm họ,... Mình bảo nếu ông Trọng cảm thấy mình xúc phạm ông ấy thì kiện mình ra toà đi!

Còn nhiều chuyện khác nữa, mình tranh thủ thời gian đôi khi chưởi họ những kẻ bắt cóc, phạm pháp, nhưng chủ yếu làm an ninh vận, từ chuyện Đồng Tâm đến cải cách ruộng đất,  Nhân văn giai phẩm,... đến chính sách phát triển đất nước, chính sách khoa học, đến quan hệ với Mỹ với Trung Quốc,..., biết rằng nước đổ lá khoai nhưng biết đâu họ hiểu được chút gì đó.

17h 50 họ thả mình, mình ghé qua nhà trẻ, hỏi thì vì mình không đón được nên mẹ của một bạn cháu đã đưa cháu về nhà bạn cháu chơi.

Không thể chấp nhận những người nhân danh an ninh quốc gia chà đạp lên luật pháp. Cuối cùng cậu trung tá mà đã cố hỏi cung mình chắc đến 10 lần bảo bác dùng ngôn từ quá mạnh thì sao người ta tiếp thu được, mình bảo nếu chỉ có thế thì cần gì phải bắt cóc. Mục  đích của các cậu là chặn mình uống cà phê với Đại sứ Mỹ, các bạn đã lập "chiến công" xuất sắc về báo cáo mà lĩnh thưởng. Về đến nhà là lao vào viết mấy chữ này để quý vị được rõ.

Nguyễn Quang A

17 Sep.2020

Chuyện cũ: Đọc cho thấu cái khổ của những ngày đói thiếu

 


Chẵn 30 năm bài bút ký làm chấn động cả nước của Phùng Gia Lộc được đăng tải trên báo Văn Nghệ thời ông Nguyên Ngọc làm Tổng biên tâp. Nếu không phải Nguyên Ngọc làm TBT thì không biết bài báo có được đăng không và nhân dân cả nước có biết câu chuyện "bắt nợ" khoán sản dã man thế này ở cái nước CHXHCN VN này hay không. Đăng lại vì có nhiều người biết tên bài báo này nhưng chưa chắc đã được đọc. Người viết đã giỏi nhưng người dám cho đăng bài kiểu này ngày ấy đúng là "gan cùng mình"!  (FB-Qúy Thích Đỗ-12 Sep.2018)

CÁI ĐÊM HÔM ẤY ĐÊM GÌ…

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:
- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.
- Hừ! Lại thế nữa...
Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?
Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:
- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.
Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế.
Anh gạn tôi:
- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.
Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:
- Phải mang "hàng chiến lược" này về chứ.
Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì...
Có cái "các" quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học - thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.
Thấy tôi về thằng Thức reo lên:
- A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?
- Có cái rét cóng đây này!
Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:
- Ứng được năm cân gạo.
Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:
- Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!
Tôi hỏi:
- Nhà ăn rồi hả mẹ?
Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:
- Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.
Tôi thấy cay sè trong mắt.
- Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?
Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:
- Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên...
Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:
- Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.
Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.
- Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.
- Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà...
Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà... thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau... Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau: Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.
Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:
- Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?
- À... mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.
Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện "bí mật nội bộ". Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm "đồng khởi" thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:
- Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi
- Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.
Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.
Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ...
Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:
- Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?
Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:
- Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!
Tôi vỗ về:
- Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?
- Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.
- Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.
Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:
- Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời...
Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.
- Ngủ đây mà ấm, bố ạ!
Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.
Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.
Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp...
Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.
Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý.
Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.
Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.
- Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!
Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.
Cạch cạch cạch.
- Chị cò Lộc, mở cửa ra!
Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.
- Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?
- Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.
Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh... bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm "hộ pháp" là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.
Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!
Bà cụ tôi đáp thay con dâu:
- Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?
- Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?
Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:
- Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.
Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.
Anh Miện bảo nhỏ tôi:
- Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.
Tôi đang định nói: "Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền", nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:
- Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi... "Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước". Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.
Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà... để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)... Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bút mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu "hấp bồ", "hấp bồ"...
Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:
- Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.
Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.
- Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?
- Bắt cái xe đạp ni, bay!
Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:
- Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.
- Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?
Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái "thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh" ra, tôi nói:
- Tôi phản đối! Tôi là "nhà báo"! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.
Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.
Chợt vị "hộ pháp" nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:
- Cái gì trong này, chị Lộc?
Im lặng...
- Cái gì trong này, chị nói mau?
Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.
- Có cái gì đâu...
Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp văn thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:
- A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.
Mẹ tôi chống gậy vái dài:
- Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.
Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành "hôm sau" cho bà.
Bà cụ nói như rên rẩm:
- Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!
Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:
- Chị có gánh đi hay không thì bảo?
Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:
- Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.
Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.
- Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!
- Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!
Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:
- Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.
Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.
- Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi... Trông xuống mà coi...
Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:
- Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!
Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp...
Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.
Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra.
Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: "Cái đêm hôm ấy... đêm gì?"

                         Cuối năm 1987
                         PHÙNG GIA LỘC

Thursday, September 17, 2020

Thế giới: Từ Đông sang Tây

CHIẾN TRANH CÔNG NGHỆ: CÚ RA ĐÒN CỦA NGƯỜI MỸ

Vòng đời của một mốt xe ô tô tầm 5 năm. Sự khác biệt giữa chiếc xe đời mới và đời cũ chủ yếu là phần công nghệ chứ phần cơ khí thì từ hàng thế kỷ nay vẫn thế. Vẫn động cơ đốt trong 4 thì, thế thôi. Người ta nói động cơ mới tiết kiệm nhiên liệu hơn, hiệu suất cao hơn bla bla bla… nghe tưởng như xe được cải tiến phần cơ khí, nhưng không phải, tạo nên những thành tựu “cơ khí” đó là do sự can thiệp của công nghệ thôi. 

Ngày nay công nghệ đi sâu vào mọi tiện ích của cuộc sống cá nhân và nó là công cụ điều hành doanh nghiệp, điều hành xã hội vv... Mới cách đây chừng  một thập kỷ, khái niệm căn nhà thông minh, thành phố thông minh, chính quyền điện tử còn khá xa lạ thì nay nó đã trở nên quen thuộc. Rồi trong lĩnh vực quân sự cũng vậy, ngày nay từ “tác chiến điện tử” không còn xa lạ gì nữa. Và thực tế, quốc gia nào mạnh về công nghệ thì quân sự của họ cũng mạnh, điều đó không thể phủ nhận.

Được biết, trong danh sách 500 công ty có vốn hóa thị trường mạnh nhất của Mỹ (S&P 500) thì độc chiếm ở 4 vị trí dẫn đầu là 4 đại gia công nghệ theo thứ tự Apple, Alphabet (công ty mẹ của Google), Microsoft, và Amazon. Trong đó hiện nay vốn hóa của Apple đã đạt 2.300 tỷ đô la, và 3 đại gia công ty còn lại vốn hóa đều hơn 1.000 tỷ đô. Thậm chí một công ty ô tô công nghệ non trẻ như Tesla cũng có vốn hóa thị trường vượt Toyota. Điều đó chứng tỏ công nghệ là xu thế phát triển của thế giới.

Đang trong thế trên cơ, Mỹ muốn tấn công vào lĩnh vực công nghệ của Tàu để ngăn cản quốc gia này phát triển đe dọa vị thế của họ. Chính vì vậy mà Mỹ luôn ra đòn trước, tất nhiên Tàu chỉ đủ trình chống đỡ chứ chưa đủ trình phản đòn. Như ta biết, Mỹ cấm TikTok hoạt động tại Mỹ và ép ByteDance bán Tik Tok cho các đại gia Mỹ,  thì ngay sau đó Trung Cộng đã có cú né đòn. Bắc Kinh quyết  chơi bài “ăn không được phá cho hôi”, chính quyền Tàu Cộng đã cấm ByteDance bán Tik Tok, thà chấp nhận mất 50 tỷ đô chứ không thể để Tik Tok rơi vào tay người Mỹ để rồi sau đó, người Mỹ lại dùng đứa con đẻ của của chính người Tàu để chiếm lấy thị trường thế giới.  

Hiện nay thị trường nội địa đã gần như bão hòa với các công ty công nghệ Tàu, vậy nên họ đang phát triển ra bên ngoài biên giới Tàu để tìm kiếm thị trường. Thế nhưng điều bất lợi là thị trường Ấn Độ thì đang tẩy chay sản phẩm công nghệ Tàu, còn Mỹ  thì đang cấm các các đông ty công nghệ Tàu. Đây là một khó khăn rất lớn, thế nhưng các đại gia Tàu không phải là vừa, họ vẫn đang tìm cách né đòn. Bị mất 2 trong 3 thị trường lớn nhất thế giới ngoài nước Tàu, các đại gia công nghệ nước này đã chuyển hướng sang đầu tư ở các thị trường nhỏ hơn, đăc biệt là thị trường nào ngoài tầm kiểm soát của người Mỹ.  Đây phải nói là một chiến lược rất khôn ngoan. 

Đông Nam Á là thị trường trên 600 triệu dân, ASEAN lại là một tổ chức lỏng lẻo không đồng lòng, các quốc gia trong khối này thì lại sợ Tàu đồng thời cũng chẳng thân với Mỹ như Hàn Nhật nên đây là thị trường mà Tàu có thể khai thác được vì nó nằm ngoài tầm ảnh hưởng của Mỹ. Hiện nay ByteDance đang xây dựng trụ sở ở Singapore để phát triển Tik Tok trên thị trường Đông Nam Á này. Đây có thể nói là nơi trú ẩn khá an toàn của các công ty công nghệ Tàu vì lệnh cấm của Mỹ khó mà với tới nơi đây được. Cho dù Mỹ có vận động, thì các nước này cũng chẳng nghe lời Mỹ như Anh Quốc đã nghe lời Mỹ tống cổ Huawei. 

Sau Mỹ, Anh quốc là một nước có công nghệ phần cứng rất mạnh với viên ngọc quý là Arm Holdings. Công ty này chuyên thiết kế chip và cấp phép các thiết kế này cho các ông lớn như Apple, Broadcom, Marvell và Nvidia vv… Hiện nay hết 95% điện thoại smartphone trên thế giới sử dụng chip được Arm Holdings cấp phép sản xuất. Năm 2016, tập đoàn công nghệ Softbank của Nhật mua Arm Holdings với giá 32 tỷ đô la. Từ năm 2019 thì chiến tranh công nghệ Mỹ-Trung nổ ra, Mỹ muốn cắt đứt nguồn cung cấp chip cho các công ty công nghệ Tàu vì thế mà nay công ty sản xuất chip đồ họa - Nvidia của Mỹ đã đàm phán với Softbank mua lại thành công Arm Holdings với giá 40 tỷ đô la. Đây là thương vụ mua bán mang màu sắc chính trị khá rõ.

Mỹ nắm trong tay những công ty sản xuất phần cứng lớn nhất thế giới như: Intel, Apple, Braodcom, Qualcomm, Marvell, Nvidia, AMD vv.. giờ lại tóm luôn Arm Holdings thì có thể nói, nguồn cung cấp phần cứng cho các đại gia công nghệ Tàu đã nằm gọn trong tay người Mỹ. Được biết các bản thiết kế chip của Arm Holdings là thành phần quan trọng đối với nhiều nhà sản xuất smartphone và các công ty trí tuệ nhân tạo ở Trung Cộng. Nếu ví công nghệ là một căn nhà thì phần cứng là nền móng còn phần mềm là những thứ đứng bên trên cái nền móng ấy. Rõ ràng cú thâu tóm Arm Holdings của người Mỹ không khác nào là một cú đấm trời giáng mà người Mỹ dành tặng cho người Tàu. Nắm phần móng, Mỹ mà cho đào hầm phá sập móng thì căn nhà công nghệ Tàu sẽ đổ, đó là điều mà Trung công hiểu hơn ai hết. Đây có thể nói là bước đi vô cùng lợi hại của người Mỹ. Đòn vừa hay vừa hiểm, tuy nhiên trong đòn đánh này có sự giúp sức của người Nhật.

Như đã nói, người tàu cũng không phải là kẻ dễ chơi. Được biết Arm Holdings có một liên doanh với các công ty công nghệ Tàu, đó chính là Arm China đặt trụ sở tại Tàu. Điều đáng nói là Arm China đã bị các nhà đầu tư Tàu nắm giữ 51% cổ phần, vừa đủ để người tàu nắm  quyền điều khiển. Chính vì vậy mà hồi tháng 5 vừa qua, Arm Holdings ra quyết định sa thải Giám đốc Arm China - Allen Wu nhưng ông này bất tuân. Điều này chứng tỏ quyết tâm của người Tàu là phải làm chủ Arm China để giảm bớt thiệt hại bởi cú ra đòn của người Mỹ nhắm vào ngôi nhà công nghệ của họ. 

Hiện tại thì  tầm của Arm China vẫn chưa thể so sánh với Arm Holdings, nên việc bám vào Arm China chỉ là giải pháp mang tính cứu cánh chứ không phải là nền tảng. Không biết trong tương lai  Arm China có thể thay thế được Arm Holdings tại thị trường Tàu hay không? Chỉ biết trước mắt ngành công nghệ tàu sẽ rất vất vả với ngườ Mỹ. Mong rằng, Mỹ đè đầu được kẻ đang lên đầy hung hăng này. Để Tàu lớn mạnh, đó là mối nguy cho cả thế giới.

Đỗ Ngà

~~~~~

THAM KHẢO:

https://www.investopedia.com/terms/l/large-cap.asp

https://www.barrons.com/articles/apples-market-cap-is-now-as-big-as-the-s-p-500-energy-utilities-and-materials-sectorscombined-51599057653

https://www.reuters.com/article/us-usa-tiktok-china-idUSKCN25002I

https://www.androidheadlines.com/2020/09/tiktok-may-move-to-singapore.html

https://vnexpress.net/cong-ty-me-tiktok-xay-dung-can-cu-o-singapore-4160447.html

https://www.thesaigontimes.vn/308275/thuong-vu-40-ti-do-la-giua-my-nhat-ban-dat-trung-quoc-vao-the-bat-loi.html

https://tinnhanhchungkhoan.vn/chinh-quyen-bac-kinh-tha-de-tiktok-bi-cam-con-hon-phai-ban-cho-washington-post250076.html

@};-