Saturday, January 20, 2024

Magyarok és a képességek érdemelte ki a megtisztelő marslakó jelzőt

Olvassátok végig ! Felemelő!

 Amikor Enrico Fermi Nobel-díjas atomfizikust megkérdezték, hisz-e a földönkívüliek létezésében, így válaszolt: „Már itt vannak közöttünk... magyaroknak hívják őket.” Legendás tudásuk, zseniális fantáziájuk, egymás közt beszélt különös nyelvük, furcsa angol kiejtésük miatt amerikai tudós-körökben tréfásan marslakóknak nevezték azt a mintegy 50 magyar tudóst, akiknek a XX. század legnagyobb felfedezéseit köszönheti a világ.

A képen: Szilárd Leó, Teller Ede és Wigner Jenő...ők hárman az 50 "marslakó" közül

Egy amerikai tanulmány szerint a XX. századot Budapesten készítették elő, hiszen magyar anyanyelvű volt, és valamelyik híres budapesti iskolában tanult szinte minden tudós, aki a XX. századot meghatározó számítástechnikát, az atom- és űrkutatást elindította, továbbfejlesztette.

„Neumann, Szilárd, Wigner, mars ki a Városligetbe!” – Ezt nem három vásott kölyöknek mondta a számtantanár, hanem három matekzseninek: Neumann Jánosnak, Szilárd Leónak és Wigner Jenőnek, akik osztálytársak voltak Budapesten a Fasori Gimnáziumban, s oly döbbenetes volt a matematikai tudásuk, hogy dolgozatírás helyett inkább levegőzni küldte őket a tanáruk, hiszen pillanatok alatt megoldották a legnehezebb feladatot is. 

Később mindhárman világhírűvé váltak. 

Wigner Jenő az atomreaktor, Szilárd Leó az atombomba, Teller Ede a hidrogénbomba feltalálója. 

Tudásukkal hatalmas erõt szabadítottak ki a palackból, de mindhárman tiltakoztak az ellen, hogy háborús célra, emberek ellen használják az atomenergiát. 

A maghasadásban nem a pusztító bombát, hanem az energiaforrást keresték. 

Szilárd Leó Einsteinnel együtt levélben kérte az amerikai elnököt a maghasadás békés felhasználására. 

Nem rajta múlott, hogy nagyszerű találmányát tömegpusztító fegyverként vetették be. 

Neumann János a számítógép atyja, korának egyik legnagyobb lángelméje. Az általa 1943- ban megépített computer akkora volt, mint egy szoba, de kétségtelenül ez az őse a mára már táskányira zsugorodott számítógépeknek. 

Neumann János Eisenhower amerikai elnök tanácsadója volt, ő beszélte le Kína megtámadásáról. Halálos ágyánál a hadsereg magas rangú tisztjei váltották egymást, nehogy lázálmában katonai titkokat beszéljen ki. 

Fölösleges volt. 

Neumann János haláltusájában magyarul beszélt...

Nemcsak a számítógép megalkotása, hanem fejlesztésének fontos lépései is magyar nevekhez kötődnek.

Kemény János a legelterjedtebb programozási nyelv, a Basic nyelv és a világot meghódító e-mail rendszer megalkotója.

Simonyi Károly fejlesztette ki az Excel táblázatkezelő programot, õ a híres Microsoft cég második embere, Bill Gates neki köszönheti, hogy a világ leggazdagabb emberévé válhatott.

Lovász Lászlót és Bélády Lászlót a szoftverfejlesztés, Gróf Andrást a mikroprocesszorok illetve a személyi számítógépek megalkotása miatt tartják az informatikai forradalom legnagyobb alakjainak.

Lánczos Kornél kiváló elméleti fizikus és matematikus Einstein munkatársa volt, akinek azt írta a relativitáselmélet megteremtője: „Ön az egyetlen általam ismert ember, aki ugyanúgy közelít a fizikához, mint én.”

A magyar tudósok különösen vonzódtak a repülés tudományához. A levegőt meghódító felfedezéseik évtizedekkel megelőzték korukat.

Asbóth Oszkár az Arad megyei Pankotán született, Aradon tanult.

Kármán Tódor munkatársaként a helikopterek történetének kimagasló alakja.

A Kennedy elnök által kitüntetett, harminc egyetem díszdoktorává avatott 

Kármán Tódorról a Holdon és a Marson krátert neveztek el. Õ az első helikopter és a sugárhajtású repülőgépek kifejlesztője. Kármán kutatásai alapján valósulhatott meg a hangsebességet túllépő repülőgép és a rakétatechnika.

Fonó Albert a sugárhajtás elvének atyja.

A Hoff Miklós által kifejlesztett vékony falú szerkezeteket alkalmazzák ma is világszerte a repülőgépek, űrrakéták, tengeralattjárók építésénél.

Bay Zoltán az űrkutatás úttörője. 1946-ban amerikai kutatókkal egyidőben sikerül Budapesten felállított radarjával a Holdra jeleket irányítania, és visszhangot érzékelnie.

Szebehelyi Győzőnek döntő szerepe volt abban, hogy az amerikaiak eljutottak a Holdra: õ tervezte meg az Apolló űrhajók pályáját.

Csonka János és Bánki Donát nevét mindenkinek ismernie kellene, aki autóba ül: a világon burrogó sok száz millió benzinmotor mind az általuk feltalált porlasztóval működik. A benzint levegővel keverő karburátor ötletét egy virágáruslánytól „kapták”, aki vékony csőbe levegőt fújva permetezett vizet a rózsákra.

„Ma stresszes napom volt” – meséled édesanyádnak, de vajon tudod-e, hogy a stressz fogalmát magyar tudós, Selye János ismerte fel, és határozta meg pár évtizeddel ezelőtt.

Mihály Dénes a televíziós közvetítés, a hangosfilm,

Goldmark Péter a színes televízió,

Csicsátka Antal a sztereó technika feltalálója.

Rubik Ernő zseniális találmánya, a világot meghódító bűvös kocka nem gyerekjáték – bár lehet, hogy nektek is sikerült már kiraknotok mind a hat oldalát. Valójában igen bonyolult matematikai tudást igényel mind az alkotó, mind a játékos részéről.

A XX. század legfontosabb felfedezései magyar nevekhez fűződnek, hat amerikai elnöknek magyar tudós volt a tanácsadója. 

Ámul a világ: honnan fakad ez a világot alakító szellemi erő? 

Teller Ede anyanyelvünkben találta meg a titkot: 

"Bámulatos és hatalmas a szép magyar nyelv kifejező ereje és hatása a magyar fiatalokra. Életem legnagyobb tudományos felfedezése, hogy csak egy nyelv van, és az a magyar...."

(copy từ Hungarian Treasures csoport)

Friday, January 19, 2024

Quê hương thứ hai của tôi

HUNGARY, MẢNH ĐẤT KỲ DIỆU CỦA NGƯỜI MAGYAR

Mười sáu giải Nobel và thứ hạng thứ 8 trong Top 10 các quốc gia đoạt được nhiều huy chương nhất trong lịch sử phong trào Thế vận quốc tế chỉ là hai trong số vô vàn kỳ tích mà người Hungary đã đạt được, khiến thế giới phải để tâm và khâm phục đất nước chỉ vỏn vẹn khoảng 9,5 triệu dân và diện tích nhỏ hơn miền Bắc Việt Nam này. Đây cũng là một trong số 10 quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1950, và tới giờ vẫn duy trì quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống rất quý báu với nước ta.

Không phải ai cũng biết rằng mặc dù tọa lạc ở trái tim của vùng Trung Âu, trong vùng bồn địa lịch sử Panonnia, nhưng Hungary lại là mảnh đất định cư của các bộ lạc Magyar (1) sau một cuộc di cư vĩ đại trải qua nhiều thế kỷ về thời gian và hàng chục ngàn cây số về không gian. Vốn là một dân tộc bán du mục, người Hung đã bôn ba nhiều nơi, qua những vùng thảo nguyên rộng lớn của lưu vực sông Volga, nước Nga và Ukraine hiện tại, để tới lập quốc ở nơi hiện tại là Hungary vào năm 895, để rồi thành lập quốc gia vào Noel năm 1000.

Một ngàn một trăm năm dựng nước và giữ nước của Hungary là những trang sử kiêu hùng, nhưng cũng chất chứa đầy biến cố bi thảm, khi vương quốc này đại bại trước quân Mông Cổ và gần như bị san bằng (1241-1242), bị Đế quốc Otthoman cai trị một phần đáng kể đất nước trong 150 năm (1541-1699), và sau đó là hơn 150 năm dưới ách đô hộ của Đế quốc Áo. Phải đến thời kỳ nền "song quốc quân chủ" Áo - Hung (1867-1918), Hungary mới giành được độc lập và trải qua nửa thế kỷ hòa bình, hạnh phúc và phát triển vượt bậc.

Tuy nhiên, thế kỷ 20, Hungary lại đứng về "phe bại trận" trong cả hai cuộc thế chiến, và hậu quả là hai phần ba diện tích đất nước bị cắt qua các nước láng giềng, hai phần ba cư dân Hung chỉ trong chốc lát biến thành công dân "xứ lạ". Những nỗi đau trong quá khứ ấy đến bây giờ người Hung vẫn nhắc nhớ, nhưng luôn đi kèm với niềm tự hào của một dân tộc anh dũng, không chịu khuất phục, đầu hàng, với khí phách "Chết tự do không chịu sống tôi đòi - Không yên nghỉ khi tự do chưa có" như đại thi hào Petőfi Sándor từng ca ngợi (2).

Dân tộc nhỏ này đã có những người con vĩ đại trong khoa học, đặc biệt vào nửa đầu thế kỷ 20, khi giới khoa học thế giới đã kinh ngạc gọi các nhà bác học di cư từ Hungary qua để Mỹ lánh nạn chiến tranh là "người Hỏa tinh" vì bộ óc xuất chúng của họ. Bom nguyên tử, bom khinh khí, máy điện toán... là một vài trong số rất nhiều công trình mà thế giới phải cám ơn Hungary, với những tên tuổi như Neumann János, Szilárd Leó, Teller Ede... hay gần đây nhất như Karikó Katalin, "mẹ đẻ của công nghệ mRNA" góp phần "cứu vãn thế giới" (3).

Trong văn học nghệ thuật, Hungary cũng có những đỉnh cao như đại nhạc sư Liszt Ferenc, danh cầm vĩ đại nhất của mọi thời đại, tên tuổi vĩ đại của trường phái Lãng mạn đầu thế kỷ 19, Kodály Zoltán, nhà sư phạm âm nhạc bậc thày với "phương pháp Kodály" nổi tiếng, hay Kertész Imre, Giải Nobel Văn chương 2002, người khắc họa nỗi đau diệt chủng Do Thái... Thế giới cũng luôn nhớ "Đội tuyển vàng" với thủ quân Puskás Ferenc thập niên 50 trong bóng đá, và Hungary là cường quốc thể thao lớn nhất còn chưa được đang cai Thế vận.

Nhắc tới Hungary, những cái tên như thủ đô Budapest, "Biển hồ" Balaton lớn nhất vùng Trung Âu, Thành cổ Eger anh hùng hay hồ nước khoáng chữa bệnh Hévíz lớn nhất Châu Âu là những điểm nhấn rất quen thuộc. Với gần 16 triệu lượt khách tới thăm trong năm 2023, quốc gia này thuộc nhóm các nước du lịch phát triển: Quần thể Lâu đài và các di sản trên Đồi Buda, những công trình kiến trúc nằm dọc hai bên bờ "Danube xanh", Đại lộ chính Andrássy và Quảng trường Anh Hùng ở thủ đô là những danh thắng UNESCO lừng danh.

Tuy khoảng cách địa lý rất xa xôi, nhưng Hungary và Việt Nam có nhiều "duyên nợ", ân tình trong quá khứ. "Việt Nam, chúng tôi ở bên các bạn!" là khẩu hiệu và phương châm của nước Hung trong những năm chiến tranh gian khổ; từ đầu thập niên 50 thế kỷ trước, Hungary đã hào hiệp ủng hộ và giúp Việt Nam đào tạo nhiều thế hệ DHS, NCS... để tới bây giờ, lãnh đạo hai nước trong các phát biểu vẫn tự hào rằng cộng đồng ngoại quốc am hiểu ngôn ngữ và văn hóa Hungary dù không có mối liên quan về sắc tộc, chính là ở Việt Nam!

Những năm gần đây, Hungary và Việt Nam đã có quan hệ hợp tác hiệu quả trên nhiều lĩnh vực như giáo dục đào tạo, pháp luật và tư pháp, văn hóa, thể thao, giao lưu nhân dân... Hungary coi Việt Nam là đối tác quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, và hai đã nước thiết lập quan hệ Đối tác Toàn diện vào tháng 9/2018 trong chuyến thăm chính thức Hungary của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Hai nước có tiềm năng và còn có thể tăng cường hơn nữa trong nhiều lĩnh vực như thương mại - đầu tư, nông nghiệp, hay y tế, du lịch, lao động…

Cho đến nay, nước Hung cũng là quê hương thứ hai của một cộng đồng Việt thuần hậu, được đánh giá là hội nhập thành công trong cuộc sống và công việc, nhưng vẫn hướng về Tổ quốc với nhiều nỗ lực đóng góp "lá lành đùm lá rách...". Mới đây nhất, Việt Nam còn là nguồn cung ứng lao động đáng kể cho nền kinh tế Hungary, vốn cần rất nhiều nhân lực đến từ các quốc gia thứ ba cho thị trường nội địa trong chiến lược tái công nghiệp hóa của chính phủ. Nhiều cơ hội được mở ra, cần tận dụng khai thác một cách nghiêm túc, hiệu quả.

Với những nét tương đồng đáng kinh ngạc trong lịch sử và ký ức, Hungary và Việt Nam là hai dân tộc có sự đồng điệu về tình cảm và tâm thế trong quá khứ kiên cường trước giặc ngoại xâm. Truyền thống hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước, ở vào thời đại "thế giới phẳng", cần được phát triển và tăng cường với những nội dung mới, hình thức hợp tác mới, mà chuyến thăm của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam trong thời gian 18-20/1/2024 có thể sẽ đem lại nhiều kết quả mới, theo kỳ vọng của đôi bên.

Ghi chú:

(1) Người Hungary gọi họ là dân tộc Magyar.

(2) Trích thi phẩm nổi tiếng "Bài ca Dân tộc" (Nemzeti Dal, 1848), bản dịch của dịch giả, PGS. TS. Vũ Ngọc Cân.

(3) Tựa đề một bộ phim tư liệu của Pháp về GS. Karikó Katalin, nhà sinh học đồng giải thưởng Nobel Y Sinh 2023, với phát minh đặt tiền đề cho vaccine "thế hệ mới" kháng virus Corona.

Nguyễn Hoàng Linh

Thursday, January 18, 2024

Học bạ Trường Y Dược

Hôm nay lục lọi ra quyển học bạ thời đẹp nhất tuổi thanh xuân mà sao trường mình lại bọc màu đen nhỉ! Không biết mọi người còn giữ không vì trong đó là kết quả học tập muốn chảy máu mắt,bao đêm thức đến sáng học xong ôm cặp đi thi luôn. Thi xong muốn xỉu luôn vì một là vui và mệt,hai là bị “ đá “ về học lại còn phải mua tem tùy giá trị của lần thi lại ấy. Thật sự học ở Hung thật gian nan mà còn học ở trường Y Dược nữa gian nan gấp nhiều lần không thể tả được. Đã về hưu gần hai mươi năm mà vẫn còn nằm mơ thấy phải đi thi mới biết khổ cỡ nào! Nhưng vẫn là kỷ niệm đẹp có thể nào quên.

Tăng Kim Đoan (ĐH SEMMELWEIS.vidi69)

Wednesday, January 17, 2024

Vì sao nghèo? Chiến tranh. Vì sao sau chiến tranh không tăng trưởng?

 Tác động của chiến tranh lên nền kinh tế

    1. Tôi thường nghe câu nói cửa miệng "Nước ta nghèo, khó khăn là do hậu quả chiến tranh". Nghe riết thành quen, tưởng thật. Đến nỗi, chiến tranh qua đến nửa thế kỷ, nhiều người vẫn tưởng là ta nghèo là do chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Lãnh đạo thì lấy đó làm lý do biện hộ: chúng ta lãnh đạo tốt, đúng hướng, nhưng do chiến tranh nên .... 

    2. Chúng ta hãy thử suy nghĩ một chút xem điều đó có đúng không. Trong lịch sử thế giới, sau chiến tranh, thường kinh tế phát triển phồn thịnh. Ở nước ta, sau khi bị đô hộ và chiến tranh 10 năm, đầu đời Hậu Lê, kinh tế phát triển 

                "Đời vua Thái Tổ, Thái Tông 

           Gạo trắng đầy đồng trẻ chẳng chịu ăn"

     Các nước Nhật, Mỹ, Nga, Đức,... sau chiến tranh đều có những phát triển thần kỳ về kinh tế, mặc dù trừ Mỹ, đều bị tàn phá nặng nề. Từ thời Chu, ngay sau chiến tranh là Thành Khang chi trị, tới thời Thanh, đều thấy sau thời chiến tranh, lập quốc là thời phát triển mạnh. Nước ta sau khi chống Nam Hán, Nguyên Mông,...phân tranh Tây Sơn-Nguyễn đều hưng thịnh ngay sau chiến tranh. 

   3. Thực ra, nền kinh tế chậm phát triển là do thiếu động lực, bị ngăn cản bởi cơ chế già nua, những con người trì trệ bảo thủ, các thể chế hết thời. Chiến tranh thay đổi thế hệ, tạo ra khát vọng, phá hủy cơ chế cũ, và có một thị trường lớn làm lực đẩy. Có thể nói chiến tranh là động lực đẩy bánh xe kinh tế quay, khi quay sẽ tạo ra của cải, sức mua, cơ chế mới. Nước Mỹ từ sau chiến tranh lạnh luôn phải có các cuộc chiến tranh nhỏ cục bộ để kích hoạt nền kinh tế.   

   4. Vậy tại sao Việt Nam lại không có tăng trưởng hậu chiến như vậy: Có thể là do một số ngành kinh tế bị đứt gãy về cả nhân lực và tri thức, không có tiếp nối, do đó khát vọng không có đất gieo. Điều quan trọng hơn là sự cô lập với thế giới và với sự tiến bộ. Cũng có thể lực lượng chủ lực của bộ máy chiến tranh quá mạnh, không thể tự thay đổi. Cho đến nay vẫn còn đơn vị kinh tế, KHCN, giáo dục đào tạo của quân đội, công an, đảng và ....

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, January 16, 2024

Câu hỏi về sự vận động và bất biến của lịch sử

 Vì sao Á Đông lạc hậu, 

    1. Theo quan điểm phát triển của xã hội học hiện đại của Marx, Weber, Witgenstein, Á Đông vào thế kỷ 10-13 đã hội tụ đủ các yếu tố để phát triển như phương Tây vào thế kỷ 17-18. Nhưng cuối cùng Á Đông không phát triển, trở nên lạc hậu và bị phương Tây nô dịch. Mọi thành tựu văn minh, chất lượng cuộc sống, khả năng làm chủ số phận hiện nay của con người đều là thành tựu của khoa học và phương pháp luận phương Tây. 

   2. Nhiều học giả cố gắng cắt nghĩa điều này theo các cách khác nhau. Có người cho rằng bản chất của chế độ phong kiến Á Đông được phỏng theo mô hình xã hội của các loài côn trùng phù du: mối, kiến, ong, chỉ có mục tiêu phục vụ một cá thể là con chúa. Chính vì thế nền kinh tế không có thị trường, khoa học công nghệ không có ứng dụng. 

    3. Tôi nhìn vấn đề theo một cách khác. Xã hội độc tài tuy nhiều khi phản động ngăn chặn sự tiến bộ, nhưng đôi khi nó cũng kích thích sự tiến bộ, chẳng hạn Kim Tự tháp, nghệ thuật, kiến trúc, kỳ quan thế giới đều do các nhà độc tài tài trợ. Không có Giáo hoàng sao có thể có Michelangelo và các bức vẽ trên trần các thánh đường. Tôi thấy có một hạt nhân nguy hiểm hơn trong phương pháp tư tưởng phương Đông là việc mặc định cho rằng ngày xưa là khuôn vàng thước ngọc. Thánh nhân sẽ không có ai bằng, chỉ cần noi theo là đủ. Trong khi đó, ở phương Tây, truyền thống là phủ định hình tượng. Các trí tuệ siêu việt như Socrates, Pythagoras, Aristoteles, Platon, Newton, Einstein đều bị phủ định ngay khi còn sống để rồi sau đó mới đặt họ vào vị trí chính đáng. Các giá trị của họ mang lại đều được bổ sung, cải tiến và phát triển đưa đời sống đi lên. 

     4. Sử cho rằng các tác phẩm của Khổng Tử như Ngũ Kinh, Tứ thư bị Tần Thủy Hoàng đốt hết, nhưng đột nhiên tới thời Hán Vũ Đế, khi cần, chúng lại được "phát hiện" trở lại trong nhà mồ của Khổng Tử. Điều đó gây nhiều nghi vấn. Bên cạnh đó, các tư tưởng trong các tác phẩm này đều có từ trước, Khổng Tử chỉ "san định" lại. Nói một cách khác, ông đã cắt xét đi những thứ không hợp ý mình. Riêng về Kinh Thi, nhiều người cho rằng Khổng Tử phá hoại nhiều hơn công. Ông lược bỏ những bài không theo tiêu chuẩn đạo đức của mình. Có lẽ vì vậy, khi Khổng Tử sống, ông chỉ là một nhà tư tưởng không được thực thi, hoàn toàn vô danh.   

    5. Các tác phẩm nổi tiếng như Đạo Đức Kinh,... đều khó lòng là tác phẩm của một người. Thậm chí có một người là Lão Tử hay không thì vẫn còn tồn nghi. Sử Ký nói tới ít nhất 3 người được cho là Lão Tử: Lý Nhĩ, Lão Đam, Lão Lai Tử và hoàn toàn không có chứng cứ nào về việc họ viết Đạo Đức Kinh. 

     6. Thực ra, tư tưởng cũng như nghệ thuật, triết học, thức ăn, quần áo hay công cụ, không phải khi ra đời đã giống hệt như hiện nay. Thật ngây thơ nếu tin rằng các quý tộc La Mã đã dùng các loại baguette, hay crossant thượng hạng như chúng ta dùng hiện nay. Quần áo thời Chu không phải trắng muốt, thơm tho như trong phim ngôn tình cổ trang. Chắc chắn, do chưa có bột giặt, chúng sẽ ngả sang màu cháo lòng, chất liệu cũng thô, và do ít thay, chúng sẽ có mùi không mấy dễ chịu. Rượu vang trước công nguyên có thể chỉ là một thứ nước lên men thô lỗ, chưa thể chưng cất tinh tế như sau này.  

      7. Tư tưởng bắt đầu cũng phải manh nha với các ý tưởng sơ khai, có thể ngây ngô. Phật chưa hề viết một trang kinh nào. Tuy vậy, không phải là vì ngài không muốn viết và hàng vạn trang kinh, luật, tạng đã có sẵn trong đầu ngài và chỉ vì ngài không muốn viết. Cho dù ngài có muốn, giáo lý của ngài cũng chưa hoàn thiện và đầy đủ như ngày nay. Nói Đại thừa đã tiềm tàng trong tư tưởng của Phật là một cách nói và mâu thuẫn với niềm tin của Tiểu thừa là họ mới là Phật giáo nguyên thủy. Những lời được ghi chép trong kinh được cho là của Phật cũng không hề có bằng chứng nào. 

      8. Cho dù ngài có ngồi 10 năm dưới cây Bồ đề, không động tâm vì muỗi, kiến đốt, nghĩ với tốc độ siêu thanh, cũng không thể tạo ra được một phần ngàn thông tin mà các kinh, luật, tạng đang có.  

      9. Bên cạnh đó, ngài được thừa hưởng nhiều kiến thức từ nền giáo dục lúc bấy giờ, dựa trên truyền thống Vệ Đà, Ấn độ giáo, Upanishads và ngài có một số đề xuất cải tiến mới trên nền tảng đó: có thể là Tứ Diệu đế, Duyên khởi và Ngũ Uẩn ở một mức sơ khai hơn những gì chúng ta thấy bây giờ và chắc chắn được thể hiện bằng một ngôn ngữ khác, chưa phát triển, không chặt chẽ, thiếu khái niệm không có năng lực thể hiện như ngôn ngữ bây giờ.

    10. Niềm tin có sức mạnh của nó. Có thể dẫn tới những chuyện thần kỳ mà sức người thường không thể làm nổi, kể cả quay ngược bánh xe lịch sử.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Monday, January 15, 2024

Ancient Egyptian sun god

A majestic representation of Ra, the ancient Egyptian sun god, with a golden disk above his head.

The golden disk above Ra's head represents the sun, which was a symbol of his power and divinity. It symbolizes the sun's life-giving energy and Ra's role as the ruler of the heavens. The Egyptians believed that Ra traveled across the sky during the day and descended into the underworld at night, only to rise again the next morning. The golden disk is a visual representation of this celestial journey and Ra's connection to the sun.

St từ net

Sunday, January 14, 2024

Hộ chiếu: Top 10

HUNGARY VẪN THUỘC TOP 10 TRONG NHÓM CÁC QUỐC GIA CÓ HỘ CHIẾU QUYỀN LỰC


Hộ chiếu Hungary thuộc hạng thứ 7 trên thế giới xét theo con số các quốc gia mà công dân nước này có thể nhập cảnh mà không cần xin thị thực. Trong số các nước cựu CS trong vùng Trung Âu, cả Cộng hòa Czech và Ba Lan đều hơn Hungary một bậc xét về tính quyền lực của tấm hộ chiếu, theo Chỉ số Hộ chiếu Henley.

Được biết, Chỉ số Hộ chiếu Henley (The Henley Passport Index) được thiết lập dựa trên dữ liệu độc quyền từ Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế (IATA) – cơ sở dữ liệu thông tin du lịch lớn nhất, chính xác nhất – và được nâng cao bởi nhóm nghiên cứu của Henley & Partners. Thông tin về thứ hạng mới nhất này được đăng tải trong Báo cáo Di động Toàn cầu Henley 2024 (Henley Global Mobility Report 2024, tháng 1/2024).

Xếp hạng hộ chiếu toàn cầu với lịch sử dữ liệu kéo dài 19 năm, Chỉ số Hộ chiếu Henley là chỉ số duy nhất thuộc loại này, bao gồm 199 hộ chiếu của các quốc gia và 227 điểm đến du lịch. Được cập nhật hàng tháng, Chỉ số Hộ chiếu Henley được coi là công cụ tham khảo tiêu chuẩn cho các công dân và các quốc gia có chủ quyền trên thế giới khi đánh giá các tấm hộ chiếu có "quyền lực" như thế nào trong phạm vi di chuyển toàn cầu.

Top 10 của các nước có hộ chiếu "đáng nể" như sau, theo bảng xếp hạng mới nhất:
1. Tới 194 quốc gia mà không cần thị thực: Pháp, Đức, Ý, Nhật, Singapore, Tây Ban Nha.
2. Tới 193 quốc gia mà không cần thị thực: Phần Lan, Đại Hàn, Thụy Điển.
3. Tới 192 quốc gia mà không cần thị thực: Áo, Đan Mạch, Ireland, Hà Lan.
4. Tới 191 quốc gia mà không cần thị thực: Bỉ, Luxembourg, Na Uy, Bồ Đào Nha, Vương quốc Anh.
5. Tới 190 quốc gia mà không cần thị thực: Hy Lạp, Malta, Thụy Sĩ.
6. Tới 189 quốc gia mà không cần thị thực: Úc, Cộng hòa Czech, New Zealand, Ba Lan.
7. Tới 188 quốc gia mà không cần thị thực: Canada, Hungary, Hoa Kỳ.
8. Tới 187 quốc gia mà không cần thị thực: Estonia, Lithuania.
9. Tới 186 quốc gia mà không cần thị thực: Latvia, Slovakia, Slovenia.
10. Tới 185 quốc gia mà không cần thị thực: Iceland.

Xét về tổng thể tuyệt đối, như vậy, cùng Canada và Hoa Kỳ, tấm hộ chiếu Hungary xếp thứ 26 trong số gần 200 quốc gia trên thế giới, một kết quả không hề tồi. Để so sánh, hộ chiếu Việt Nam có thể được miễn chiếu khán tới 55 nước trên thế giới và do đó, thuộc nhóm thứ 87, cùng Bhutan, Trung Phi, Chad, Quần đảo Comoro, Ai Cập, Haiti và Jordan.

Nguyễn Hoàng Linh

Saturday, January 13, 2024

Tuổi trẻ và giai đoạn tạo dựng nền tảng

TRẺ KHÔNG TRAU DỒI - GIÀ MANG HỐI TIẾC!

Giai đoạn vàng để học hỏi của một đời người chỉ có vài năm, đừng vì ham chơi nhất thời mà đánh đổi cả một cuộc đời vô giá

Lúc trẻ không nỗ lực, về già ắt sẽ hối hận!

Thời niên thiếu là lúc con người dễ phát triển nhất, năng lực học tập mạnh mẽ, khả năng tiếp thu sự vật sự việc mới nhanh nhạy, là giai đoạn học tập tốt nhất trong cuộc đời.

Đừng vì khó khăn mà bỏ cuộc, đừng vì vất vả mà nản chí.

Sự lười biếng của năm 25 tuổi tạo nên sự bất lực ở năm 35 tuổi

Sự bất lực của năm 35 tuổi tạo nên sự vô dụng ở năm 45 tuổi

Sự vô dụng của năm 45 tuổi tạo nên một cuộc đời thất bại

Một mái đầu bạc hối tiếc cũng đã muộn, sức khỏe chẳng còn nhiều để cố gắng. Bởi vậy, còn trẻ đừng vì khó khăn phía trước mà bỏ cuộc, đừng vì vất vả mà nản chí.

Giai đoạn học hỏi tốt nhất của một người cũng chỉ có vài năm, đừng vì sự ham chơi nhất thời mà đánh đổi cả một cuộc đời vô giá.

Rich Nguyen (FB)

Friday, January 12, 2024

Lời Của Gió

NGÔN NGỮ TỪ NHỮNG VÌ SAO

Chiêm tinh học là một loại ngôn ngữ. Nếu bạn thông hiểu nó, bầu trời sẽ nói chuyện với bạn.

Dane Rudhyar

Tất cả chúng ta đều mang trong từng tế bào của mình những mẫu thức của những vì sao đã tắt. Về cơ bản, con người là hậu duệ của những vì sao, gắn bó mật thiết với bầu trời. Tìm hiểu khoa học về mối liên hệ này là học cách hiểu ngôn ngữ của các vì sao và ngôi sao của mình, đánh thức & giúp chúng toả sáng mạnh mẽ nhất trong suốt cuộc đời mình, thắp sáng số phận của mỗi người và giúp ích cho những người khác*.

Cung mệnh của các vì sao đã trở thành 1 phần thuộc về thế giới của chúng ta. Trong cuộc sống, những người bình thường cho rằng: kiến thức cao siêu về khoa học của các vì sao chẳng liên quan gì đến họ. Họ chỉ quan tâm đến những câu chữ rõ ràng về cuộc sống của mình ntn khi thuộc về cung mệnh của chòm sao đó để thay đổi bản thân theo cách nào sao cho tương lai tươi sáng hơn.

Người đời chưa tin vào các cung hoàng đạo, nhưng lại muốn biết về ảnh hưởng của khoa học liên quan đến các vì sao trong cuộc sống của mình. Họ ko muốn tìm hiểu sâu xa về các thuật ngữ, các cung vị trong chiêm tinh học, song lại muốn biết tất cả những gì liên quan đến cung hoàng đạo của mình bằng phương thức đơn giản nhất là mua sách hoặc tìm thông tin từ net.** 

(*): Viết theo Giải Mã Ngôn ngữ 12 Chòm Sao của Đinh Trần Tuấn Linh & Nhóm tác giả Chiêm tinh số (Hoàng Thuý Hiền, Minh Phương, Nguyễn Vân)-Asbooks & Nhà Xuất Bản Thế Giới phát hành (2022)

(**): Trích từ 12 Mảnh ghép Vũ Trụ (Asbook & NXB Lao Động phát hành-2013)

Hình ảnh: Chọn từ net

Thursday, January 11, 2024

Cuộc sống bình dị

LỐI SỐNG TỐI GIẢN KHIẾN BẠN HẠNH PHÚC

Nếu chịu khó quan sát thực tại của cuộc sống thì có thể kết luận một cách khách quan: Con người hiện đại đang sống không thực sự hạnh phúc. 

Thật là một điều ngạc nhiên đáng để suy tư, thế giới đang vận hành theo hướng ngày một phát triển ... tất cả đều không ngoài mục đích giúp cho cuộc sống trở nên tiện nghi và hạnh phúc hơn. Thế nhưng, trái ngược với kỳ vọng đó, thực tế lại phát sinh ra những vấn đề đặc biệt: Chiến tranh xung đột, tranh chấp quyền lợi, ô nhiễm môi trường và nạn đói kém, suy dinh dưỡng... vì sao lại như thế?

Có thế nói rằng những điều đó là hệ quả đó xuất

phát từ nguyên nhân nội tại của mỗi cá nhân chúng ta. Cuộc sống mất cân bằng giữa vật chất và tinh thần, chạy theo các giá trị của vật chất, tham đắm vào vật chất, tranh dành sở hữu mà bỏ quên những giá trị tinh thần là nguyên nhân chủ đạo dẫn đến những hệ lụy nguy hiểm cho bản thân mỗi người và cho toàn bộ cộng đồng.

Lối sống tối giản hay tinh thần thiểu dục tri túc trong Phật giáo được đề cập như là một giải pháp vô cùng hữu hiệu để giải quyết vấn đề này. Tối giản và thiểu dục - tri túc không nên được hiểu là chỉ tối giản trong vật chất mà còn là tối giản trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, vức bỏ những thứ không cần thiết, những thứ làm cuộc sống trở nên ngột ngạt và khó thở, chỉ cần có và giữ lại những thứ thật sự những thứ thật sự cần thiết cho nhu cầu của bản thân, biết dừng lại và hướng đến giá trị của nội tâm. 

Đồ đạc không phải là thước đo cho giá trị của con người, không cần thiết phải chạy theo thời đại, mua cho mình những đồ dùng hiện đại nhất, đắt tiền nhất thì mới cảm thấy hạnh phúc. Thay vào đó tăng giá trị nội tại của bản thân đế khiến mình cảm thấy bình an và hạnh phúc hơn. Đồ đạc phải là công cụ giúp cuộc sống bình an và hạnh phúc hơn chứ không phải là nhà giam, giam giữ sự tự do trong tâm hồn.

Phong cách sống tối giản Minimalism

Phong cách sống tối giản bắt nguồn từ Nhật Bản với tên gọi là Danshari hay còn gọi là Minimalism (chủ nghĩa tối giản). Phong cách này bắt đầu trở nên phổ biến ở Nhật vào khoảng năm 2010-2011, đặc biệt sau khi xảy ra thảm họa động đất, sóng thần đột ngột cướp đi hàng ngàn sinh mạng. Những vụ thương vong xảy ra tại Nhật Bản được biết đến với khoảng 30-50% nguyên nhân là do đồ đạc rơi vỡ trong các trận động đất.

Chính vì điều này mà người Nhật đã đặt ra nhiều câu hỏi về ý nghĩa của cuộc sống. Nếu sống trong các căn phòng ít đồ, giản dị thì người dân Nhật sẽ không phải mang trong mình những nỗi lo tồn hại về vật chất lẫn tinh thần.

Danshari[i] bắt nguồn từ ba hán tự: Dan (từ chối), Sha (vứt bỏ) và Ri (Tách biệt). Nghĩa là từ chối việc tiếp nhận thêm thêm những thứ không cần thiết vào cuộc sống, bạn sẽ vứt bỏ tất cả những thứ không cần dùng đến và tránh xa những cám dỗ, những ám ảnh về vật chất. Mục đích là để bản thân được hạnh phúc, bình an và tự do đón nhận những điều mới mẻ, những năng lượng tích cực mà vũ trụ mang đến cho bạn.

Ý nghĩa của từ Danshari:

Dan (đoạn): Từ chối

Để hiểu đơn giản, nó như việc trở thành một người trung thực với chính bản thân mình, chỉ lấy những gì thực sự cần thiết. Đó là một cách để hạn chế "chủ nghĩa tiêu dùng vô tâm" mà có lẽ bất cứ ai trong chúng ta cũng từng mắc phải. Đây là một cách tuyệt vời đế giúp bạn ghi nhớ rằng khi mua bất cứ món hàng nào bạn đều suy nghĩ: "À, mình thực sự cần món đồ này", chứ không phải với cái lí lẽ "Chị bán hàng chào hàng giá ngọt quá"

Sha (xả): Vứt bỏ

Ở đây, nghĩa là sẽ loại bỏ một phần lộn xộn trong thói quen hàng ngày của mình. Chắc chắn rằng sẽ đảm bảo được rằng sự lộn xộn đó và đống dư thừa sẽ nằm trong tầm kiểm soát, chẳng hạn đơn giản như việc vứt rác. Loại bỏ những điều không cần thiết chính là việc đang giúp chúng ta giảm bớt những gánh nặng đang đè lên đôi vai mỗi ngày vậy đó. Nếu không chịu loại bỏ, cứ để chúng tồn tụ theo thời gian thì gánh nặng sẽ ngày càng lớn và có ngày sẽ bùng nổ.

Ri (ly): Tách biệt

Chúng ta tách bản thân mình ra khỏi cám dỗ của vật chất, rời xa cuộc đua hào nhoáng ngoài xã hội và quay trở về với chính bản thân bạn. Cuộc sống bao gồm nhiêu thứ hơn là những gì chúng ta sở hữu. Một khi đã chấp nhận điều này, vũ trụ sẽ mang lại cho chúng ta một món quà lớn hơn rất nhiều. Đó chính là sự hài lòng với những gì mình có hơn là khao khát những gì mình sẽ được tặng.

Tối giản (Minimalism) là một phong cách sống mà ở đó người ta tối giản hóa những vật dụng thực sự cần thiết cho cuộc sống và giảm thiểu tối đa những thứ không cần thiết, ngoài ra còn là cách sắp xếp mọi thức khiến chúng trở nên ngăn nấp và gọn gàng. Tối giản là công cụ để đạt được mục tiêu của mình, bởi vậy có thể hiểu tối giản là công cụ của tự do và hạnh phúc. Người tìm tới lối sống tối giản là người muốn làm cho cuộc sống của mình trở nên thoải mái hơn, hạnh phúc hơn và đặc biệt sống có ý nghĩa hơn.

Nguồn Tác giả: Thích Nhuận Sơn

Wednesday, January 10, 2024

Tình yêu

Tình yêu thương trao cái đẹp cho mọi thứ nó chạm vào.

(R. Tagore)

Tuesday, January 9, 2024

Phụ nữ tân kỳ

 "Về tiền bạc, công việc, tôi cũng ổn định, nhẹ nhàng. Tôi không phải lao theo đồng tiền quá nhiều nữa" – MC Kỳ Duyên nói.

MC Kỳ Duyên đã tâm sự về cảm xúc ở tuổi U60, khi đã trải qua vài chục năm trong nghề: "Bây giờ là lúc tôi hài lòng nhất về mình. Hồi trước, khi còn trẻ, tôi nghe mấy người lớn tuổi nói rằng họ thích tuổi già hơn lúc trẻ. Tôi không tin, nghĩ rằng chắc họ già rồi nên nói vậy.

Nhưng ở tuổi U60 này, tôi thấy hạnh phúc hơn lúc 20, 30, 40 tuổi nhiều. Lúc trẻ, tôi gặp stress nhiều vì phải lo đi học, đi làm, đi kiếm tiền. Tôi sợ bị thiên hạ nói thế này thế kia, ai nói gì cũng sợ.

Ở tuổi này, con tôi đã lớn, bố mẹ không còn. Trong gia đình, tôi là người lớn tuổi nhất. Tôi bỏ ngoài tai mọi thứ thiên hạ nói. Thiên hạ nói tốt thì tôi mừng, thiên hạ nói xấu thì cũng chỉ là ý nghĩ của họ, miễn không đúng với mình thì mình không cần bận tâm, kệ họ nói.

Về tiền bạc, công việc, tôi cũng ổn định, nhẹ nhàng. Tôi không phải lao theo đồng tiền quá nhiều nữa. Tôi rất thoải mái. Đây là lúc tôi cảm thấy tự tin nhất, sống cho chính mình. Tôi không quan tâm đến việc người khác suy nghĩ gì về mình.

Tất nhiên, nếu người ta nói tôi mà thực sự tôi làm không đúng thì tôi sẽ phải để tâm.

Có những đêm tôi đi làm về thấy rất mệt vì tự cảm giác mình chưa làm tới mức ình muốn được. Dù khán giả, đồng nghiệp khi ấy khen tôi, vỗ tay nhiều nhưng tôi vẫn thấy không ok vì đó là cảm nhận riêng của tôi. Tôi nghĩ, cái đó quan trọng hơn là những gì người ta nói về mình".

Tiếp đó, MC Kỳ Duyên tiết lộ: "Nói thật, tôi chưa bao giờ độc thân, chỉ là thiên hạ có biết hay không thôi.

Tôi là người rất đam mê trong tình yêu, nên nếu độc thân lâu thì không có đâu. Ngay cả khi trong một mối quan hệ, tôi cũng không muốn bị gò bó. Tôi muốn được tự do, được mọi người nhìn mình độc thân.

Tôi là người của công chúng, quen với mũi dùi của thiên hạ rồi, nay họ yêu mình mai họ ghét mình chỉ vì một câu nói, rồi sóng gió ập đến. Tôi quen điều đó rồi nhưng người bên tôi không phải celeb nên tôi không muốn lôi họ vào, muốn giữ bình yêu cho họ".

 #ChuyệnCủaSao

Monday, January 8, 2024

Chuyện SG: Từ 1 tấm hình

Mưu sinh và sự tử tế...

Tôi tình cờ chụp được bức ảnh này khi đi ăn trưa tại một nhà hàng nằm ở mặt tiền đường Hàm Nghi, trung tâm Q1, đối diện toà nhà Bitexco. 

Khi ngồi xuống ghế được 2 phút thì có một anh chàng shipper bước vào, bộ đồ anh ấy mặc trên người bạc thếch, ở phần nách áo có một chỗ rách khá to, anh ấy bước đến quầy để xác nhận đơn, chuẩn bị bước ra thì nhân viên bảo anh ấy cứ ngồi lại trong quán vì ngoài trời rất nóng dù khung giờ trưa là giờ đông khách. Chắc vì quá mệt, chỉ tầm 1 phút sau thì tôi thấy anh ấy đã ngủ say. Không có bất cứ nhân viên nào trong nhà hàng kêu anh ấy dậy dù khách cứ nối tiếp nhau bước vào để dùng bữa trưa.

Khách ở nhà hàng chủ yếu là dân văn phòng ở các toà nhà gần đó, nhìn rất dễ nhận ra thông qua trang phục họ mặc trên người… có khi họ đi ăn cùng một nhóm 5-7 người, họ bước vào, mặc nhiên không ai ngồi bàn đó, tôi còn nghe có người nói “để anh ấy ngủ, đừng làm phiền anh ấy” rồi họ bước sâu vào quán hoặc lên lầu để ngồi.

Chẳng ai thấy phiền khi thấy anh ấy ngủ, kể cả chủ và nhân viên của nhà hàng, những vị khách bước vào, trên môi họ nở một nụ cười nhẹ khi nhìn thấy anh shipper ngủ say sưa… Tầm 10 phút sau, nhà hàng chuẩn bị xong đơn và kêu anh shipper thức dậy, anh ấy bừng tỉnh và gãi đầu theo kiểu rất ái ngại… chắc anh ấy không nghĩ rằng mình đã ngủ khi đang chờ đơn.

Albert Schweitzer đã nói thế này: “Cuộc sống trở nên khó khăn hơn khi chúng ta sống tử tế, nhưng nó cũng trở nên đẹp đẽ và hạnh phúc hơn”… Tại sao sống tử tế mà ta lại khó khăn? Vì sự tử tế ấy luôn phải đánh đổi bằng quyền lợi của mình, trong câu chuyện này, nhà hàng đã từ chối để anh shipper ra ngoài chờ đơn vì trời quá nóng, để thực hiện sự tử tế của mình thì họ phải mất một chỗ ngồi cho anh ấy phía trong nhà hàng, trong khi nhà hàng đang giờ đông khách. Nhìn dưới ánh mắt tích cực của Charlie Chaplin thì: “Chúng ta ai cũng muốn giúp người khác. Con người là thế. Chúng ta muốn sống bên hạnh phúc của nhau chứ không phải sự khổ sở của nhau.”

Credit: Dương Anh Vũ

Một năm mưu sinh đã qua, chúc cho tất cả chúng ta luôn nuôi dưỡng sự tử tế luôn có bên trong chính mình 🌻

Sunday, January 7, 2024

Inside us all

The Two Wolves.

An old Cherokee told his grandson,

"My son, there is a battle between two wolves inside us all.

One is Evil. It is anger, jealousy, greed, resentment, inferiority, lies & ego.

The other is Good. It is joy, peace, love, hope, humility, kindness, empathy & truth." 

The boy thought about it, and asked,

"Grandfather, which wolf wins?"

The old man quietly replied,

"The one you feed."

Valleys Coffee Farm

Saturday, January 6, 2024

Miền Bắc: Ký ức thời VNDCCH

THỜI CHÚNG TÔI ĐI HỌC

Thời tôi đi học phổ thông 1959-1970, bố mẹ chú tâm làm ăn lo cho con cái khỏi đóI, đầu tháng chạy tiền đóng học phí cho đàn con, tối tối nhắc con ôn bài và lời khuyên của bố mẹ: “Cố mà học có cái chữ, kẻo lại con trâu đi trước cái cày đi sau con ạ!” thế thôi, chúng tôi đi học hoàn toàn tự  thân, nhà trường và gia đình không gây áp lực thành tích, vì thế học đúp là chuyện bình thường (hai ba năm học một lớp sau này họp đồng môn không kể tuổi tác) kém thì phải học lại thôi, không ai chạy chọt thày cô nâng điểm bao giờ.

Thời đó, chương trình phổ thông là hệ 10 năm. Cấp 1 (lớp 1,2,3,4) Cấp 2 (lớp 5,6,7 và học ngoại ngữ Nga văn, Trung văn là chủ yếu) Cấp 3 (lớp 8,9,10) Sau khi học hết các lớp 4,7,10 đều phải thi tốt nghiệp do sở Giáo dục ra đề thi, giáo viên các trường đi coi thi chéo rất nghiêm túc.

-Học cấp 1 chấm thang điểm 10, bắt buộc học sinh viết ngòi bút sắt chấm mực tím. Học trò tay ai cũng dây mực tím lấm lem. Vở có dòng kẻ ô ly vuông. mỗi lớp chỉ học một thầy dậy cả năm học.

-Sang học cấp 2, làm quen với việc học mỗi môn có một thày cô dạy, ngoài bút sắt học sinh được phép viết bút máy chấm mực xanh; chấm thang điểm 5 theo Liên xô (điểm 4, 5 là khá giỏi, 3 là trung bình, dưới 3 là yếu, kém). Vẫn dùng vở kẻ ô ly hết lớp 5, sau đó thì viết vở giá ba hào sáu.

Tổng kết học kỳ, hoặc cả năm, cả lớp chỉ 1, 2, 3 học sinh giỏi, còn lại khá, trung bình và yếu kém. Cấp 1,2 đến khổ vì tập đội ngũ thể dục, chi đội Thiếu niên Tiền phong. Tối xếp hàng đi hô khẩu hiệu cổ động các phong trào cấy lúa thằng hàng, bầu cử, tòng quân, làm bèo hoa dâu…

Học hết lớp 7 là tốt nghiệp cấp 2, nếu đủ tuổi 16 thì nhiều người đi học Sơ cấp, Trung cấp đào tạo nghề, hoặc các hệ sư phạm 7+1 (đào tạo giáo viên cấp 1) hệ 7+3 (đào tạo giáo viên cấp 2). Học nghề thì có sổ mua lương thực, ra trường thường được phân công tác ngay. số ít ở nhà phụ bố mẹ chỉ khoảng 1/2 sĩ số lớp thi vào cấp 3.

Cấp 3 thang điểm 5 đến hết năm 1969 lại chuyển sang thang điểm 10. Vở viết tuỳ khổ 3 hào 6, hay 5 hào 2, mực xanh. ngoài các môn học thì liên miên lao động XHCN gây quỹ và họp Chi đoàn kiểm điểm binh xét. Học hết lớp 10 phải thi tốt nghiệp cấp 3, nếu đỗ, mới được thi hoặc tuyển vào Đại học. (Có nhiều người đủ điểm vào Đại học nhưng bị đánh trượt với lý do trong 3 năm cấp 3 điểm “hạnh kiểm cả năm” có 1,2 năm chỉ “ khá”) Chỉ 1/3 lớp đỗ vào đại học. Còn lại đi bộ đội hoặc đi làm công nhân hay ở nhà làm xã viên HTX nông nghiệp. 

Thời học sinh phổ thông cả ba cấp đều chung một số điều như sau :

1-Thời đó vệ sinh lớp là của học trò thay nhau trực nhật, quét dọn trong lớp, giặt giẻ, lau bảng sạch sẽ trước khi vào học và sau khi hết tiết học. 1 tuần quy định thứ 5 là ngày lao động, đến trường làm sửa chữa hầm trú ẩn & giao thông hào, vệ sinh đường đi các lớp học sơ tán, hoặc đi giúp nhà dân liệt sỹ neo đơn (vơ cỏ, gặt lúa…) lao động xhcn gây quỹ lớp 

2-Thời ấy nền giáo dục ổn định, nhân văn, dù chiến tranh, nghèo khó; không phải năm nào cũng mua Sách giáo khoa mới. SGK dùng được nhiều năm nên các anh chị học trước để lại cho em, hoặc mượn của bạn bè, nhà trường, cuốn nào cũng được bọc bìa cẩn thận, không ai viết bậy vào sách bao giờ. Lên lớp mới thì mua bổ sung cuốn còn thiếu. Năm 1969 cải cách môn Sinh vật (Gien, các định luật Men đen) mới có tài liệu in rô nê ô

3-Việc học hành nhẹ nhàng, thầy cô chấm điểm bài kiểm tra, bài thi đúng trình độ học lực của tửng học sinh. Phụ huynh và học sinh với quan niệm nếu học kém thì phải thi lại một số môn, lưu ban hoặc vi phạm kỷ luật, học sinh chấp nhận-thầy cô nhận phần trách nhiệm, trước nhà trường…hãn hữu họp phụ huynh. Nhà đông con đi học thì làm đơn xin miễn giảm học phí, lên uỷ ban hành chính xã đóng dấu xác thực nộp cho BGH nhà trường.

4-Đầu tiết học khi thầy cô vào lớp, lớp trưởng đứng dậy hô “Học sinh đứng” cả lớp đứng lên răm rắp. Thầy cho phép mới được ngồi xuống. Ngoài giờ học, bất kể gặp thầy cô ở đâu, học sinh đều đứng nghiêm “Em chào thầy/ cô ạ! “. Thầy cô cười gật đầu đáp lại lời chào. Trong mắt học sinh thời ấy Thầy cô được kính trọng lắm. Thời ấy giáo viên tiêu chuẩn lương thực 13,5 kg, nói rang rảng cả ngày, lớp giáo viên già nhà nước thu dung giỏi chuyên môn, nền nã cung cách, lớp giáo viên trẻ nhiệt huyết đến tận các gia đình học sinh tìm hiểu gia cảnh, cũng vất vả nơi sơ tán…vẫn đào tạo nên một thế hệ tử tế cho đất nước cả trong chiến tranh và hoà bình. Nay họ đã về hưu, đã già, nhưng vẫn được học sinh cũ kính trọng yêu mến thực lòng 

Bây giờ thời @ và 4.0 Ông bà cha mẹ học sinh ngày đêm canh cánh lo cho cháu con chuyện học hành, vật vã trong áp lực, rối bời với thi cử, chọn trường, chọn lớp, quay cuồng với đổi mới, cải cách, thay đổi liên miên của Bộ GD, học phí ngày càng tăng mà chất lượng thì…chưa có hồi kết! 

-Thời của chúng tôi 17 tuổi trở lên phải sẵn sàng đi Bộ đội, giải phóng miền nam thống nhất đất nước-nghĩa là cái sự học hành dang dở, chả hề chi.

Trần Minh Hải (FB)

Hình ảnh: Tác giả st từ net

(31/12/2023)

Friday, January 5, 2024

Lẽ sống - Cách giải quyết khó khăn sẽ giúp ta sống ý nghĩa hơn

Ta trao ý nghĩa cho cuộc đời không chỉ thông qua những hành động khi đáp lời, mà còn có thể đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống như một người đại diện tích cực, vừa như một người tràn đầy tình thương trong sự dâng hiến dành cho cái đẹp, cái vĩ đại, cái thiện. Nhưng tại sao việc trải nghiệm cái đẹp lại có thể khiến cuộc đời trở nên ý nghĩa.

Hãy hình dung bạn đang ngồi trong một khán phòng, lắng nghe bản giao hưởng yêu thích nhất, âm nhạc khiến bạn xúc động đến nỗi như có cơn run rẩy chạy dọc sống lưng. Bây giờ hãy hình dung trong khoảnh khắc ấy có ai đó hỏi rằng cuộc đời bạn có ý nghĩa gì không. Chắc chắn trong trường hợp này, bạn chỉ có thể đưa ra một câu trả lời đại loại: “Cuộc đời tôi có ý nghĩa vì đã được sống trong chính khoảnh khắc này!”.

Những người không thưởng thức nghệ thuật mà tận hưởng thiên nhiên có lẽ cũng có cảm giác tương tự như vậy, và cả những người trải nghiệm việc tìm hiểu người khác cũng vậy. Ta không biết được thứ cảm giác bất thình lình ập đến với sự hiện diện của một người đặc biệt là gì, và ta diễn dịch cảm giác ấy một cách đại khái: việc người ấy tồn tại trong thế giới này, chỉ việc ấy thôi đã khiến cho thế giới và cuộc đời trở nên có ý nghĩa.

First News Trí Việt

Thursday, January 4, 2024

YÊU

 Kẻ hững hờ chỉ yêu bằng mắt. Kẻ si tình yêu với cả trái tim.

(Copy từ net)

Wednesday, January 3, 2024

VŨ THƯ HIÊN- NGƯỜI GIÃ TỪ THIÊN ĐƯỜNG ẢO ẢNH

Khi nhát dao chém ngang hình đất nước, thì văn học Việt cũng chẻ đôi dòng chảy. Bắc Nam như hai thái cực đối nghịch nhau về cả tư tưởng lẫn bút pháp. Sau Nhân văn giai phẩm, trên đất Bắc lại một cuộc nồi da xáo thịt nữa xảy ra với cái tên gọi mơ hồ: Xét Lại. Cơn sóng ngầm ấy cuốn đi rất nhiều công thần, và những nhà báo, văn nhân, một thời đã từng là bạn bè, đồng chí. Nhà văn Vũ Thư Hiên và cha mình, cụ Vũ Đình Huỳnh, người thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng nằm trong số đó. Chín năm dài đằng đẵng trong lao tù, cứ tưởng Vũ Thư Hiên đã đoạn tuyệt với văn thơ. Nhưng kỳ lạ thay, chính những năm tháng quằn quại đớn đau ấy là chất liệu, nguồn thực phẩm vô tận nuôi dưỡng, thôi thúc tâm hồn, để Vũ Thư Hiên viết nên những tác phẩm tuyệt vời, với bút pháp hiện thực nhân đạo đặc trưng đến vậy. Và có thể nói, những tác phẩm ấy, không chỉ được viết bằng tài năng, trí tuệ mà còn thấm đẫm cả máu và nước mắt của nhà văn.

Vũ Thư Hiên người gốc Nam Định, sinh năm 1933 tại Hà Nội, trong một gia đình cha mẹ đều là thành viên của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tiền thân Ðảng Cộng sản Ðông Dương. Các cụ từng là đồng chí, bạn bè thân thiết, hầu hết của các lãnh tụ Đảng CS, và đã giúp đỡ, cưu mang họ ngay từ những ngày đầu còn trứng nước. Do vậy, như một dòng chảy tự nhiên, Vũ Thư Hiên sớm đứng vào hàng ngũ của những người kháng chiến. Mười ba tuổi ông đã tham gia đội tuyên truyền xung phong. Rồi trở thành người lính năm mười sáu tuổi. Cùng đó, tài năng văn thơ Vũ Thư Hiên cũng sớm bộc lộ trong thời gian này. Vở kịch đầu tay Lối Thoát viết năm hai mươi tuổi (1953) là thẻ thông hành đưa Vũ Thư Hiên nhập vào làng văn nghệ kháng chiến. Vài năm đầu thập niên sáu mươi, sau thời gian tu nghiệp ở Nga Xô, Vũ Thư Hiên được độc giả biết đến nhiều hơn, từ bản dịch Bông Hồng Vàng, và tập truyện ngắn của nhà văn Paustovsky. Nhưng chỉ đến khi truyện ngắn “Đêm Mất Ngủ“, và kịch bản phim “Đêm Cuối Cùng, Ngày Đầu Tiên“ bị Tố Hữu, Nguyễn Chí Thanh gán cho cái tội bất mãn chế độ, không lập trường giai cấp, cùng tập truyện Đêm Mùa Xuân (nhà xuất bản Lao Động 1963) bị thu hồi, thì Vũ Thư Hiên mới trở nên nổi tiếng. Năm 1976 ra tù, ông vẫn dịch sách, và viết tiếp kịch bản phim, sân khấu. Tuy nhiên, xét về nội dung nghệ thuật, Miền Thơ Ấu, Đêm Giữa Ban Ngày và tập truyện ngắn được viết gần đây mới là những tác phẩm văn học đặc sắc, đóng đinh tên tuổi Vũ Thư Hiên vào lòng người.

*Thủ pháp nghệ thuật rọi sáng một tài năng.

Tôi đã đọc khá nhiều truyện thiếu nhi trong và ngoài nước. Nhưng có thể nói, Miền Thơ Ấu của Vũ Thư Hiên là một trong rất ít những cuốn hay nhất, từ trước đến nay mà tôi đã được đọc. Tôi nghĩ, Miền Thơ Ấu hay, sống được trong lòng người đọc không hẳn do cốt truyện nội dung tình tiết, mà bởi bút pháp, và văn phong đặc trưng Vũ Thư Hiên. Hơn nữa, trong truyện ký, hồi tưởng dường như qua lăng kính của các nhà văn sinh trưởng từ thị thành khi viết về thôn quê sẽ khách quan, mang tính khám phá, sinh động hơn. Nó gây cho người đọc có cảm giác thú vị như được cùng tìm hiểu, khám phá vùng quê ấy cùng nhà văn chăng? Thật vậy, ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây, để thấy được cái sự thờ ơ của anh Cu Nhớn trước cái miền quê mình đang sống, nhưng lại rất đẹp, cuốn hút cậu bé thị thành Vũ Thư Hiên. Có thể nói, đây là những trang văn đẹp như một bài thơ của Vũ Thư Hiên vậy:

“Những chiếc lá tre rơi lềnh phềnh trên mặt nước khẽ rùng mình mỗi khi có gió thoảng. Lũ thờn bơn với cặp mắt đen láy ngo ngoe trên mặt nước. Trên cao, một con bói cá xanh biếc ngồi yên lặng như một nhà hiền triết. Thỉnh thoảng, nó rời cành cây khô lao vút xuống nước như một mũi tên vừa rời cây cung, rồi lộn trở về đậu vào chỗ cũ, hai cánh xòe ra phơi gió. Trên làn nước gần như bất động, những con kéo vó lênh khênh nhẹ nhàng trượt qua trượt lại trong một điệu vũ khó hiểu. Tất cả thu hút tôi, còn anh Cu Nhớn thì thờ ơ, anh chỉ gắn chặt mắt vào những cái phao trắng muốt làm bằng cuống tỏi.“ (Miền thơ ấu-Sách đã dẫn)

Trước đây mấy năm, có lẽ, nhà văn Phạm Thành đã không đồng cảm, khi tôi cho rằng: Tuy Cò Hồn Xã Nghĩa, một tác phẩm rất can trường và đồ sộ vừa ra lò, nhưng Hậu Chí Phèo mới chính là tác phẩm tiêu biểu, làm nên chân dung nhà văn Phạm Thành, dù nó được viết đã rất lâu rồi. Bởi, trong văn chương đôi khi có những sự việc, câu chuyện được coi là nhỏ nhoi, tầm thường, nhưng mang ý nghĩa sâu sắc, tư tưởng không hề nhỏ đến với người đọc. Cùng ngôn ngữ trong sáng giản dị, với cái quan sát tỉ mỉ khi miêu tả, hoặc mượn thiên nhiên, sự vật bộc lộ tâm trạng cũng như gửi tâm sự của mình vào đó, để làm nên tác phẩm. Nghệ thuật này, như một phần cán cân định lượng giá trị của một tác phẩm văn học. Cho nên, khi đọc Miền Thơ Ấu, tôi đã phải dừng nhiều lần, đọc đi đọc lại những trang văn như vậy. Sự rung cảm ấy, dường như Vũ Thư Hiên không chỉ dắt ta về với tuổi thơ, mà còn cho người đọc tìm hiểu và khám phá nó, mà từ bấy lâu nay cứ ngỡ rằng, tầm thường giản đơn:

“Anh Cu Nhớn không phải chỉ giỏi câu. Anh có những cần câu tuyệt vời, tự làm lấy. Hóa ra nghệ thuật làm cần câu chẳng đơn giản chút nào. Anh phải ngắm nghía, chọn lựa những cành tre đực thẳng và đẹp từ khi chúng còn ở trên cây, xanh rờn và mềm oặt. Phải chờ cho đúng đủ già, anh mới bắt, hơ lửa uốn cho không được phạm, nghĩa là vô ý để lưỡi dao ăn quá sâu vào thịt tre. Rồi gác cái cần câu đã được chế tạo lên ránh để cho khói và thời gian làm cho nó lên nước, sau đó hạ xuống đánh bóng bằng xơ tre, rồi ngâm xuống ao cho cần câu dẻo lại, khi ấy mới dùng được. Một cái cần câu như thế sẽ dẻo đến nỗi gặp cá to nó sẽ uốn mình cong vút tới tận cán nhưng không chịu gãy.“ (Miền Thơ Ấu- Sách đã dẫn)

Qủa thật, đọc Miền Thơ Ấu của Vũ Thư Hiên đã gây cho tôi nhiều lần bật cười thích thú, bởi sự liên tưởng so sánh rất lạ, và phong phú mà rất ít gặp ở các nhà văn khác: “Thường như vậy, bà đang kể, đang kể, bỗng im bặt, tựa bà đang đi thì bước hẫng, rơi xuống hố sâu kỷ niệm rồi không trèo lên được“. Có thể nói, lời văn đẹp và trong sáng cũng là một trong những đặc điểm nổi bật nhất trong những trang văn của Vũ Thư Hiên. Đoạn văn sinh động, giầu hình tượng so sánh dưới đây, ngoài sự trong sáng, tài năng khai thác, nắm bắt tâm lý nhân vật, con người của Vũ Thư Hiên, còn đọng trong ta cái mang mang hoài cổ, dấu ấn mù sương huyền bí của những sinh hoạt cùng tập tục dân gian, cổ truyền ở một làng quê Việt:

“... Đang kể, cô Gái bỗng ngừng bặt. Rồi lẳng lặng tiếp tục viên thuốc, như thể bà chưa kể điều gì. Thường như vậy, bà đang kể, đang kể, bỗng im bặt, tựa bà đang đi thì bước hẫng, rơi xuống hố sâu kỷ niệm rồi không trèo lên được. Để nhắc bà, tôi cố ý cho bánh xe gang chạm vào thuyền tán gây nên một tiếng keng lớn. Cô Gái sực tỉnh. - Rồi sao nữa, hả cô? - ờ, cô kể đến đoạn nào rồi nhẩy…“ (Miền Thơ Ấu- Sách đã dẫn)

Vũ Thư Hiên có thời gian dài học tập, nghiên cứu sân khấu, điện ảnh ở Nga Xô. Do vậy, đi sâu vào đọc, nghiên cứu, ta có thể thấy, không chỉ trong lãnh vực kịch nghệ, mà nghệ thuật viết truyện của Vũ Thư Hiên cũng chịu ảnh hưởng sâu sắc Văn học châu Âu, cụ thể từ các nhà văn Anton Pavlovich Chekhov (1860–1904) và Konstantin Paustovsky (1892-1968)… Bố cục truyện giản dị, với những hình ảnh ẩn dụ chìm trong ngôn ngữ trong sáng, mộc mạc. Và nhà văn thường cài đặt suy nghĩ của mình vào nội tâm nhân vật một cách gián tiếp, mở đầu, hay kết thúc truyện (bằng cách) đột ngột, cắt ngang, hoặc bỏ ngỏ làm cho người đọc luôn phải suy nghĩ, rồi tự đưa ra những nhận định của riêng mình. Ba Ngày Ở Thị Trấn Cù Cưa là một trong những truyện ngắn rất hay và điển hình về đặc tính nghệ thuật như vậy của Vũ Thư Hiên. Đây là truyện ngắn có nội dung cũng như bố cục rất đơn giản, nhưng nội hàm, ý đồ chuyển tải của tác giả đến người đọc một vấn đề lớn lao. Nếu gấp trang sách lại, lặng yên ngẫm nghĩ một giây phút thôi, ta sẽ thấy được sự tráo trở, lưu manh tận cùng khi đã có quyền lực của kẻ từng được nhân dân nuôi dưỡng và che chở. Cái chết bởi lũ quét của Con Nặc Nô để đi đến cái kết câu chuyện, như một lời dự báo sự sụp đổ của một vương triều độc đoán. Tính dự báo ấy, trong truyện ngắn Vũ Thư Hiên tuy làm cho người đọc bùi ngùi, nhưng vỡ òa, sảng khoái như nút thắt trong vở kịch đã được mở vậy. Ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây, để hiểu thêm về cái chủ thuyết, một đảng phái hoang tưởng vô gốc gác, không cội nguồn thông qua hình ảnh Con Nặc Nô đầy quyền lực, cũng như tài năng sử dụng từ ngữ, hình ảnh ẩn dụ của Vũ Thư Hiên:

“ …Chính chúng tôi cũng còn nhầm nữa là. Con Nặc Nô ấy à, là con mồ côi đấy. Chúng tôi nuôi nó từ tấm bé. Gọi là con mồ côi cũng là quen miệng thôi, chứ không đúng. Nó là đứa con hoang, không cha không mẹ. Chính cô con dâu lão Trưởng Giám nhặt được nó ở đầu ngõ, bọc trong mớ giẻ. Không biết đứa trốn chúa lộn chồng nào nỡ vứt đứa con rứt ruột đẻ ra như thế? Nó lớn lên, cả xóm đùm bọc nó. Mới nghĩ rằng tre già măng mọc, nay nó trưởng thành, nó là người đứng đầu ở đây thì dân được nhờ, ăn cây nào rào cây ấy. Hoá không đánh sượt) Lúc bé nó ngoan lắm. Ai cũng yêu…Con này mà nói thì khéo vô cùng. Nó nói kiến trong lỗ phải bò ra… Phàm cái gì từ miệng nó phát ra đều hay cả, cứ gọi là ngọt như mía lùi. Nhưng khốn nạn, hay thật đấy, cơ mà chỉ hay cho nó, chứ không hay cho mình… “

Miền Thơ Ấu, là một tác phẩm đặc biệt của văn học sử Việt Nam. Bởi, nó được hoài thai, và ra đời ngay trong ngục tù. Khoảng cách ba mươi năm dài dằng dặc từ tuổi thơ đến những ngày gông cùm, tăm tối nhất, nhưng sự trong trẻo, bình yên vẫn hiện lên đầy ăm ắp trong tâm hồn Vũ Thư Hiên. Sự hồn nhiên, trong sáng ấy, cùng với lòng nhân đạo, tính vị tha xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo văn chương của ông. Nếu như nói văn là người, thì Vũ Thư Hiên là một trong rất ít nhà văn, tôi tin như vậy.

*Sự can đảm trước bạo quyền qua ngôn ngữ điện ảnh.

Truyện ký, tùy bút, hồi ký là thể loại văn học mà tôi thích và luôn tìm đọc. Ngày còn học sinh trung học, chúng tôi đã được đọc, và học Trận Phố Ràng của Trần Đăng, Bất Khuất (của Nguyễn Đức Thuận). Gần đây, khi đọc cuốn Đèn Cù tôi mới biết Trần Đĩnh là người chấp bút cho cuốn Bất Khuất này. Và nhân đây, nên nói thẳng, cuốn Bất khuất của Trần Đĩnh, đưa vào chương trình giảng dạy ở bậc trung học trước đây chẳng khác gì thứ bả chuột câu nhử tâm hồn trẻ thơ. Còn Đèn Cù của Trần Đĩnh về nội dung tôi không dám mạn đàm, nhưng về câu cú, từ ngữ trên trang sách, quả thực tối thui về ngữ nghĩa. Sau Bất Khuất của Trần Đĩnh, tôi có được đọc Qua Sông Đón Súng của Trần Độ văn phong khá hay. Rồi lại gặp phải một số hồi ký nhạt nhẽo của mấy ông to bà lớn do bác thợ Hữu Mai chấp bút… Tuy nhiên, cũng may mắn thay, có hai cuốn Chuyện Kể Năm 2000 và Đêm Giữa Ban Ngày của hai tù nhân Bùi Ngọc Tấn, Vũ Thư Hiên đã thổi một luồng gió mới vào văn đàn đang gà gật vào những năm cuối thế kỷ hai mươi, đầu thế kỷ hai mốt này.

Tôi đã đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên cách nay khoảng hai chục năm, giờ ngồi đọc lại vẫn thấy mới, và cái cảm giác lần đầu vẫn còn y nguyên. Có thể nói, Đêm Giữa Ban Ngày là cuốn sách toàn bích về cả nội dung lẫn nghệ thuật. Nhiều người cho rằng, Đêm Giữa Ban Ngày là hồi ký chính trị. Còn tác giả Vũ Thư Hiên bảo: Văn học đích thực không có chỗ nơi đây. Có lẽ, ông quá khiêm tốn chăng? Tôi không nghĩ như vậy. Bởi, chính trị, hoặc thể thao hay gì gì đi chăng nữa đều có thể trở thành chất liệu sống cho văn học, nếu nhà văn ấy thực sự có tài năng. Dường như, khi nói những câu nhún nhường, khiêm tốn này, nhà văn Vũ Thư Hiên đã quên khuấy mất câu nhận định của Paustovsky, mà ông đã trích dẫn ở trong tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày chăng :"Nhà văn cứ thản nhiên mà sống. Chẳng có gì của cuộc đời đi qua mà không để lại dấu vết, không trở thành tài liệu văn học". Hơn thế nữa, với văn phong, thủ pháp nghệ thuật đặc trưng, cùng xúc cảm, và tính nhân đạo khi viết của nhà văn Vũ Thư Hiên đã vượt lên trên những tình tiết chính trị khi trần thuật. Và chính lúc không nghĩ mình làm văn, thì những trang viết ấy lại mang đậm chất văn học nhất. Do vậy, với tôi Đêm Giữa Ban Ngày là một cuốn hồi ký văn học đích thực.

Sinh ra, lớn lên và sống trong một giai đoạn lịch sử đảo điên: “chúng tôi ra đời trong thân phận nô lệ, lớn lên trong khói lửa chiến tranh và trưởng thành trong nỗi sợ hãi các đồng chí.” (Đêm giữa ban ngày). Do vậy, cuộc sống, sự nghiệp văn chương của Vũ Thư Hiên bị bủa vây trong cái vòng tròn nghiệt ngã đó. Chín năm tù đày, và những ngày tháng bị truy sát trốn chạy, để đổi lấy sự thật, đổi lấy một cuốn sách, thì quả thật giá trị ấy phải cân bằng máu, bằng sinh mạng của nhà văn.

Có thể nói, Đêm Giữa Ban Ngày là một bi hài kịch lớn của cả dân tộc. Bức màn sân khấu cung đình đã được kéo mở, bằng sự can trường của Vũ Thư Hiên. Với ngòi bút tài ba ấy, ông bóc dần những lớp lang thối tha bỉ ổi nhất của tầng lớp vua chúa, quan lại. Đây là một trong những cuốn sách được người đọc từ trong đến ngoài nước mong đợi, yêu mến và đồng cảm nhiều nhất, trong suốt những thập niên vừa qua.

Thật vậy, truyện bắt đầu từ một lát cắt ngang bởi hành động bắt cóc tác giả, nhà văn Vũ Thư Hiên ngay trên đường phố. Cùng hình ảnh bông hồng vẫn còn trên tay người nghệ sĩ, văn nhân trong Lễ Giáng Sinh, ngừng chiến, thì dường như mức độ tàn nhẫn, kịch tính mới bắt đầu đẩy lên cao:

“Vừa lôi thốc tôi lên xe, tên ngồi bên phải lập tức bẻ quặt tay tôi ra sau lưng. Bàn tay y cứng như sắt. Một nòng súng lục thúc mạnh vào sườn tôi bên trái. Tôi nhăn mặt vì đau. Trong đợt này, cùng với tôi, còn có những ai bị bắt? Ðó là ý nghĩ đầu tiên đến với tôi, không hiểu sao lúc ấy lại dửng dưng với số phận mình đến thế. Người lái xe quặt mạnh vô-lăng. Chiếc xe lạng sang một bên, xoay nửa vòng rồi lao về phía Tràng Thi. Tôi vẫn cầm bông hồng Nam Dương, quà tặng của một người bạn vong niên, trong bàn tay trái còn được thả lỏng.“ (Đêm Giữa Ban Ngày- Sách đã dẫn)

Và khi sự đối đầu giữa nhà văn Vũ Thư Hiên với Huỳnh Ngự, với Hoàng…thì kịch tính ấy lên tới đỉnh điểm trong "Đêm Giữa Ban Ngày". Đôi khi làm cho người đọc toát cả mồ hôi hột. Có một số người, trong đó có cả người đã kinh qua tù tội cho rằng, Vũ Thư Hiên đã tiểu thuyết hóa những tình tiết này. Nhưng tôi nghĩ, hành động đối đầu với an ninh trên những trang sách của Vũ Thư Hiên hoàn toàn có thực. Bởi, Vũ Thư Hiên sinh ra, lớn lên trong gia đình rất đặc biệt. Cha mẹ ông đều là thành viên của Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, tiền thân Ðảng Cộng sản Ðông Dương. Họ từng là đồng chí, bạn bè, ân nhân hầu hết của các lãnh tụ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ…Ngay từ nhỏ Vũ Thư Hiên đã từng tiếp xúc, làm quen, cho nên hiểu khá rõ ràng cái chính thể này từ thượng tầng trở xuống. Lúc cụ Vũ Đình Huỳnh còn là thư ký cho Hồ Chủ Tịch đầy quyền lực, chắc chắn có nhiều kẻ chức tước không nhỏ đến cầu cạnh, làm quen Vũ Thư Hiên, kể cả các văn nghệ sĩ tên tuổi. Tuy nhiên, người có chí khí đã rất ít, giữ được sự can đảm ấy ở trong tù, thì quả thật càng hiếm và mong manh lắm. Tôi có ông bác họ Đặng tham gia Việt Minh chống Pháp rất hăng. Bị bắt nhiều lần, không chịu khai báo bị tra tấn dã man. Và nghe kể, ông có gan chịu đòn số một của Việt Minh. Sau này, bác chức tước cũng kha khá. Hỏi và khen bác sao giỏi thế. Ông nháy mắt cười rất nghệ sỹ: Giỏi đếch gì, lần nào chúng nó chỉ đánh đến trận thứ 8, thứ 9, chán rồi bỏ. Nếu chúng cố đánh trận thứ mười, biết đâu tao khai tuốt tuồn tuột. Cũng như tôi vậy, một kẻ viết văn tép riu, mấy năm trước lò dò về Việt Nam, bị mấy đồng chí an ninh, tuổi con cháu bắt giữ, trục xuất về Đức. Trong lúc hỏi han thẩm vấn có đồng chí cháu đập bàn quát, anh là kẻ ngụy biện. Cáy ngày, thỏ đế như tôi, ấy vậy mà cũng phát khùng, đứng dậy chỉ mặt, không làm việc nữa. Chứ tầm cỡ như Vũ Thư Hiên nhịn thế chó nào được.  Cho nên, cha vừa bị chính các đồng chí bắt, mình lại vào tù nhiều lúc Vũ Thư Hiên bất cần, khùng lên chiến đấu là điều dễ hiểu thôi. Đoạn trích dưới đây, không chỉ đối đầu bằng trí tuệ, mà ta còn thấy, Vũ Thư Hiên không ngại động đậy bằng cả chân tay, cơ bắp, nếu buộc phải như vậy:

“– Có cái này thì được, tôi sẵn sàng nói : Đó là tất cả những gì thuộc về tôi, thuộc về một mình tôi. Anh có thể đề đạt với tôi bất cứ điều gì có lợi cho anh. Chẳng hạn, tôi sẽ nhận tôi là Việt Quốc, Việt Cách, Ðại Việt hay là cái gì đó anh muốn… Tôi sẽ ký, thật đấy. Giờ đây tôi chẳng còn gì để mà mất. Lịch sử không mù. Nó sẽ tìm ra sự thật, nó sẽ lên tiếng, không phải trong tương lai gần thì trong tương lai xa. Còn ngay bây giờ anh sẽ được lên lương, chị và các cháu sẽ bớt được một phần vất vả. Ðây là việc tốt, có thể là việc tốt cuối cùng mà tôi có thể làm cho ai đó…

Hoàng gầm lên, đập mạnh tay xuống bàn :

– A, anh dám láo hả ? Láo !

– Chính anh láo !

Tôi tức lắm rồi, tôi đập bàn còn mạnh hơn. Bộ đồ trà nhảy lên, mấy cái chén rơi loảng xoảng xuống nền gạch, vỡ tan.

Hoàng chồm tới :

– Mày sẽ biết tay tao !

Nhìn bộ mặt đỏ gay của Hoàng, nhìn nắm đấm chực vung lên của anh ta, tôi nghĩ anh ta sẽ đánh tôi. Tôi lùi lại, tay vung lên cái ghế ba nan.” (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Chuồng người, một danh từ mới ghép, hoán chuyển thành tính từ chỉ cái dã man tàn bạo của chế độ lao tù, một cách đầy sáng tạo của Vũ Thư Hiên. Nơi đây, chẳng khác gì nhà tù phát xít, tận cùng nơi địa ngục trần gian. Không chỉ hành hạ tinh thần bằng những thủ đoạn lưu manh, không hề có ở ngoài đời, mà còn triệt hạ người tù bằng những miếng ăn bẩn thỉu, nhục nhã đê hèn. Cái đói đưa nhân phẩm con người trở về súc vật. Một miếng ăn trả giá bằng mạng sống của con người. Vâng! Nếu chưa đọc những hồi ký, bút ký, văn thơ của các nhà văn tù tội khác như: Bùi Ngọc Tấn, Phan Nhật Nam, Phạm Tín An Ninh, Nguyễn Chí Thiện…thì tôi không dám tin, chỉ vì tranh nhau một miếng thịt gà chết (thối) mà Nhân đã chém chết Hán còi, trong tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày là sự thật:

“Nhân mài con dao chẻ tranh cho tới khi nó sắc như nước. Hán Còi đang ngủ trưa. Nhân đến, xoạc chân trên ngực kẻ thù :

– Hán Còi !

Hán Còi choàng tỉnh.

– Nhìn tao trả thù này !

Nhân chém một nhát, như bổ củi. Ðó là nhát quyết định. Hán Còi bật dậy, ôm lấy cổ.” (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Những kẻ tiếm quyền, phi nghĩa dù có sức mạnh, thế lực thế nào đi chăng nữa, nhưng luôn phải sống trong sự sợ hãi, yếu đuối, nhìn đâu cũng thấy kẻ thù. Do vậy, sự đuổi cùng giết tận ấy, nảy sinh ra rất nhiều chuyện thật bi hài, và cái mong manh của thân phận con người. Câu chuyện Vũ Thư Hiên được nghe người bạn tù lâu năm dạn dày kinh nghiệm kể dưới đây, làm sáng tỏ thêm cái xã hội thối nát, luật pháp đảo lộn tùng phèo ấy:

“ Tôi biết có người hoàn toàn vô tội, ở tù sơ sơ cũng vài năm, thế mà ra tù cậy miệng anh cũng không dám nói anh ta bị oan. Thậm chí anh ta còn nói đảng bắt anh ta là đúng, rằng sở dĩ anh ta được tha, không bị xử là nhờ lượng khoan hồng của Đảng…Ông có biết vì sao không? Là vì anh ta nhận tội rồi, ký vào bản cung người ta mớm cho rồi, bây giờ há miệng mắc quai, lại còn sợ bị trả thù vì phản cung nữa chứ. Tôi nghiệp, bị oan rồi mà đến một cái lệnh tha cũng chẳng được cấp, chỉ được thí cho một cái lệnh tạm tha thôi. Tạm tha là thế nào? Là người ta tạm cho về, nhưng coi chừng, bất cứ lúc nào anh cũng có thể bị bắt lại, đừng có đùa. Trong lệnh tạm tha người ta ghi: Xét tội trạng chưa tới mức phải xử lý theo pháp luật…” (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Khi phân tích tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày, một số nhà phê bình đã viết: Tính nhân đạo của tác phẩm còn thể hiện rõ qua hình ảnh Arlequin (tên con cóc nhỏ) được nuôi dưỡng, chăm sóc trong chốn lao tù. Nhưng theo tôi, không hẳn như vậy. Bởi, tính nhân đạo qua hình ảnh này, chỉ là hiện tượng, một cái vỏ ta mới nhìn thấy. Cái lõi, đằng sau hình ảnh Arlequin là nỗi cô đơn, và khát vọng tự do của con người. Lời tự sự của Arlequin và tác giả đã được hình tượng hóa thông qua ngôn ngữ điện ảnh. Sự tiểu thuyết hóa (nhân cách hóa) những tình tiết, hình ảnh để bật lên tiếng nói khát vọng tự do ấy, một lần nữa cho ta thấy, không có sự ràng buộc về thể loại trong văn xuôi của Vũ Thư Hiên. Ông trộn các thể loại vào nhau như người trộn men vào cơm rượu vậy, như cách nói của nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Đây cũng là một đặc tính nổi bật trong văn xuôi Vũ Thư Hiên. Đoạn trích dưới đây sẽ làm sáng tỏ điều đó:

“- Và anh muốn cầm tù tôi cùng với anh ?

- Tôi không cầm tù Arlequin, tôi chỉ muốn Arlequin ở cùng tôi thôi. Không có Arlequin tôi buồn lắm.

Arlequin nói, ngậm ngùi :

- Tôi cũng muốn ở cùng anh, nhưng rất tiếc, không thể được. Tôi là một con cóc. Không con vật nào muốn sống trong lồng, trong chuồng, anh có hiểu như thế không ? Sống như thế không phải là sống. Chúng tôi không cầm tù nhau như các anh, loài người ... Không biết và không nỡ. Tôi biết : các anh nghĩ rằng loài người các anh là sinh vật thượng đẳng, các anh coi các anh cao hơn các loài khác, nhưng tôi nghĩ các anh lầm. Hoàn toàn không phải thế... “ (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Ngoài những tác phẩm văn học, tôi đã đọc khá nhiều những bài báo, bài nghị luận xã hội của Vũ Thư Hiên. Đặc biệt là những bài báo của ông luôn mang hơi thở của cuộc sống, và đậm chất văn ở  đó. Do vậy, nhiều lúc, tôi không thể phân biệt rạch ròi đâu là văn, đâu là báo của Vũ Thư Hiên. Có điều chắc chắn rằng, dù văn hay báo cái tính khí của ông không hề thay đổi. Và có bài, đọc một lần, tôi cứ bị ám ảnh mãi.

*Tính chân thực, nhân bản và lòng vị tha

Có thể nói, hồi ức với những tình tiết đan xen, chồng chéo không theo một trình tự nhất định là thủ pháp nghệ thuật đặc trưng xuyên suốt tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày. Cũng với thủ pháp này, đã được Bảo Ninh sử dụng rất thành công ở tiểu thuyết Nỗi Buồn chiến tranh. Tuy xuất hiện ở châu Âu đã lâu, nhưng nó còn khá xa lạ với văn chương Việt cũng như người đọc. Với thủ pháp nghệ thuật sinh động như thước phim quay ngược về qua khứ, không chỉ dẫn dắt, buộc người đọc đi hết trang sách, mà  dường như còn có độ lùi về thời gian để Vũ Thư Hiên chiêm ngẫm, để tạo nên tác phẩm chân thực, sâu sắc hơn.

Do mối quan hệ của gia đình, cho nên ngay từ nhỏ Vũ Thư Hiên quen biết, tiếp xúc nhiều lãnh tụ của Đảng CS và chính quyền. Đó là chất liệu sống để ông dựng nên tác phẩm này. Tuy không đưa ra những nhận định của mình, nhưng Vũ Thư Hiên bóc trần tất tần tật nhân cách của những hàng ngũ lãnh tụ, trí thức, nhà văn để người đọc tự suy nghĩ và định luận. Từ vụ xe cán chết cô Nông Thị Xuân có liên quan đến Hồ Chí Minh, Trần Quốc Hoàn hay nhân cách: Lê Duẩn, Trường Chinh, Nguyễn Lương Bằng, Lê Đức Thọ…đến bọn lưu manh trộm cướp tù hình sự hiện lên một cách rất rõ ràng, rành mạch. Thâm cung bí sử, và những thối tha, bỉ ổi cung đình đã được Vũ Thư Hiên đưa lên bàn mổ. Thời gian sớm, muộn khác nhau trải trên trang giấy, qua sự hồi tưởng của nhà văn, tưởng rằng những nhân vật, tình tiết và sự việc ấy, sẽ rời nhau như hạt cát ven sông, vậy mà khi nằm trong tổng thể cuốn sách, kỳ lạ lại có sự liên kết, bố cục thật chặt chẽ. Có thể nói, đây không chỉ là tư liệu văn học, mà còn là tài liệu chân thực cho sử học sau này.

Dường như, muốn giảm bớt căng thẳng, làm dịu trang sách, Vũ Thư Hiên dắt người đọc ngược về với ký ức tuổi thơ và gia đình. Có thể nói, Vũ Thư Hiên rất tài năng khi viết về văn tự sự, cũng như diễn biến nội tâm nhân vật. Chỉ một sự việc rất nhỏ, vậy mà ông đã cho người đọc nghiệm ra nhiều điều. Lời văn chân thực, nhẹ nhàng, hồn nhiên bộc lộ tư tưởng tự do cá nhân, được toát ra từ hình ảnh ẩn dụ thật sâu sắc. Đoạn văn dưới đây sẽ làm sáng tỏ điều đó:

"Ông không biết gọt cam, hay gọt khoai như cách chúng tôi, mà gọt ngược lại... Mẹ tôi thì thầm với tôi rằng, bác Ba quen gọt như thế bởi vì bác ở bên Tây quá lâu

-Người Tây họ cũng gọt như vậy hả mẹ?

-Họ gọt vậy.

-Thế là gọt ngược, mẹ nhỉ?

-Nếu họ thấy mình gọt, họ cũng bảo là mình gọt ngược.

-Ngược là ngược mà xuôi là xuôi chứ.

-Bao giờ con lớn lên, con sẽ hiểu được rằng không phải tất cả mọi người đều giống nhau, con sẽ phải công nhận cái mình cho là ngược có khi lại là xuôi đối với người khác“ (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Để mang tính chân thực, Vũ Thư Hiên thường mượn nhân vật để bộ lộ cảm xúc, tư tưởng, yêu ghét của mình. Hoặc ông đưa ra vấn đề tự người đọc phải suy nghĩ. Về Chủ Tịch Hồ Chí Minh, người trước đây ông rất yêu kính. Nhưng từ ngày cha ông, Cụ Vũ Đình Huỳnh, và bản thân bị bắt vào nơi tù đày, thì dường như tình yêu ấy của Vũ Thư Hiên đã rơi rụng mất. Lời nhận xét dưới đây của Thành, một người bạn cùng tù đầy, phải chăng đó cũng là sự suy nghĩ của cả Vũ Thư Hiên?

“Nhà tù cho tôi thấy một điều : không có tình đồng chí ! Chúng ta nhầm. Bây giờ tôi mới hiểu : ông Hồ không phải đồng chí của ta, ông ấy cũng là vua như các ông vua khác, lại không phải vua hiền. Ông ấy biến những con người lương thiện thành những con quỷ. Ông ấy là quỷ vương". (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Với Lê Duẩn, hoặc Lê Đức Thọ có lẽ chưa bao giờ được Vũ Thư Hiên nể trọng. Tuy nhiên, có thể thấy, lời văn của ông rất chừng mực. Và vẫn hình ảnh so sánh ẩn dụ, chân dung, nhân cách Lê Duẩn được Vũ Thư Hiên khắc họa một cách chân thật, tài tình:

“Vốn là một tên bẻ ghi đường sắt trước khi trở thành nhà độc tài, Lê Duẩn tất nhiên muốn chỉ bằng một cú gạt là bắt được con tầu quốc gia chạy theo ý mình“ (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Dù bị oan trái tù đày với tận cùng nỗi thống khổ, nhưng đọc Vũ Thư Hiên ta có thể thấy, không hề có sự hận thù. Lời văn của Vũ Thư Hiên điềm đạm, trong sáng, giữ đúng lễ giáo khi nhắc đến, kể cả tên những người trực tiếp, và gián tiếp gây ra nỗi đau ấy cho gia đình và bản thân ông. Đây là một trong những nhân cách của nhà văn Vũ Thư Hiên được người đọc mến phục. Với đồng loại, không chỉ trên trang văn, mà ngay trong tù đày tình người, lòng nhân đạo thể hiện đậm nét trong cuộc sống thường nhật của ông. Một Hán còi đã được ông sẻ chia trong những ngày đói rét, hay cái chết của một người bạn tù già cũng làm ông day dứt khôn nguôi. Đoạn văn rất buồn, mang mang nỗi niềm cảm thương cho một kiếp người, Vũ Thư Hiên đã làm ta ứa nước mắt khi đọc:

“Anh em tù ăn xong, vào tận chỗ ngó ông, mặt buồn rầu. Không ai nói câu nào. Như thế gọi là viếng. Suất cơm của ông để chỏng chơ. Mọi người bảo cứ để đó, khi chôn thì đặt nó lên mộ ông thay cho bát cơm quả trứng. ..Khi cửa các phòng giam đã khóa lại rồi, tôi cứ ngồi bên cửa sổ mà nhìn về phía trạm xá. Trời tối hẳn mới thấy nghe tiếng búa nện chan chát trên ván thiên – dấu chấm hết cho một kiếp người.“ (Đêm giữa ban ngày- Sách đã dẫn)

Có thể thấy, không chỉ trong tác phẩm Đêm Giữa Ban Ngày, mà ngay trong truyện ngắn của Vũ Thư Hiên cũng ăm ắp tình người, và lòng vị tha. Do vậy, đọc Vũ Thư Hiên lúc nào ta cũng cảm thấy nhẹ nhàng. Lòng nhân bản ấy, cũng là bài học, hay một lời cảnh tỉnh cho những kẻ đang tàn phá đất nước và cỡi lên đầu, lên cổ những người dân lương thiện đã từng cưu mang và che chở:

“Con Nặc Nô có phần hùn với các quan đầu tỉnh trong công trình này. Vụ đắp đập làm cho nhiều làng ở dưới nguồn bất bình vì thiếu nước. Người ta nói thế nào rồi cũng có ngày đập bị phá.

– Nhà “Con Nặc Nô” ở ngay bên bờ suối. – cụ Trưởng Giám bỗng cuống quýt – Nước cuốn băng nhà nó mất.

Cả hai cụ xăng xái đập nứa, châm lửa. Cả hai, mỗi người một bó, đội mưa đi phăng phăng về hướng con suối. Trong cơn hốt hoảng hai cụ không nhớ đến tôi. Tôi khoác vội áo mưa, lẽo đẽo theo họ. Không thể hình dung được hai con người vừa mới hết lời nguyền rủa “Con Nặc Nô”, giờ lại hớt hải đi cứu nàng.“ (Ba Ngày Ở Thị Trấn Cù Cưa)

Có thể nói, cho đến nay Vũ Thư Hiên đã hoàn toàn từ bỏ được cái thiên đường ảo ảnh, lột trần được mặt thật của xã hội và con người. Văn thơ dường như đã thay Vũ Thư Hiên trả được phần nào món nợ với Tổ Quốc, gia đình và bạn bè ông. Và bước vào 86, cái tuổi xưa nay rất hiếm, nhưng Vũ Thư Hiên vẫn miệt mài viết và sáng tạo. Truyện ngắn vẫn là sở trường của ông. Tôi không dám nói, Vũ Thư Hiên là nhà văn lớn, song chắc chắn ông là một nhà văn tài hoa và chí khí. Thế hệ ông, bạn bè, người thân của ông còn lại không nhiều, cùng nỗi cô đơn thường trực nơi xứ người, vậy mà, dường như không giảm đi nghị lực sống của Vũ Thư Hiên. Bởi, mới tuần trước đây thôi, lần đầu hội ngộ, được cùng ông “nhấc lên nhấc xuống“ gần như thâu đêm, đã cho tôi cảm giác như vậy.

Nhà văn Vũ Thư Hiên và tác giả

Leipzig ngày 25-8-2018

Đỗ Trường

Tuesday, January 2, 2024

Chuyện chè cháo: Xã hội trong tách nước chè

Chuyện uống chè (Kỳ 6) 

Nhắc chuyện buôn chè của mấy ông sinh viên giỏi buôn hơn học, lại bần thần nhớ hồi bu tôi buôn chè, xé rào, bươn chải bằng mọi cách để sống sót trong một nền kinh tế ngày càng lụn bại những năm thập niên 70 - 80 ở miền Bắc.

Nhà tôi làm ruộng, đất đai bị trưng thu, góp hết vào hợp tác xã (thực chất là cướp, rồi mấy chục năm sau HTX tan rã vẫn không được trả lại một mét nào). Sau năm 1975 nhà nước tiếp tục áp dụng cách cướp này ở nông thôn miền Nam, với tên gọi tập đoàn sản xuất (thay cho HTX đã quá nhiều tiếng xấu) để tiến lên nền nông nghiệp sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. May mắn thay, nông dân miền Nam không mặn mà với trò hình thức nên nó bị chết yểu.

Không còn ruộng, chỉ làm công ăn điểm rồi quy ra thóc, mỗi vụ tính đầu người được vài chục ký thóc, xay thành gạo đủ ăn 2 - 3 tháng nên đói triền miên. Bu tôi tháo vát, ngoài việc cấy hái trên đồng, thường thức khuya dậy sớm làm hàng xáo, tranh thủ buôn bán lặt vặt, mở quầy hàng nho nhỏ nép gian đầu hồi, trông ra đường, giao cho thày tôi và con cái trông nom. Thày tôi học nho, vụng việc cày bừa nên nhận lĩnh trọng trách cứu nhà; vừa lo cơm nước, vừa trông coi “cửa hàng”, nhưng sự mua hàng thì vẫn phải bu tôi.

Hàng của cái quán xóm ven đường chủ yếu là chè và thuốc lá, về sau có thêm chút bánh kẹo, mì chính, giấy bút học trò, cái kim sợi chỉ. Đại loại thứ nào dân làng có nhu cầu thì mua về, bán khi người ta cần. Trong nền kinh tế tập trung, mọi thứ nhất nhất do nhà nước quản lý, thì bất cứ hàng hóa nào lưu thông ngoài hệ thống nhà nước đều là hàng lậu. Chè và thuốc lá cũng vậy, bị kiểm soát gắt gao. Bất cứ bến xe hoặc chiếc xe chở khách nào cũng bị phòng thuế, cán bộ nhân viên quản lý thị trường lục lọi từng khe ngách. Nửa ký chè cũng bị tịch thu, thuốc lá cũng vậy. Làm ăn, kinh doanh cá thể, kinh tế tư nhân hồi ấy không có đất sống trong chế độ xã hội chủ nghĩa.

Người ta giải thích, phải cấm như thế để có đủ hàng xuất khẩu cho Liên Xô, Trung Quốc và cả phe xã hội chủ nghĩa, để trả ơn sự viện trợ vũ khí và hàng hóa khác. Ai cũng phải thắt lưng buộc bụng, dù chỉ ấm chè điếu thuốc, để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Dân khi ấy đều nghĩ như vậy, nhưng chẳng mấy ai dám nói ra cái điều lăn tăn, rằng dân chúng bị cấm tiêu dùng để góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nước nhưng cán bộ lại được nhà nước công khai phân phối cho đủ loại, từ gói chè điếu thuốc tới cân đường hộp sữa, ký thịt, chiếc xe đạp, cái đồng hồ… Ông anh tôi có lần bảo, chả nhẽ chỉ dân mới “bị” xây dựng chủ nghĩa xã hội, còn các ông bà ấy được miễn, hay là họ xây xong rồi.

Dân uống nước vối, chè tươi, nhưng quan cán bộ hằng tháng đều có chè gói, cấp thấp thì Phú Thọ, Thanh Hương; cấp cao thì Hồng Đào, Tân Cương. Chè được chia thành loại 1, loại 2, loại 3, mà ngay cả loại 3 dân cũng không có tiêu chuẩn. Thuốc lá cũng vậy, dân hút thuốc lào, thuốc cuộn, còn cán bộ bét ra cũng được mấy gói Nhị Thanh, Trường Sơn, Đồ Sơn; khá hơn thì Tam Thanh, Tam Đảo; đẳng cấp cốp phải Thủ Đô, Điện Biên, Hồ Gươm, hạng cao sang hơn thì loại có đầu lọc.

Những thứ, những món ấy, nếu dân thèm phải mua ở chợ giời, kể cả gói chè gói thuốc, thì cán bộ đã có hệ thống Nhà Thờ, Tôn Đản, Intershop bán rẻ như cho. Bộ máy cung cấp đặc quyền đặc lợi ngang nhiên coi chỉ cán bộ mới cần uống chè hút thuốc, còn dân không có quyền lợi. Chế độ miền Bắc trước 1975 và mươi năm sau đó mặc nhiên chia con người thành 2 hạng: Cán bộ và dân, thậm chí phó thường dân.

Thói cư xử tệ hại ấy, cứ tưởng theo dòng lịch sử sẽ bị xóa bỏ hoặc thay đổi, nhưng không phải, thậm chí nó còn ngang ngược, lộ liễu hơn. Tình trạng đẳng cấp ngày càng tệ hại, những ông bà lãnh đạo được mặc nhiên cấp nhà cửa, xe cộ, người phục vụ, chế độ chăm sóc… theo tiêu chuẩn do chính họ đặt ra. Sống thì ở nhà cao cửa rộng, bệnh vào nhà thương riêng, chết cũng phải linh đình nghĩa trang lăng mộ, đều chi tiền ngân sách. Về nghỉ hưu cũng vẫn hưởng chế độ ông này bà nọ.

Làm quan lãnh đạo, đương nhiên phải được hưởng chế độ hơn người thường, kể cả ấm chè. Nhưng xin nhớ rằng, lương quan cũng luôn cao hơn của người lao động thường, lương ấy để trả hậu hĩnh cho công việc mà họ gánh vác. Đòi gì mà đòi lắm thế. Không muốn làm thì xê ra để người khác thay. Đâu có cái thói tạo ra chế độ đãi ngộ riêng, đặc quyền đặc lợi để cướp đoạt quyền lợi của dân chúng. Cướp từ gói chè. Trong chén/tách nước chè có cả một xã hội.

Nguyễn Thông

(trích từ Tiếng Dân)

Monday, January 1, 2024

BME-GTK

 Chúc mừng ACE Khoa Máy ngày mai gặp nhau vui tưng bừng và đầy hoài niệm. Nhân đây xin gửi Cả Nhà mấy tấm hình cũ gợi nhiều kỷ niệm.. một thời xa xưa.. vẫn như mới toanh trong chồng sách cũ!! Tiện bổ sung vắn tắt về phần Kinh tế (chữ G) trong BMGE. Nhiều ACE đã hỏi bởi con cháu có ý tới BME nhưng không thích học kỹ thuật, vả lại ngày càng nhiều thí sinh VN trúng tuyển vào học kinh tế, quản lý ở BME.

Thời 68- đến cuối 80- đa phần chúng ta chỉ (được phân công) học kỹ thuật:  Bởi lẽ sau khi tách phần Kinh tế ra thành trường riêng bên kia sông, BME tập trung vào Kỹ thuật ở 6 Khoa Máy, Kiến trúc, Xây dựng, Hóa, Điện, Giao thông… Những môn cơ bản như Vật lý lý thuyết, Toán phân tích… rồi Chính trị kinh tế học, Triết học, Chủ nghĩa Marx… do các Bộ môn khoa học cơ bản thuộc Bộ phận Központi Oktatási Egységek. Do những cải cách kinh tê, từ sau 1968, BME đã đổi mới dần các chương trình xhcn và đưa vào dạy những tri thức quản lý kinh tế thị trường: các giáo trình như  GAZDASÁGTAN MẺRNÖKÖKNEK do Gs KERÉKGYÁRTÓ GYÖRGY chủ biên là những nội dung luôn đổi mới từ cuối nhũng năm 80. Năm 1998, từ Bộ phận này hai khoa: Természettudományi Kar TTK  và Gazdaság-és Társadalomtudományi Kar –GTK chính thức ra đời..do  Gs Ts KÖVESI JÁNOS làm Chủ nhiệm Khoa … Hai năm sau (1/1/2000) Trường chính thức mang tên BMGE.. mở ra nhiều ngành học… và các kỹ sư cũng được bổ sung các kiến thức kinh tế, quản lý thị trường…tương ứng do  8 khoa của Trường và Hệ thống học phần của ngành đào tạo đại học Hungary.

HY VỌNG sẽ nhiều ACE cổ vũ con cháu đến học ở BME ở tất cả các ngành …Hơn nữa, VN ta chưa dùng hết 100 suất học bổng toàn phần (cả Cao học, Đại học, sau đại học) của Chính phủ Hung đài thọ…. mà số này có lkhả năng sẽ tăng theo yêu cầu.. của VN ta.

50 ÉV- Các lớp M1-2-3-4 trước cửa Trường Ngoại ngữ ngày đông năm 1968. Đa số năm sau theo học ngành máy ở BME và Đại học Công nghiệp nặng MISKOLC. Ngày mai gặp nhau hãy tag tên mình vào ảnh nhé...Mong hội ngộ...50 év múlva! with Xuyen Nguyen Thi and 
3 others @ at Budapest University of Technology and Economics.

Anh Khuê @  Budapest University of Technology and Economics

Peter Nagy

04 August 2017