Saturday, July 4, 2015

OSS và Hồ Chí Minh - Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật

Cuốn sách OSS và Hồ Chí Minh - Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến chống phát xít Nhật (The OSS and Ho Chi Minh: Unexpected Allies in the War against Japan) của giáo sư Dixee R. Bartholomew-Feis do NXB Trường đại học Kansas (Mỹ) xuất bản năm 2006.


Cuốn sách nầy cùng một cuốn nữa (tên là Why Viet Nam – Tại sao Việt Nam) tui đã lỗi hẹn bà con mấy lần là sẽ giới thiệu. Vậy nhưng “lỗi” mà lại hay, vì giờ đúng vô lúc mà ta rất cần nhìn lại cái bi kịch của Dân tộc, dường như luôn bị lỡ những “chuyến tàu” đi cùng với bè bạn bốn phương, để rồi nay bị Tàu ức hiếp mà cắc cớ khó làm cho người bạn nào tin là mình thiệt lòng để dang tay giúp đỡ, phần vì kẻ ức hiếp lại là “anh em môi răng” với mình. “Ngậm bồ hòn làm ngọt”. Đau quá !


Tại sao người ta cố giấu nhẹm, bóp méo nhiều sự thực lịch sử vô cùng quan trọng liên quan tới vận mệnh, tương lai Dân tộc ? Đọc cuốn sách này, bà con sẽ thấy một phần. Cũng như tui từng kêu gào trong một bài báo trên trang 3 blog nầy. Giờ tui xin tóm lược những điều hệ trọng mà bị lơ đi trong lịch sử qua cuốn sách trên, cùng chút phân tích tại sao người ta lơ đi vậy.
Trong sử “chính thống” cũng như tài liệu về Hồ Chủ tịch, chưa bao giờ các sử gia nói tới chuyện Cụ đã từng có những quan điểm tương đồng, những mối quan hệ gần gũi, hợp tác và tranh thủ sự giúp đỡ của người Mỹ ra sao. Gần như duy nhứt có tình tiết cụ trích một đoạn Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, hoặc gần đây đôi ba bài báo thận trọng đưa ra vài thông tin “tham khảo” … Nhưng chuyện này vẫn vô cùng là bí ẩn, nên mới từng có tổng biên tập một tờ báo danh tiếng bị mất chức vì dám … rờ tới sự thật lịch sử. Đến cả chuyện mới nữa là người ta bỏ tiền sao/mua rất nhiều tài liệu về cụ Hồ lưu trữ bên Nga, vậy mà một năm qua rồi không thấy có công bố nào cho nhân dân biết, nhân dịp đợt học tập tấm gương đạo đức của Cụ (sao không học tấm gương cụ kiên trì chịu đựng bị Stalin nghi ngờ suốt bảy tám năm trời ?)
Tui xin tóm lược cuốn sách, là thời Thế chiến thứ hai, khi cụ Hồ đang hoạt động ở bên Nga, sau đó là Tàu, tình hình thế giới và trong nước cực kỳ phức tạp. Mỹ tuy là đồng minh với tụi Tây thực dân nhưng lại cực lực chống chính sách thực dân của Anh, Pháp, Hòa Lan. Những người kháng chiến Việt Nam tuy chống Tây đô hộ nhưng lại là “đồng minh” với Tây và nhiều nước chống phát xít Đức, I-ta-li, Nhật. Nước Nga tuy là đồng minh với Mỹ, nhưng lại là cộng sản-tử thù với phe tư bản dứng đầu là Mỹ. Nga cũng không tin gì cái lực lượng kháng chiến Việt Nam của cụ Hồ, vì đã xét lý lịch cụ, ngó bộ ổng khoái lo giải phóng Dân tộc mình chớ không mặn mà chi cái vụ “giải phóng toàn nhân loại” (nay càng thấy tào lao quá trời rồi – ổng tài quá há ?) Thêm nữa ổng cũng từng bị thử thách/đày ải bảy tám năm bên “thành trì XHCN” rồi, nên mới tính chuyện bắt tay với Mỹ hay hơn. Nhưng Mỹ lại cắc cớ, tuy chống thực dân nhưng cũng không muốn mất lòng ông bạn Tây thực dân, cần chung lưng chống phát xít, lại nghi ngờ cụ Hồ là cộng sản gộc, mà trong nội bộ cũng có hai phe (phe bênh cụ Hồ, phe chống). “Đen” cho ta nữa, là Tổng thống Mỹ Roosevelt, người hăng hái chống chủ nghĩa đế quốc-thực dân Pháp nhứt thì lại mất sớm đúng vô lúc quan trọng. Ông từng có nhiều động thái và tuyên bố có lợi cho nền độc lập hoặc “uỷ trị quốc tế” của Việt Nam, như “Đông Dương không thể quay lại với Pháp”, “… Đông Dương nên được lấy khỏi tay người Pháp và đặt dưới sự ủy trị quốc tế”. Hay trong một giác thư gởi cho ngoại trưởng Cordell Hull, ổng viết ”Hơn một năm qua tôi đã bày tỏ quan điểm rằng, Đông Dương không nên trở lại với người Pháp mà nên được quản lý bởi một cơ quan ủy trị quốc tế. Pháp đã chiếm nước này – 30 triệu dân – trong gần 100 năm, và lúc này người dân nghèo khổ hơn giai đoạn đầu … Trường hợp Đông Dương hoàn toàn rõ ràng. Pháp đã bòn rút nơi này 100 năm. Người dân Đông Dương có quyền hưởng những gì tốt đẹp hơn thế”(trang 75). Đương nhiên lý do ông này chống Pháp cai trị tiếp xứ này còn nhiều, đọc vô sẽ thấy hấp dẫn vô cùng.
Chưa hết cực cho cụ Hồ. Đó là trong nước nhiều lãnh tụ cộng sản ít được “đi đây đi đó” như ổng, lại sớm được đưa vô “lò luyện” của “thành trì XHCN”, nên cái đầu cách mạng nó “nóng” quá, vậy là các cha nội này cũng coi ông già là người không “kiên định lập trường” … Còn nữa. Đó là nhiều đảng phái không phải “cộng sản” cũng kháng chiến chống Tây đô hộ, họ cũng có thế lắm chớ bộ. Vậy là vô cùng khó nếu như muốn có “ngọn cờ” đoàn kết các lực lượng kháng chiến trong nước, đồng thời tranh thủ Mỹ, Nga, … Nhưng thiệt kỳ lạ, cụ Hồ ra chiêu hợp tác, nhận cung cấp tin tức tình báo cho cơ quan tình báo Mỹ OSS (tiền thân của CIA ngày nay) cùng đồng minh chống phát xít. Có cái chân đó rồi, ông cụ dựa vô, tận dụng cái “mác” có Mỹ sau lưng. Trời đất, bữa ổng từ bên Tàu về nước sau bao nhiêu năm phiêu bạt, rồi từ Tân Trào về Hà Nội, đều có Mỹ mắt xanh súng ống, điện đài … ngon lành đi theo “hộ tống”, ổng còn thủ bức hình chụp chung tới tướng Mỹ Claire Chennault chỉ huy Không đoàn Cọp Bay 14 khét tiếng, đem ra nhá nhá … các “đàn em” trong nước ngó xanh le mắt, theo rần rần, khỏi thắc mắc chi cho mệt. Vì hồi đó cả thế giới kính nể anh cao bồi Mỹ này dễ sợ luôn.
Vậy nhưng rồi làm sao mà sau đó ta hổng thân với Mỹ nữa ? Rồi còn uýnh nhau te tua …, theo hai anh Nga, Tàu rồi “khánh kiệt”. Thiệt là bi kịch lịch sử. Nhìn vô đó mà rút kinh nghiệm cho ngày nay, mai sau. Xin bà con đọc hết mới rõ được.
Và trong những ngày sục sôi chuyện Tàu xâm lấn đảo này, ta càng thấy cần suy ngẫm kỹ chuyện cũ để rút ra bài học kinh nghiệm, biết tìm bạn mà chơi, biết cách “chơi” ra sao cho bạn tin. Riêng tui còn liều đưa ra cái ngu ý là nay ta học tập tấm gương của cụ Hồ, vậy nên học ngay cái cách chơi với Mỹ mà hạn chế bớt anh Tàu hay ức hiếp đi. Thời đó nhiều cái khó khăn, nên ông cụ mới hổng đi tới được với Mỹ, còn ngày nay thời thế thuận lợi quá trời rồi … Uở, nhưng hổng còn ông cụ nữa ? … Còn mấy “ông kẹ” giờ thì … bà con biết rồi. Tui chào thua !
À, chút xíu quên ! Còn cái lý do là làm sao người ta không muốn nói tới cái màn hợp tác thân thiện này với anh Mỹ, để tới giờ mới nhín nhín đưa ra ? Hiểu dễ ợt. Đó là nhiều năm sau, vì cái trớ trêu của lịch sử buộc ta phải uýnh nhau với Mỹ, vậy mà "ca" là từng thân với nó, tổng thống của nó chống chánh sách thực dân, đấu tranh cho tự do … thì còn ra cái gì nữa. Phải chửi, nói xấu nó tới số đi chớ ! Rồi ta theo “thành trì XHCN”, còn Mỹ là “thành trì TBCN”, vậy mà kể ra là ta từng thân thiết với kẻ thù thì coi như ta “phản bội” chớ còn chi nữa. Các quan trên coi dân mình còn đang ngu si vì bị cái “chánh sách ngu dân” của Tây bao năm rồi, nên sợ nói thiệt ra bà con không tin. Rồi các cha cũng ngán cái vụ nếu nói ra, bà con, cán bộ mình khoái Mỹ quá, chạy theo rần rần là … chào thua. Vậy đó. Giờ thì nói thiệt hết cũng chưa hết … ngán, nhứt là mấy cha từng ham xạo thấu trời luôn, giờ cũng run, thôi thì nó thiệt … từ từ. Bà con ráng chờ nha. Kiếp sau là sướng thôi à.
Xin bà con chú ý thêm: đó là cuốn sách nầy cũng là “Sách tham khảo”, y chang cuốn “Trung Quốc trước ngã ba đường” mà tui đã khoe trên trang 78 blog nầy và “giải mã” ba cái chữ “sách tham khảo”, “lưu hành nội bộ”, nó mang tính “tiếp thị” ra sao. Nhưng quan trọng nhứt là ba cái sách nầy ưa nói … thiệt, ít bị “ăn bớt” chữ khi dịch/biên tập. Mua nhanh rủi hết nha !

(lược trích có chỉnh sửa từ blog BS)

Ez volt a Balaton aranykora

Imádjuk ezt, ön is imádni fogja!

Nekünk, azaz a Kádár-korszak gyermekeinek az igazi nyári szünet mindig csak akkor kezdődött el, amikor a család Trabantjával magunk mögött hagytuk Osztapenko kapitány szobrát, és az M7-esen ledöcögve a vállalati beutalóval végre birtokba vehettük a balatoni SZOT-üdülő Junoszty tévés, csipketerítős szobáit. Sokunknak még a világútlevél kiváltása után is a magyar tenger maradt a világ legjobb üdülőhelye, ahol sosem bántuk, hogy csak a vasúti sínen átvágva, kockanyaralók labirintusát leküzdve lehetett lejutni a tópartra, hogy ott aztán farzsebükben fésűt hordó német turistákkal fussunk versenyt a friss lángosért és főtt kukoricáért, vagy a családdal közösen alufóliából majszoljuk el az otthon sütött csirkecombot. A balatoni turizmus aranykora egyértelműen a Kádár-rendszer időszakára esett, ezért most mi is a Fortepan-gyűjtemény '60-as, '70-es és '80-as évekből származó privát fotói közül válogattuk ki a leghangulatosabb nyári képeket. Nosztalgiamaratonra és gumimatracra fel!  

A Fortepan a legnagyobb magyar nyelvű online fotóarchívum. Az Indexen a Fortepan szerkesztőivel együttműködve mutatjuk be a legizgalmasabb gyűjteményeket a huszadik századi magyar, amatőr fotósok hagyatékaiból.  
(Các bạn click vào hình để xem rõ hơn)



A nagy balatoni út előtt mindig érdemes volt még Budaörs vagy Diósd környékén feltankolni egy olyan tipikus Áfor-kútnál, mint ami a fenti képen is látható, hogy ne legyen gond később a benzinnel. A fotó egyébként 1970-es, és az állami benzinkút mellett a régi balatoni műút jellegzetes rázós aszfaltkockáit is gyönyörűen megörökítette. A műút fővárosi szakaszát már 1937 nyarán átadta az utazóközönségnek dr. Szendy Károly, Budapest akkori polgármestere – az eseményről természetesen a kor divatja szerint filmhíradó is készült. A Balatonhoz való eljutást megkönnyítő M7-es viszont jóval később készült el, és csak 1975-re kötötte össze Balatonaligát Budapesttel.
(Fotó: Fortepan)


A déli part egyik legnépszerűbb üdülőhelye a mai napig Balatonlelle. Bár sokan valószínűleg inkább Boglárlelleként ismerik, mivel 1978-ban ezen a néven egyesült Balatonboglárral (hogy aztán a rendszerváltás után végül mégis különváljanak). Lelle a politikai széljárástól függetlenül száz éve közkedvelt nyaralóhely: már a Tanácsköztársaság is ide vitte le vonattal „a kis proletárokat” a gyereknyaraltatási programja idején, a két világháború között Mussolini ifjúavantgardistái fürödtek itt, '36-ban pedig a Horthy-korszak ipari tanoncait is Lellére küldte kikapcsolódni az Országos Társadalombiztosítási Intézet. A szocializmusban pedig sok szálloda nyílt, és számos állami vállalat épített üdülőt a városban a Szakszervezetek Országos Tanácsától kezdve a TERTA telefongyárig A fenti kép 1968-ban készült, a lellei hajóállomás mólóján. (Fotó: Fortepan) 


A Siófok tőszomszédságában fekvő Zamárdi ma a balatoni idegenforgalom egyik fellegvára, a regisztrált vendégéjszakák száma meghaladja a 300 ezret. További turisztikai érdekesség, hogy már több mint száz éve pancsolnak itt magyarok: a Balatonzamárdi Fürdőegyesület 1913-ban alakult meg. A strand az 1930-as években látványos fejlődésnek indult, a Kádár-korszakban pedig már közkedvelt üdülőhelynek számított, többek között az 1961-ben megépített kertmozi miatt, ami annyira népszerű volt, hogy már egy hétre előre el tudtak adni minden jegyet. De a fenti, 1974-es fotón látható autós kemping is megnövelte Zamárdi népszerűségét, mivel ekkorra már nem csak a kiválasztott keveseknek volt autójuk. (Fotó: Fortepan) 


Ma már Siófok a Balaton fővárosa, a szocializmusban viszont még egyértelműen Zánka viselte ezt a titulust – legalábbis a hivatalos állami propagandában. Itt épült fel ugyanis 1975. május 25-re a tábortűz körül mozgalmi dalokat éneklő, vidám, piros nyakkendős kispajtások Mekkája, az Úttörőváros (mai nevén: Zánkai Gyermek és Ifjúsági Centrum). Az évente 25 ezer gyereket nyaraltató tábort a berlini Wuhlweide parkban és a ma már Ukrajnához tartozó Artyekben kialakított úttörőtáborok mintájára kezdték el kiépíteni 1968-ban a Balaton-felvidéken, a Csorsza-patak völgyében. Az épületkomplexumnak saját könyvtára, társalgója, ülésterme, strandja, sportcsarnoka, sportpályája, étterme és úttörő-történeti múzeuma volt, ahová a kommunista ifjúságpolitika célkitűzéseinek megfelelően elsősorban a munkásszülők gyermekeit várták, 3000 fős turnusokban.
(Fotó: Fortepan)


Balatonszemes a déli part kirakattelepülése volt a szocializmusban, akárcsak az északi parton Zánka. Az itteni egykori főúri nyaraló helyén, a Hunyady-telepen épült fel a mára már teljesen elfeledett gyermektábor, ahová a Szovjetunió úttörői jártak le nyaranta, hogy a magyar pajtásokkal közösen csobbanjanak a Balatonba. A fenti képen az 1968-as Hajómodellező Országos Úttörő Bajnokságon feszítenek kis lurkók, a délutáni technikaszakkörök alatt barkácsolt vitorlásaikkal. Balatonszemes környéke egyébként nemcsak a régi rendszer gyermekei között volt népszerű, hanem a felnőttek körében is: a szovjet úttörőtábortól nem messze, Balatonőszödön épült fel a Minisztertanács őrzött üdülője. Igen, ebből lett később az a kormányüdülő, ahol Gyurcsány Ferenc 2006-ban elmondta a híres beszédét. (Fotó: Fortepan)


 Íme egy 1968-as fotó a szántódi rév jellegzetesen szocmodern épületéről és neonfeliratáról, ami ma már ipar- és kultúrtörténeti kuriózumnak számít. A „Somogy északi kapujának” is nevezett Szántód a turisták körében ma is népszerű, mert menetrend szerinti kompjárattal köti össze a déli partot a Tihanyi-félszigettel. (Fotó: Fortepan)


 A balatoni kompjáratok már a '70-es években is igen népszerűek voltak a két part között, mert a magyar tengert átszelő hajójáratokkal a Trabantokban, Wartburgokban, Škodákban vagy épp bogárhátú Volkswagenekben utazó turisták és munkába igyekvők lerövidíthették az utat, nem kellett megkerülniük az egész tavat. (Fotó: Fortepan)


Nekem a Balaton a Riviera,
Napozni ott szeretek a homokon,
Nekem csak jó estét a buona sera,
nem töröm más szavakon a kobakom.
Nekem a Balaton a Riviera,
Ettől nem tántorít el a tél, a fagy.
Szívedet akarom elvenni még ma,
Mert az egész nagy világ nekem te vagy!
Nekem a Balaton a Riviéra,
Mert az egész nagy világ nekem te vagy!
Mert a Lollobrigida és a Sophia Loren,
Meg a Marina Vlady nekem te vagy!
Ezt énekelte Németh Lehel és Felföldi Anikó a '60-as évek közkedvelt popslágerében. A fenti, 1962-es fotón úgy látszik, a Siófokon nyaraló fiatalok is pont olyan jól érezték magukat a lángosszagú, „Zimmer frei” táblás Balatonon, mintha a Riviérán napoztak volna.
(Fotó: Fortepan)


Így nézett ki 1960-ban egy szoba a tihanyi Balaton Motelben. Ekkoriban a tó idegenforgalma látványos fellendülésnek indult az '50-es évekhez képest. A pártállami vezetés ugyanis rájött, hogy a Balatont nemcsak a pihenni vágyó targoncakezelők és fodrászasszonyok számára kell vonzóvá tenni, hogy az üdülés után jobban menjen a munka, hanem a külföldiek számára is. Így az NDK-ból érkező kempingezők mellett egyre több NSZK turista jött a Balaton-partra. Ők persze inkább a part mentén felépült, jellegzetesen szocmodern kockahoteleket választották (ahol a parkolóban megcsodálhattuk a menő, nyugati autóikat). Az egymással sokszor titokban a Balatonnál találkozó kelet- és nyugatnémetek idővel olyan sokan lettek, hogy elindult a jól ismert zimmer frei korszak, a horroráron kibérelhető balatoni nyaralókkal. (Fotó: Fortepan)


A siófoki Hotel Európában 1971-ben a kép tanulsága szerint még meg lehetett szállni kutyával, és nyugodtan lehetett sétálgatni a blökivel a Petőfi sétányon vagy közvetlenül a vízparton. Ma ez már bajosan menne, a természetes fürdővizek minőségi követelményeiről, valamint a természetes fürdőhelyek kijelöléséről és üzemeltetéséről szóló 78/2008. (IV. 3.) kormányrendelet szerint ugyanis „állatot a fürdőhely területére bevinni – a kistérségi intézet által engedélyezett őrkutyás biztonsági szolgálat, illetve a vakvezető kutya kivételével – tilos”. Kijelölt fürdőhelyek alatt pedig nemcsak az elkerített, klasszikus strandokat kell érteni, hanem minden olyan partszakaszt, ahol tábla jelzi, hogy az adott vízterületet az ÁNTSZ fürdésre alkalmasnak találta (jellemzően a májustól szeptemberig tartó időszakra). Régen minden jobb volt?
(Fotó: Fortepan)


A Tihanyi-félsziget, a Belső-tó és az 1055-ben alapított bencés apátság templomtornyának festői szépségét a Palma Gumigyár vezérigazgatója is felfedezte, így 1969-ben itt készült reklámfotó az állami vállalat által gyártott színes gumimatracokhoz, amik nagyon hamar a korszak minden háztartásának kötelező nyári kellékei lettek. Akárcsak a képen látható lila szódásszifon!


„Egy balatoni üdülő gondnoki lakásában élhettem ifjúságom hajnalán, napi szinten láttam egy nagyvállalat és több SZOT üdülő életét, Siófoktól Szárszóig a komplett part életét, gyakorlatilag 1985-ig. Nem volt üvöltő zene, ellenben kötelező csendespihenő volt, az M7-es ragyogó volt a régi 7-eshez képest, szinte minden működött, ment a seft és a csencselés a dugig tömött kempingek külföldijeivel. A dollárboltban megvehettük a dobozos sört, a diszkókban, csárdákban, szállodai bárokban szórakozni, táncolni lehetett, zenére, összebújva a csajokkal. A személyzet nem vert véresre, ha szóltál a meleg sörért, és hosszan sorolhatnám az általam egyébként gyűlölt komcsi világ éppen használható szolgáltatásait!” – így számolt be a Kádár-kori nyarairól egy olvasó a Timelord blogon. (A fotón a siófoki Motel Étterem látható, 1962-ben.)
(Fotó: Fortepan)


 A balatoni személyhajózás már 1846. szeptember 21-én megindult: ezen a napon bocsátották vízre az első gőzhajót, a Kisfaludyt. A széles körben népszerű turistalátványosságot természetesen a szocialista tervgazdaságban is megtartották. Sőt, a képen látható Kelén csavargőzöst át sem keresztelték, pedig még a Monarchia idején épült, és 1891 óta szelte ezzel a névvel a Balaton habjait. Persze miért is nevezték volna át? A Kelén név minden rendszert túlélhetett, hiszen egy régi balatoni mondából származott: így hívták azt a szegénylegényt, aki végül sok veszéllyel szembenézve elnyerhette a balatoni Rohan herceg lányának, Helkának a kezét (ezért is hívták a Kelén nevű gőzhajó párját Helkának). (Fotó: Fortepan)


„A '70-es évek közepére a balatoni nyaralás természetessé válik. Alig akad család, ahol a munkahely, egy szomszéd vagy egy nagybácsi révén ne juthatnának el a szülők a gyerekekkel egy hétre szemesre vagy Siófokra. 1978-ra nyilvánvalóvá válik, hogy a Balaton megtelt. A strandokon már reggel 9-kor elfogynak az árnyékos helyek, a tihanyi révnél végtelen kocsisorok állnak.” (Részlet Papp Gábor Zsigmond Balaton retró című, 2007-es dokumentumfilmjéből) (Fotó: Fortepan)


1952-ben (amikor ez a fotó is készült) viszont még egyáltalán nem volt jellemző a tömegturizmus a Balatonon. A vízparti falvak szolid, rendezett nyaralóövezete a régi középosztály életstílusát idézte, és az itteniek még az évtized végén is csak nagyon nehezen tudtak megbirkózni a gombamód szaporodó vállalati üdülőkkel és az azokat nyaranta sáskarajként megszálló munkáscsaládokkal. (Fotó: Fortepan)


1980-as balatoni életkép, a korszak jellegzetes beton virágtartójával, padjaival és sóderkaviccsal felszórt partszakaszával. Bár a fotó épp egy nyugodt pillanatot ábrázol, a hivatalos Kádár-kori propagandagépezet pont ezeknek a pihenőhelyeknek a tönkretételével vádolta meg az autóstoppal közlekedő, kempingekbe belógó, farmernadrágos huligánokat, hippiket, hobókat és csöveseket. A korabeli véleményformálók szerint ráadásul a Balaton nemcsak a munkásosztály kedvelt pihenőhelye volt, de a bűnöző életmódra hajlamos, szabados életvitelükkel a nyugati életérzést majmoló, megtévesztett fiatalok gyűjtőhelye, valamint a nyaralókiadással munka nélkül, többhavi fizetésnek megfelelő összeget kereső fusizók és ügyeskedők paradicsoma is, akiknek a tevékenységét az állam minden áron szabályozott keretek közé akarta szorítani. (Fotó: Fortepan)


„Felhő nincs az égen, és elbódít a csend,
erre vártunk télen, s a pihenés újra szent.
Úszkálunk a réven, s a kedvünk újra fent,
mert ez a tó, olyan jó.

Itt szenved a strandon, a felnőttek hada,
sőt, minden általános- és középiskola.
Nappal együtt izzad, s együtt mulat éjszaka,
ez a nyár szava, ez a nyár szava.

Vajon mi lenne velünk, mi lenne velünk,
ha nem lenne többé szép, ha nem lenne többé jó?
Mert susoghat a patak és zúghat a folyó,
és hívhatnak a hegyek én messzebb úgyse megyek!
Még megélni sem akarom, hogy egyszer
kiszáradjon a Balaton.

Mi lenne velünk, mi lenne velünk,
ha egyszer kiszáradna a Balaton?"

Ezt énekelte Demjén Ferenc 1975-ben a Bergendy-együttes frontembereként egy irgalmatlanul vicces videoklipben, miközben félmeztelenül gitározott a Balatonban. A gumikrokodilos fotó ugyan tíz évvel később készült, de a Bergendy-dal ugyanúgy illik ide is.
(Fotó: Fortepan)


 Autóval jöttünk le a magyar tengerhez, vonattal megyünk haza. Ez az 1975-ös balatonlellei kép amilyen színes olyan lehangolóan mutatja be a nyár végét. Hiszen mindig ez volt a legszomorúbb pillanat a balatoni nyaralásokban: ácsorogni az állomáson és várni, hogy az egyetlen magányos sínpáron befusson végre a vonatunk, és hazazötymörögjünk a szürke hétköznapokba. (Fotó: Fortepan)

Szűcs Gyula & Ajpek Orsi (szerkesztő) (Index)

Đọc sách của 1 người Mỹ nhân ngày 04 tháng 7: Hồ Chí Minh - Một cuộc đời

Với những người làm xuất bản, ngoài lợi nhuận, doanh số, độc giả.. thì được xuất bản những tác phẩm lớn và có ý nghĩa là niềm hạnh phúc và sung sướng vô bờ bến, và đôi khi đó là niềm hạnh phúc lớn nhất...
Với người làm xuất bản Việt Nam, được xuất bản và xuất bản được cuốn sách về Hồ Chí Minh có giá trị và khách quan, trung thực đến mức có thể viết được như cuốn Hồ Chí Minh - A Life của William Duiker chắc chắn là niềm hạnh phúc, vui sướng và tự hào vô cùng lớn..
Được xuất bản ở Mỹ năm 2000 dày tới cả ngàn trang là cuốn tiểu sử đầy đủ, hoàn chỉnh nhất đến hôm nay về Hồ Chí Minh nhưng sau 15 năm, nó vẫn chưa được xuất bản ra tiếng Việt trên đất nước Việt Nam, đất nước đã được Hồ Chí Minh sáng lập...
Những cuộc vận động học tập theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng trở nên sáo rỗng và lệch lạc, cũng chẳng giúp thế hệ trẻ thêm yêu quí và làm được những điều Hồ Chí Minh mong muốn họ làm cho đất nước này, nhưng đó là điều mà việc đọc cuốn sách của William Duiker có thể góp một phần nào đó.. Những điều hay nhất và thiên tài nhất của Hồ Chí Minh dường như không phải là những điều chúng ta đang được nghe nói đến hàng ngày...
Với tôi, bất kể những điều William Duiker viết trong sách hay kể cả những thông tin ngoài sách, Hồ Chí Minh vẫn là một vĩ nhân lớn, nhưng không phải là vĩ nhân như Đảng đã và đang cố gắng xây dựng nên. Hồ Chí Minh cũng có thể bị chỉ trích về những sai lầm nhưng chẳng có vĩ nhân nào là hoàn hảo, và chính như thế, những điều đó, những sai lầm nếu có, khiến cho Hồ Chí Minh thực sự là một con người, một nhà lãnh đạo sống động và đầy những bài học cho giới trẻ Việt Nam.
Nhất định cuốn sách này sẽ sớm được xuất bản ở Việt Nam nhưng không biết ai sẽ là người may mắn để được làm việc này. Khi đó, chúng ta sẽ được biết đến đầy đủ cuộc đời của Hồ Chí Minh và hẳn là nhiều người sẽ yêu quí ông hơn vì ông là một con người...

Nguyễn Cảnh Bình

Friday, July 3, 2015

Nghèo hèn...

Hôm qua tôi có viết chạm đến cụm từ Nghèo Hèn Thất Học thì có rất nhiều bạn chạm vào tự ái hay nỗi đau gì gì đó vào phản kháng rất ghê!
Chỉ có VN mới có kiểu suy nghĩ bao biện Nghèo Đâu Phải Là Cái Tội, bởi VN nghèo hoài!
Đúng, nghèo không là cái tội, Nhưng Những Cá Tính làm cho bạn Nghèo là cái tội đấy, và cái đó đáng bị khinh khi cho loại bỏ đi!
Tại sao nghèo hèn thất học, ai cũng đổ cho hoàn cảnh, nhưng thật ra rất ít mà đa số đều do Tính Cách Xấu mà nên, Lười Biếng, Bẩn Tính, Gian Dối, Ham Nhậu Nhẹt, Không Biết Tiết Kiệm, Không Biết Học Hỏi, Chả Biết Cố Gắng là gì lại ham Cờ Bạc Đề Đóm Hút Sách Trai Gái..v...v...,
Nếu bạn do một hoàn cảnh như Bệnh Tật, Thiên Tai... thì Xã Hội chả ai mà khinh khi mà sẵn sàng dang tay nâng đỡ bạn! Nhưng trong khi Xã Hội đang cố gắng tích cực làm việc, học hành để tiến lên thì bạn hay cha mẹ bạn lười nhác tụt hậu rồi hở ai đụng tới thì bi bô Nghèo Đâu Là Cái Tội, rồi bắt người khác phải yêu thương tôn trọng bạn, gì kỳ vậy, công bằng ở đâu?
Tôi là tôi khinh những loại người có những Cá Tính đó, chứ tôi không khinh cái nghèo! Để giúp họ là phải kéo họ ra khỏi vỏ bọc Tự Ái Nguỵ Biện, chửi họ cho họ thức tỉnh ra mà cố gắng!
Tôi cũng chả giàu có gì và từng nhiều lần bị bọn giàu hơn nó khinh ra mặt, nhưng tôi chả buồn bực gì mà cảm ơn vì nhìn lại mình có cố gắng bằng nó đâu, nó khinh đúng mẹ rồi!
Bạn không có lỗi nếu sinh ra trong nghèo hèn, nhưng chết đi trong nghèo hèn đích thị là lỗi của bạn, cấm cãi!

Huỳnh Phước Sang

Vào đời cần biết gì?

Hôm qua mới nói về nền kiến thức chung hay kỹ năng cứng với các yêu cầu tối thiểu cho người thường (từ công nhân tới kỹ sư nhà kinh tế cho đến nhà nghiên cứu khoa học chuyên nghiệp)
1. Hiểu lẽ đời là biến động
2. Logic bất biến chống đỡ vạn biến
3. Nhìn ra quy luật trong ngẫu nhiên
4. Tất định của chuyển động
5. Bất định của trạng thái
Thi cử vào đời dù là giải trăm ngàn bài toán lý, nhồi sọ cho lắm công thức hóa sinh, sử địa mà không hiểu đạo lý mấy thứ này là vứt. Đối với mấy ông mọt sách thì phải biết áp dụng 5 nguyên lý vào cuộc sống. Đối với mấy ông chân tay đỡ mồm miệng thì phải thành khẩu quyết, miệng nói tay sờ ... dụng cụ.
Đó là nói về yêu cầu tối thiểu. Xã hội có doer và thinker. Đối với thinker phải biết thêm:
1. Cái vi tế và vô cùng vô tận.
2. Không thời gian và tồn tại
3. Tâm linh và cái vi tế thực tại.
Cố nhiên những tiêu chí kiến thức nói trên không nhất thiết thể hiện chỉ bằng toán lý mà phải thể hiện khắp mọi nơi. Tôi có thể đưa ra các subject thể hiện các điều nói trên ở các môn khác, nhưng cũng muốn mọi người cùng động não.

Hôm nay nói tiếp về cách dạy học và kiểm tra các yêu cầu trên. Thực ra, dân tình nói lào xào về thi cử rồi tranh luận công bằng hay không đều là không biết gì về thi cử. Không có hệ thống thi cử nào có thể đảm bảo công bằng. Có thể đạt điểm tuyệt đối, thậm chí bằng cấp đầy người vẫn ngu dốt như thường, kiến thức vẫn không dùng được.
Kiến thức muốn dùng được không phải chỉ bằng nhận thức. Vì vậy, dạy kiến thức phải kèm với dạy kỹ năng. Tìm kiếm- đọc- nói- nghe- viết- thảo luận- trình bày- network không phải là kỹ năng chỉ luyện ở môn văn. Kiến thức không cần nhồi sọ cho nhiều, muốn dùng được phải được sử dụng thông qua kỹ năng. Tốt nghiệp phổ thông gặp người lớn hay bạn gái không biết nói gì, chỉ chực nhớm chân động tay là vứt. Đến môi trường lạ không có kỹ năng build up network tối thiểu là không đủ tư cách tốt nghiệp phổ thông.
Các kỳ thi, tiêu chí tuyển sinh hoàn toàn không có tiêu chí kỹ năng, thành thử sinh viên tốt nghiệp đại học, cao học vẫn ngố như lợn rừng xuống núi, ngông nghênh như đười ươi cầm ống, chính tả sai be bét, lập ý không xong, đặt câu hỏi dưới dạng gần thực tế một chút là bắt đầu đoán mò nói láo.
Bên cạnh kỹ năng là nhân cách. Không có nhân cách sao thành công. Dạy nhân cách không đi liền với kỹ năng và kiến thức thì thành ra môn giáo dục công dân hay phổ biến nghị quyết suông.
Hệ thống giáo dục của Việt Nam cũng như Á Đông truyền thống không dạy kỹ năng và nhân cách, cho nên xã hội nói chuyện đạo đức, tôn sùng kỹ năng cả đời. Người học được do tình cờ lại tưởng mình có năng khiếu đặc biệt. Kẻ ăn may thành đạt tha hồ chém gió.
Cuối cùng khả năng tích hợp kiến thức. Tôi không hiểu nổi tại sao học sử ở phổ thông lại tách khỏi địa lý. Học sinh vật lại tách khỏi học hóa. Học toán lý lại phải tách riêng. Không có gì chán và làm người ngu đi bằng việc học mấy tam giác khi học về quang học, hay tính tam suất khi học về điện hay nồng độ hóa học.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen,VIDI72)

Nguyễn Ái Việt (Debrecen,VIDI72): Thuật nghệ pháp đạo

Năng lực của con người ở đời thể hiện thế nào? Xã hội Việt Nam đã sớm quên câu hỏi này, mà tiền nhân đã có sẵn câu trả lời. Lớp trẻ ngưỡng mộ các bài nói chuyện của Bill Gates, Steve Jobs, Larry Elisson,... cho đó là các nhận thức mới mẻ đối với năng lực của con người. Có lẽ học bị các nỗi khiếp sợ bằng cấp, danh xưng, tiền bạc lấn át. Không ai cần biết Lão Tử làm tới chức gì, La Sơn Phu Tử đỗ đạt bằng cấp gì, Nguyễn Trãi làm quan tới bậc nào, người đỗ trên Chu Văn An cùng khóa là những ai, Đoàn Nhữ Hài học hành đến đâu.
Tạm thời lấy đánh giá của tiền nhân làm tiêu chí và mô hình phấn đấu cho việc rèn luyện năng lực, khi xã hội không có câu trả lời.
Bước đầu là thuật. Từ năng khiếu giải toán, tâng bóng, tung hứng hơn người đều là thuật. Đến mẹo chọi gà mưu cờ bạc, trong thương trường, thoát y hay dùng trá thuật trong chính trường để đè người, hơn người, vượt lên trước để ngồi vào mâm cỗ, đều chỉ là thuật. Không có gì phải khiếp sợ, nếu biết tự phát hiện ưu thế và bỏ công rèn luyện học hỏi và có cơ may, ai cũng có thể có một thuật gì đó hơn người, tất nhiên không phải dễ. Có người xây dựng sự nghiệp đời người chỉ dựa vào một thuật.
Thuật hơn người mà không đủ để kiếm ăn, dựng cơ nghiệp vẫn chỉ là thuật. Cùng lắm đem mãi võ mua vui, tư vấn phụ họa cho xôm trò. Thuật dẫu giỏi vẫn không bằng nghệ xoàng.
Nghệ là nghề. Nếu vừa là nhà nghề vừa có sự khác biệt mới là nghệ thuật. Nghệ cũng có nhiều mức: vừa đủ nuôi mình, nuôi gia đình, có sản phẩm cho xã hội, nuôi được nhiều người, lập doanh nghiệp, đầu tư,... đều là các mức nhau của nghệ. Đối với người bình thường đạt được một mức trung bình của nghệ là đủ. Trẻ từ bé phải được dạy tối thiểu cũng phải có một nghề để có thể ngẩng đầu làm người lương thiện. Với những trẻ có chí lớn phải có tư tưởng làm doanh nghiệp, gánh vác trách nhiệm. Xã hội mà những kẻ vô công rồi nghề không có sản phẩm, chỉ có thuật mà cũng thành đạt vinh thân phì gia là xã hội không có sản phẩm đang tự lừa mình và lừa lẫn nhau kiếm sống bằng trá thuật. Tôn vinh của xã hội là tôn vinh mẹo cờ bạc mưu chọi gà.
Pháp cao hơn nghệ là biết thay đổi, hô mưa gọi gió, cải cách xã hội, nghĩ ra những con đường mới, kết hợp nhiều loại năng lực. Đó là pháp. Pháp không chỉ là quen tay, thể hiện cái khéo, mà còn có thể biến cái này thành cái khác, không cố định bởi ước lệ công thức. Pháp thuật là nắm được phương pháp vạn năng để giải quyết hàng loạt vấn đề. Pháp có thể nói là tột đỉnh của hành sự.
Đạo là ở một cấp độ khác. Người ta hay nói đến đạo đức, nhưng đạo đức chỉ là cấp thấp của đạo. Đạo là phần tâm linh, ý nghĩa của sự tồn tại, tinh thần vị tha mã thượng quan tâm đến người khác. Không phải ai trong xã hội đều phải đi đến đạo, thậm chí nếu mọi người chỉ nói về đạo là lúc xã hội khủng hoảng, thiếu đạo lý. Những triết nhân như Bernard Shaw lúc đó sẽ tuyên bố : Tôi chỉ cần tiền

"Cơ may này không đợi dân tộc mình lâu!" (Phần 2)

VietNamNet giới thiệu phần 2 bàn tròn về cải cách thể chế với PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, TS Huỳnh Thế Du và Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nguyễn Xuân Thành. Đây là nhóm tác giả chính của báo cáo tư vấn chính sách mới đây cho Chính phủ VN về cải cách thể chế, được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác giữa ĐH Harvard, Chương trình Phát triển Liên hiệp Quốc và Chính phủ VN.

Có hay không lực lượng cải cách ở VN?

Nhà báo Việt Lâm: Ông Nguyễn Xuân Thành có nhắc đến một cụm từ rất hay là “lực lượng cải cách”. Trong một bàn tròn mới đây với VietNamNet, TS Nguyễn Đình Cung (Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương) có chia sẻ rằng ông cảm thấy những tiếng nói cải cách còn đơn độc quá, chưa được bắt lời một cách rộng rãi. Vậy thì nhận định về lực lượng cải cách có phải quá lạc quan hay không?

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Một câu hỏi mà báo cáo đặt ra và cũng được nhiều người bàn luận trong hội thảo sang nay là liệu đã tới thời khắc cải cách hay chưa? Nói cách khác, bối cảnh hiện nay đã ép các nhà hoạch định chính sách ở VN phải cải cách hay chưa?

Nếu cảm thấy sức ép và đánh giá sức ép đó nguy hại, đe dọa đến tính chính danh của chính quyền, của đảng cầm quyền thì người ta bắt đầu đánh giá những lựa chọn để tiến hành cải cách. Cách đánh giá và lựa chọn lại tuỳ thuộc vào hệ nhận thức về gía trị của từng người khác nhau. Để bảo vệ tính chính danh của chính quyền, có nhóm thì muốn VN cởi mở hơn, chấp nhận ngày càng rõ rệt hơn những chuẩn mực quốc tế. Ngược lại, có những nhóm đề cao những giá trị, ý thức hệ cũ của họ và theo nghĩa như vậy chống lại những sức ép cải cách mang tính hội nhập. Chúng tôi hiểu rằng có thể xuất hiện những lực lượng thúc đẩy cải cách, cũng có thể có những lực lượng chưa muốn cải cách diễn ra, hoặc diễn ra theo những cách khác nhau.

Ngoài ra, lựa chọn cải cách cũng rất khác nhau. Tôi nhớ anh Lê Minh Thông, Phó Ban thư ký Ban biên tập Hiến pháp 2013 cho biết trong khoảng 6-7 tháng thảo luận về dự thảo Hiến pháp 2013, VN đã tổ chức 28,000 cuộc hội thảo với khoảng 26 triệu ý kiến cử tri. Điều này cho thấy rằng đất nước đứng trước một vấn đề nhưng các lời giải rất đa dạng.

Vậy thì chọn lời giải nào thuyết phục người khác đây? Bản chất đó là cuộc thương lượng. Trong cuộc thảo luận về Hiến pháp, chúng ta chứng kiến sự giằng xé của nhiều ý kiến khác nhau, từ vấn đề kinh tế nhà nước có chủ đạo hay không, nhà nước nên đóng vai trò gì trong nền kinh tế…Hay kì Đại hội Đảng XI, chúng ta được chứng kiến cuộc thảo luận giữa ông Võ Hồng Phúc – Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Đầu tư lúc bây giờ với ông Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về vai trò chủ đạo của sở hữu công cộng. Những cuộc thảo luận như thế từ trong Đảng, lan ra xã hội, rơi vào nghị trường, phản ánh những lựa chọn khác nhau của các nhóm khác nhau.

Bản chất của cải cách thể chế là cho người dân có thêm tiếng nói, để họ được biết, được tham gia nhiều hay ít vào những cuộc thảo luận như thế. Một số sự vụ xảy ra thời gian qua cho thấy sự đã rồi dân mới được biết. Nói cách khác, nguy cơ có những chính sách tồi tệ sẽ ngày càng tăng khi tiếng nói của dân giảm đi.

Nói như thế không có nghĩa là tăng minh bạch và dân chủ thì những sai lầm sẽ ít đi bởi đã là con người thì đều có khiếm khuyết. Nhưng càng minh bạch, càng thảo luận công khai, quá trình thương lượng càng khó khăn, buộc anh phải thuyết phục bằng lý lẽ thì quá trình đó sẽ lọc dần đi những quyết định nóng vội, hoặc che dấu lợi ích đằng sau hoặc chưa có căn cứ. Toàn bộ quy trình tham gia của người dân không dễ dàng, thậm chí rắc rối nhưng nó giúp giảm bớt nguy cơ đưa ra những quyết định thiên lệch.

 Lựa chọn tồn tại hay không tồn tại

TS Huỳnh Thế Du: Tôi muốn tiếp ý của anh Phạm Duy Nghĩa về thời khắc cải cách. Thực ra, các cải cách, thay đổi về cách tiếp cận, về ý thức hệ…chỉ xảy ra với một chế độ, một nhà nước nào đó khi đứng trước lựa chọn sống hay chết, tồn tại hay không tồn tại.

Trở lại câu chuyện cải cách năm 1986. Sự sụp đổ của một loạt chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu và khủng hoảng toàn diện trong nước đặt Đảng Cộng sản Việt Nam đứng trước nguy cơ sống còn. Khi đó, Đổi Mới 1 đã xảy ra.

Hiện nay, nếu nhìn ở khía cạnh kinh tế, chúng ta có thể nghĩ rằng tuy tốc độ tăng trưởng 5-6% thấp hơn kỳ vọng 7-8% giai đoạn trước nhưng vẫn ổn. Nếu chỉ nhìn từ khía cạnh đơn giản này thì áp lực không có. Nhưng với sự trỗi dậy của Trung Quốc, với sự kiện Giàn khoan 981 mà tôi cho rằng có ý nghĩa quyết định, áp lực đó đã hiển hiện. Nhìn lại lịch sử, chúng ta thấy khi cảm quan về sự tồn vong của dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia được đánh thức thì lúc đó người dân tự động có yêu cầu chính đáng làm sao phải có cải cách, có chính sách sáng suốt bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Nếu nhìn từ góc độ này thì Đảng và Nhà nước đang đứng trước một thách thức lớn là làm sao để người dân thấy rõ đường lối phát triển, bảo vệ chủ quyền của mình. Quan điểm cá nhân tôi cho rằng, bây giờ là thời điểm nước sôi lửa bỏng rồi.

Trở lại câu hỏi về lực lượng cải cách, chúng ta thấy đã có nhiều tiếng nói cải cách ở cả ba khu vực: khu vực công, khu vực doanh nghiệp và khu vực dân sự. Trong rất nhiều cuộc hội thảo không mở rộng, chúng tôi đã được nghe những tiếng nói cải cách từ khu vực công, tức là những mầm ấy, lực lượng ấy bắt đầu lớn lên rồi. Trong khu vực dân sự, qua câu chuyện về chặt cây xanh ở Hà Nội, xây Văn Miếu ở Vĩnh Phúc hay dự án lấp sông ở Đồng Nai cho thấy tiếng nói của người dân ngày càng mạnh mẽ hơn. Người ta biết cách tổ chức như thế nào để tạo áp lực buộc chính quyền phải điều chỉnh hành vi. Trong khu vực doanh nghiệp, rất nhiều DN chỉ mong mỏi có môi trường kinh doanh thực sự tốt để người ta tạo ra giá trị, chứ không phải chỉ để trục lợi.

Bởi vậy, tôi tin rằng, nếu có một quyết sách đúng đắn thì những mầm cải cách sẽ gắn kết với nhau.

Nguy cơ quyền lực rơi vào tay thiểu số

Việt Lâm: Kể từ khi Đổi mới đến nay, những thời cơ cải cách đúng là đã xuất hiện. Vấn đề là ngay thời điểm đó, quyết tâm cải cách là có, thậm chí không kém phần mạnh mẽ nhưng sau đó không hiểu vì lý do gì mà nó nguội dần đi, không biến được thành hành động, kết quả thực tế. Có những ý kiến cho rằng giá như trong 30 năm đổi mới vừa qua, những cơ hội đó được tận dụng thì có lẽ vị thế phát triển của VN giờ đã khác. Có thể rút ra được bài học nào từ những thời cơ bị bỏ lỡ như thế không?

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Xét trên lý thuyết, khi anh không phát triển được thì quyền lực sẽ rơi vào tay thiểu số, nhóm đầu sỏ hay giai tầng nhỏ bé trong xã hội nhưng khống chế toàn bộ tài nguyên, làm méo mó phân bổ lợi ích quốc gia. Những thể chế đó được gọi là thể chế khai thác, tức là mang tính khai thác bóc lột. Những thế chế như vậy tồn tại rất nhiều ở các nhà nước độc tài chuyên chế, bóc lột. Sau khi đã tạo ra một giai tầng nhà nước có tính bóc lột thì nó sẽ có sức kháng cự lâu dài, theo một nghĩa tạo ra những thể chế ép dần lập pháp, tư pháp, báo chí tuân theo những lợi ích của nó.

Mới đây, ông Vũ Ngọc Hoàng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo TƯ cũng có viết nhiều bài về nhóm lợi ích, cảnh báo nếu VN bị rơi vào bẫy của thể chế khai thác thì thể chế khai thác sẽ ngày càng bền chặt, ngày càng kéo quốc gia đi xuống. Khi đó khó lòng Việt Nam vượt lên được ngưỡng như Hàn Quốc và Đài Loan đã đạt được.

Khó mà định nghĩa được sức ép đó thể hiện như thế nào nhưng cơ may để cải cách cũng không đợi dân tộc lâu. Nếu mình không tận dụng được, nếu không xuất hiện những lực lượng cải cách trong xã hội, thiếu những nhà lãnh đạo có kỹ năng, thiếu một xã hội có nền văn hóa đón nhận cải cách như vậy thì cơ hội cũng sẽ biến mất.

Liệu Việt Nam có đón được thời cơ cải cách này hay không cũng rất khó nói, không thể chỉ dựa vào cảm tính được mà phải phân tích kỹ hơn bối cảnh lịch sử, văn hoá và thể chế. Lấy ví dụ nhiều người vẫn ca ngợi Nguyễn Trường Tộ là nhà cải cách sớm, thậm chí sớm hơn nhiều nhà cải cách bên Nhật Bản và vẫn tiếc cho Nhà Nguyễn thiếu những nhà lãnh đạo đón nhận cải cách đó. Nhưng ở góc nhìn lớn hơn nữa, liệu xã hội Việt Nam thời đó đã đủ trưởng thành để đón cải cách như vậy chưa.

Hiện tại, có vẻ như áp lực bên ngoài đang đặt Việt Nam dưới một sức ép cải cách nhưng liệu dân tộc Việt Nam đã đủ trưởng thành để đón những cuộc cải cách rộng lớn hơn chưa? Điều đó cần nghiên cứu kỹ mới trả lời được.

Việt Nam rất giỏi trong việc làm vừa đủ

Chuyên gia Nguyễn Xuân Thành: Nếu nhìn về mặt lịch sử, Việt Nam rất thành công trong việc đối phó với thách thức trước mắt và cũng rất giỏi trong việc làm vừa đủ để vượt qua thách thức trước mắt và dừng lại ở đó, vẫn duy trì được những thể chế giúp mình tồn tại đến nay và thay đổi một chút để đối phó thách thức.

Đáng lẽ ra trong quán tính của việc vượt qua khủng hoảng, thách thức trước mắt, anh có thể nhân cơ hội đó mà tiến thêm một bước nữa. Bởi vì trong bối cảnh ấy, anh có thể huy động sự ủng hộ rộng rãi trong xã hội mà bình thường anh không làm được. Nó đòi hỏi anh thực hiện thêm một bước nữa để tạo ra những thay đổi và sau đó tạo thêm động lực để tiếp tục chuyển đổi lên nấc cao hơn nữa.

Về mặt lịch sử, đây là một điều đáng tiếc của Việt Nam. Thông thường khi vượt qua được khủng hoảng, thách thức trước mắt, chúng ta đã coi là thành công và muốn dừng lại một chút, chứ không muốn thay đổi mạnh mẽ. Câu cửa miệng chúng ta hay nói với nhau là phải có sự kế thừa, duy trì những gì đã có. Một thời gian sau, bức xúc lại xuất hiện và chúng ta lại quay lại quy trình ấy.

Thực ra, trong lịch sử chỉ có một số ít quốc gia thực hiện chuyển đổi thành công. Có nhiều nước còn không huy động được tài năng, sức mạnh của dân tộc để vượt qua thách thức trước mắt và bị sụp đổ. Xét theo khía cạnh này, Việt Nam đã làm vừa đủ để vượt qua được thách thức.

Chúng tôi đánh giá đây là thời khắc để Việt Nam cải cách thể chế. Nhưng cũng như những thời khắc trong quá khứ, tôi tin là Việt Nam sẽ vẫn vượt qua được khó khan trước mắt. Nhưng liệu có những chuyển đổi sâu rộng để trở thành một quốc gia phát triển trong vòng 20-30 năm nữa hay không thì tôi chưa dám nhận định.

Giấc mơ kiến trúc sư trưởng cải cách

Việt Lâm: Như ông Thành vừa phân tích, có lẽ tâm thế thận trọng, đặc tính giỏi xoay sở với tình thế nhưng khó đi được đường dài của người Việt đã phần nào hạn chế tầm nhìn cải cách. Nó cũng quy định hai quỹ đạo cải cách. Nếu như cải cách ở Trung Quốc là cải cách áp đặt từ trên xuống thì Đổi mới của Việt Nam lại bắt đầu từ những cuộc phá rào ở địa phương. Bài học thành công của Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore…là có một kiến trúc sư trưởng dẫn dắt cải cách thành công. Liệu lần này chúng ta có thể hi vọng quỹ đạo cải cách của VN sẽ thay đổi theo hướng đó hay không?

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Tôi e rằng hi vọng xuất hiện một kiến trúc sư trưởng đủ tầm dẫn dắt dân tộc là một mơ ước tương đối hoang tưởng. Bởi vì một nhân vật như thế chỉ có thể xuất hiện ở những dân tộc có nền học thuật, có những cuộc tranh luận giữa giới trí thức rất dữ dội, mới tóe ra những triết lý cải cách; chỉ có được trong những xã hội cónền học vấn, có văn hóa tranh luận dám chấp nhận cái lạ cái mới; chỉ xuất hiện trong những chế độ, xã hội có tính cai trị tập trung, nhất quán; trong những quốc gia mà quyền uy áp đặt từ trên xuống dưới trở thành một thói quen lịch sử.

Theo các nhà văn hoá Kim Định, Trần Ngọc Thêm…người Trung Hoa và những nước phương Bắc là dân du mục sống trên đồng cỏ, có tầm nhìn phóng khoáng, có kỷ cương. Họ dùng lưỡi gươm và quyền uy để thiết lập đế quốc của họ. Ngay từ 2000 năm trước, Tần Thuỷ Hoàng thiết lập nên đế chế Trung Hoa với bộ máy cai trị từ trên xuống dưới, với quận huyện được cấu thành như những mắt xích của TW. Thiết chế này đã là truyền thống của nước Trung Hoa, cứ thế nới rộng ra thôi.

Ngược lại, ở Việt Nam, cộng đồng làng xã hình thành từ những hàng vạn tiểu quốc con con, mỗi làng xã có luật lệ riêng. Người Trung Hoa có chữ Hán, thể hiện tư duy bằng chữ viết, còn chúng ta không có chữ viết riêng, truyền lại tư duy cho con cháu qua lối truyền khẩu là chính.

Điều đáng nói là với nền móng văn hoá của một xứ sở chưa từng có một chính quyền TƯ quyền uy, trấn áp một cách thống nhất, rạch ròi từ trên xuống dưới, rất khó để tạo ra những kiến trúc sư xuất chúng, có tầm nhìn, có sức mạnh phi thường tạo ra kỷ cương ép những tiểu vương kia phải tuân thủ. Về cơ bản, nước mình vẫn là nước phân quyền tương đối hài hòa giữa TW và địa phương. Trong lịch sử cũng vậy. Quyền uy của nhà vua thời phong kiến thực ra chỉ xuống đến ông quan huyện. Xã, lý trưởng, chánh tổng và tuần phủ sống bằng đóng góp của dân làng, trong dân làng đó họ tạo ra một chính quyền tự quản. Thậm chí mãi đến năm 90, cán bộ phường xã của mình mới trở thành công chức chứ trước đó công chức của mình không bao gồm cán bộ cấp xã.

Với đặc trưng phân tán và tự trị như vậy, nên hệ luỵ cho đến bây giờ là chúng ta có 500 trường đại học nhưng không thể có một trường đại học đẳng cấp quốc tế. Trong khi đó, Trung Quốc cũng khó khăn như ta nhưng chỉ trong vài chục năm, Đại học Thanh Hoa, Đại học Nhân dân của họ đã vươn lên đẳng cấp thế giới. Chúng ta đầu tư nhiều nhưng không có cái nào ra tấm ra món.
Các Mác có nói một câu rất hay rằng: Không có bánh mì, không có triết học. Khi một xã hội đói kém, tích lũy tư bản không được bao nhiêu. Nếu đời cha giàu đến đời thứ hai chia cho các con đã nhỏ đi rồi, các cháu tranh nhau nữa càng teo lại. Cứ như vậy các miếng đất Việt Nam không hình thành được điền thổ lớn, con cháu mỗi người một mẩu như thế, khiến cho tích lũy về trí tuệ, về tầm nhìn hơi vụn vặt. Nói cách khác, tầm nhìn của chúng ta bị giới hạn bởi thôi thúc về dạ dày của chúng ta.

Chắc nhiều người cũng mơ như chị, nhưng tôi hoài nghi rằng trong bối cảnh dân tộc như thế có thể xuất hiện những nhà cải cách đặt ra đường ray cho dân tộc tiến thẳng lên câu lạc bộ của 30 nước giàu có.

Đảng giữ vai trò trung tâm

Việt Lâm:
Vậy thì thay vì đặt cược vào một giấc mơ ít khả thi như thế, liệu có cách nào bớt rủi ro, bớt ăn may hơn không?

TS Huỳnh Thế Du: Trước khi trả lời câu hỏi này, tôi muốn nói thêm một chút về đề tài kiến trúc sư trưởng cho cải cách. Mọi người hay lấy Park Chung-hee của Hàn Quốc, Đặng Tiểu Bình của Trung Quốc, Lý Quang Diệu của Singapore, hay Thiên Hoàng Minh Trị của Nhật Bản làm dẫn chứng thành công. Trong khi trên thực tế, cả khu vực Trung Đông, Châu Mỹ - La Tinh, Châu Phi đã có những thời điểm có những nhà lãnh đạo mấy chục năm dưới chế độ có quyền lực gần như tuyệt đối, nhưng hầu hết các nước này vẫn rơi vào tình trạng mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình hoặc là mãi không phát triển được. Nếu chúng ta đặt cược vào một cá nhân thì rủi ro sẽ nhiều hơn khả năng thành công. Lịch sử đã chứng minh như vậy.

Cách đây mấy tháng, ông Tony Blair, cựu Thủ tướng Anh có nói: “Nếu cải cách nào mà không có phản đối thì không phải là cải cách”. Sự thực cải cách là một quá trình cực kỳ đau đớn. Một số người sẽ mất đi quyền lợi, nhưng số đông phải được hưởng lợi. Anh Thành có nhắc đến cuốn “Vì sao các quốc gia thất bại?”. Ở đây, thể chế bao trùm hay dung hợp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Khi chúng ta nhìn tất cả các nước đã phát triển thì vai trò của một cá nhân chỉ ở một mức độ nào đó, nhưng nghị trình phát triển phải có sự tham gia của đông đảo từ tầng lớp tinh hoa đến người dân thường.

Trở lại câu chuyện của Việt Nam hiện nay, vấn đề mấu chốt phải được đề cập đến là vai trò lãnh đạo của Đảng. Đảng phải đóng vai trò trung tâm, đứng ra tập hợp được tất cả các tầng lớp nhân dân tham gia vào tiến trình cải cách, giống như Đảng đã tập hợp được đông đảo lực lượng giành chính quyền năm 1945. Muốn thế, Đảng cần tạo ra một môi trường cởi mở để tất cả người dân có thể tham gia và làm sao để các mầm cải cách, mầm tiến bộ càng ngày càng được nuôi dưỡng.

Chúng tôi có làm một nghiên cứu và thấy rằng trong lịch sử, các mầm cải cách của VN hay bị thui chột. Thời phong kiến, Phố Hiến, Hội An là những mầm phát triển kinh tế cực kỳ tốt nhưng cuối cùng bị coi là ngoại lai, bị bóp nghẹt.

Những mầm cải cách gần đây như hiện tượng Bình Dương, hiện tượng khu Nam Sài Gòn đã từng tạo ra hiệu ứng phát triển tốt cũng đang dần yếu đi.

Bởi vậy, câu chuyện hiện nay là làm sao Đảng có chính sách huy động sự tham gia của mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là tầng lớp tinh hoa vào công cuộc cải cách. Như anh Phạm Duy Nghĩa vừa nói, trước tiên phải để mọi người cãi nhau toé lửa ra đã. Khi cãi nhau toé lửa ra thì các ý tưởng hay ho mới hình thành, mới va chạm, từ đó may ra chúng ta tìm được đường lối phát triển phù hợp. Cần có một cơ chế để tất cả 90 triệu người Việt Nam cùng nghĩ, cùng tìm hướng phát triển cho Việt Nam chứ không phải câu chuyện của 3-4 triệu hay một số ít người nào đó.
(còn nữa)

10 Paintings Which Will Crush Your Brain Into Several Pieces

A beautiful moon

A lake or a girl

A puzzle or living room

A human bridge

Air, Sea or Beach
 
A city tree

A bed or air view

A waterfall or people

Trees or a street

A bridge of boats
from Web Boxes

18 Quy Tắc Sống Của Đức Đạt Lai Lạt Ma

Đức Đạt Lai Lạt Ma được xem là vị lãnh tụ tinh thần của Phật giáo Tây Tạng. Phật giáo được coi như là một tín ngưỡng nhưng những lời khuyên của Đức Đạt Lai Lạt Ma thường vượt lên trên những khuôn khổ hạn hẹp của một tôn giáo.
Những lời dạy của Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ giúp bạn rút ra những bài học bổ ích, thực tế và sâu sắc cho cuộc sống của bạn, giúp bạn vượt qua những ý niệm tầm thường, từ đó biết cách đối nhân xử thế, không chỉ hoà hợp với người khác mà còn biết cách làm cho đời sống của mình thêm phong phú và trọn vẹn.
Dưới đây là 18 quy tắc sống của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà ai cũng nên ghi nhớ:
1. Hãy luôn nhớ rằng tình yêu tuyệt vời và những thành quả tuyệt vời luôn đi cùng với rủi ro lớn.
2. Khi bạn thất bại, đừng đánh mất bài học.
3. Hãy luôn làm theo 3 chữ R này:
– Tôn trọng bản thân (Respect yourself)
– Tôn trọng mọi người (Respect others)
– Có trách nhiệm cho mọi hành động của bạn (Responsible)
4. Hãy nhớ rằng không có được điều bạn muốn đôi khi lại là một sự may mắn tuyệt vời.
5. Hãy học các quy tắc để bạn biết cách phá vỡ chúng một cách chính xác.
6. Đừng để một bất hoà nhỏ làm tổn hại một tình bạn lớn.
7. Khi bạn nhận ra rằng mình đã phạm phải một sai lầm lớn, hãy hành động ngay lập tức để sửa chữa nó.
8. Mỗi ngày hãy dành ra một ít thời gian ở một mình.
9. Cởi mở với những thay đổi, nhưng đừng đánh mất những giá trị của bạn.
10. Hãy nhớ rằng im lặng đôi khi là câu trả lời tốt nhất.
11. Hãy sống một cuộc sống chính trực và có giá trị. Khi về già và nghĩ lại, bạn sẽ có thể tận hưởng nó lần thứ hai.
12. Bầu không khí yêu thương của gia đình là nền tảng cho cuộc sống của bạn.
13. Khi bất đồng với những người bạn yêu thương, hãy chỉ đối mặt với tình huống hiện tại. Đừng khơi gợi lại quá khứ.
14. Chia sẻ kiến thức của bạn. Đó là một cách để có được danh tiếng muôn thuở.
15. Hãy dịu dàng với Đất Mẹ.
16. Mỗi năm một lần, hãy đến một nơi mà bạn chưa từng đến trước đó.
17. Hãy nhớ rằng mối quan hệ tốt nhất là khi tình yêu bạn dành cho người kia lớn hơn cả nhu cầu của bạn đối với họ.
18. Hãy đánh giá sự thành công của bạn bằng những gì bạn phải đánh đổi để có nó.

Phan Nguyễn Khánh (Vár,VIDI72)

Tuổi thơ

Tuổi thơ là quãng thời gian
đẹp nhất trong cuộc đời, tiếc
rằng chúng ta chỉ nhận ra điều
đó khi đã trưởng thành.



"Cơ may này không đợi dân tộc mình lâu!" (Phần 1)

Có vẻ như áp lực bên ngoài đang đặt VN trước sức ép cải cách. Nhưng cơ may này cũng sẽ không đợi dân tộc mình lâu. Nếu không xuất hiện những lực lượng cải cách, nếu thiếu những nhà lãnh đạo có kỹ năng, thiếu một xã hội có nền văn hóa đón nhận cải cách thì cơ hội cũng sẽ biến mất - PGS.TS Phạm Duy Nghĩa trăn trở.

 Nhóm lợi ích và sức ỳ của bộ máy

“Để thực thi được cải cách đòi hỏi quyết tâm chính trị, và một hình thức liên minh các lực lượng muốn thúc đẩy cải cách” Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nguyễn Xuân Thành.

LTS:Trong suốt thời gian qua, nhiều tiếng nói mạnh mẽ khẳng định sự cần thiết của cải cách thể chế đã được cất lên từ những người nắm giữ trọng trách trong Đảng, trong Quốc hội và Chính phủ. Như nhiều chuyên gia nhận định: nếu tập hợp đầy đủ các tuyên bố cải cách của các nhà lãnh đạo cấp cao thời gian qua đã đủ hình thành một chương trình cải cách toàn diện. Tuy nhiên, ngay chính các nhà lãnh đạo cấp cao cũng phải thừa nhận cải cách còn rất chậm chạp.
VietNamNet thực hiện cuộc bàn tròn về cải cách thể chế với PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, TS Huỳnh Thế Du và ông Nguyễn Xuân Thành, Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright nhằm tìm ra nguyên nhân và giải pháp khả thi cho thực trạng này. Đây cũng là nhóm tác giả tham gia thực hiện báo cáo tư vấn chính sách cho Chính phủ Việt Nam mới đây mang tựa đề: “Cải cách thể chế ở Việt Nam – từ tầm nhìn tới thực tiễn”. Báo cáo này được thực hiện trong khuôn khổ hợp tác giữa Đại học Harvard, Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc và Chính phủ Việt Nam.

Dự án vô bổ vẫn cố làm
 
Nhà báo Việt Lâm: Khi chúng ta đang bàn về cải cách thể chế thì ngay mới đây thôi, một loạt sự vụ xảy ra khiến dư luận bất bình. Nào là lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc bỏ 300 tỷ xây Văn Miếu trong khi biết công trình thiết yếu về dân sinh như y tế, giáo dục đang khát vốn. Điều đáng nói hơn cả là một công trình to như vậy đã lẳng lặng được xây cất trong 5 năm, đến khi khánh thành rồi thì báo chí, người dân mới được biết. Rồi lãnh đạo Đồng Nai đồng ý cho một nhà đầu tư vào lấp một phần sông Đồng Nai làm dự án. Hay Hà Nội chặt bỏ cây xanh. Những câu chuyện vừa qua nói lên điều gì?


PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Ví dụ thứ nhất nói tới chi tiêu công. Một đất nước có thể kém phát triển và chi phí phát triển tăng cao nếu đầu tư công bị thiên lệch, có lợi cho thiểu số, trải chi phí cho số đông dân chúng. Bất kỳ một đầu tư công nào cũng dẫn đến những xung đột, lợi ích khác nhau, người được hưởng lợi và người không được hưởng lợi. Những cuộc tranh luận như vậy đáng lẽ phải diễn ra ở những cơ quan dân cử, ví dụ Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, phải được tham vấn người dân thông qua những kênh truyền thông. Qua đó cho thấy việc thảo luận về đầu tư công ở Việt Nam, kiểm soát đầu tư công của cơ quan dân cử, sự tham gia giám sát của báo chí chưa hiệu quả.

Ví dụ thứ hai ở Đồng Nai nói đến chi phí, phí tổn của phát triển. Một dòng sông nếu lấp đi thành khu đô thị chắc cũng có lợi cho một số người nhưng cũng kéo theo hệ quả lâu dài cho tỉnh Đồng Nai và những tỉnh lân cận, gây ra những phí tổn không thể bù đắp cho thế hệ mai sau. Vì vậy, phát triển của VN nếu nhìn từ một tỉnh, một quốc gia xuất hiện những tổn hại về môi trường và những chi phí khác. Những cuộc thảo luận giữa những nhóm lợi ích đó cũng cần diễn ra. Nếu càng minh bạch, càng có những kênh thảo luận đa chiều thì rủi ro lựa chọn những dự án kém đó càng ít đi.

Vụ chặt cây ở Hà Nội là một hành vi của chính quyền. Dưới sự cho phép của chính quyền, những người thợ mới chặt cây. Có điều hành vi chặt cây giữa mùa hè nóng bỏng như thế dường như đã không được lý giải một cách thỏa đáng về kinh tế, xã hội, văn hóa thậm chí tâm linh. Nó cho thấy những hành động của chính quyền có khi cũng chưa được cân nhắc kỹ, có khi có lợi cho một số người nhưng cũng gây tổn hại cho cả cộng đồng.

Ở một khía cạnh khác của câu chuyện, khi dân chúng nhìn thấy những hành vi đó, ngay lập tức họ có thái độ và cách tổ chức bày tỏ sự phẫn nộ. Họ biết cách tập hợp lực lượng để buộc chính quyền chịu trách nhiệm, ít nhất là đối thoại rồi dừng lại những hành vi chưa thỏa đáng đó.

Ba ví dụ vừa nêu có thể khái quát bối cảnh VN hiện nay. Đó là những cuộc thảo luận về mô hình tăng trưởng và ai được hưởng lợi từ phát triển kinh tế hiện nay, thứ hai là những thay đổi trong nhận thức của người dân, đòi hỏi chính quyền phải đối thoại. Tất cả những cái đó là bối cảnh cải cách thể chế mới cần được thảo luận kỹ hơn.

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa

Chuyên gia Nguyễn Xuân Thành: Những câu chuyện xảy ra vừa qua cho thấy hai điều: Thứ nhất, phản ứng của người dân, sức ép của xã hội đối với những quyết định chính sách, những dự án đầu tư sai rành rành được thể hiện rất rõ. Có thể anh vẫn cố làm, nhưng cũng không thể đặt vào thế sự đã rồi mà buộc phải điều chỉnh. Việc ra quyết định chính sách không phải cứ làm đúng theo quy trình, theo khung luật pháp hiện hữu là được. Những quyết sách sai rõ ra đó thì lập tức anh sẽ chịu phản ứng xã hội.

Ở một khía cạnh nhẹ nhàng hơn, có những chính sách không phải sai rành rành mà cần thời gian thẩm định, đặc biệt là những dự án mà chưa chắc lợi ích hay chi phí sẽ nhiều hơn. Ngày xưa, những dự án này nhà nước quyết là được. Nhưng hiện nay, những dự án đó khi được đưa ra dư luận đều gây tranh cãi, từ những siêu dự án như sân bay Long Thành đến những dự án nhỏ chuyển đổi từ công sang tư.

Theo nhìn nhận của tôi, những ví dụ này cho thấy những chuyển động tích cực, rằng sức ép xã hội buộc những người cầm cân nảy mực phải có sự điều chỉnh, xem xét lại những quyết sách không hợp lý. Đấy là những chuyện cách đây 10 năm chúng ta chưa thấy, cách đây 5 năm mới bắt đầu xuất hiện và một năm trở lại đây thì xuất hiện ngày càng nhiều. Điều đó phản ánh thực tế là sức ép, sự phản biện xã hội đối với chính sách ngày càng mạnh mẽ hơn. Đứng trước sức ép đấy, nếu anh không có phản ứng, hay phản ứng thụ động thì chỉ làm cho bất bình tăng lên. Bởi vậy, có lẽ đã đến thời điểm hệ thống cần phải có những cải cách sâu rộng hơn.

TS Huỳnh Thế Du: Câu cửa miệng của hầu hết những người làm trong khu vực công là nhà nước của dân do dân vì dân, nhưng những ví dụ vừa nêu cho thấy việc thực thi những khái niệm này đang gặp trục trặc.

Nếu nhiều người dân được hưởng lợi thì họ không phản ứng quyết liệt như vậy. Có vẻ như có những dự án rất vô bổ nhìn ở khía cạnh có ích cho số đông, cho kinh tế-xã hội địa phương nhưng vẫn có rất nhiều người thích làm.

Vấn đề đặt ra ở đây là phải làm sao cho những quyết định chi tiêu công hay những quyết định quan trọng, ảnh hưởng tới số đông phải chịu sự giám sát, của số đông. Nói cách khác, người dân phải có quyền, có tiếng nói. Nếu tình trạng này cứ tiếp tục diễn ra, tôi e rằng sự bất bình, mất niềm tin sẽ ngày càng tăng.

Thể chế tốt sẽ trừng phạt người quyết sai

Việt Lâm: Những câu chuyện mà chúng ta vừa nhắc tới ở trên không phải là câu chuyện cá biệt của một địa phương nào. Vậy vì sao những sự cố như vậy vẫn lặp lại?

Chuyên gia Nguyễn Xuân Thành: Những quyết định về mặt chính sách của nhà nước nhiều khi không đơn giản. Nhiều khi chúng ta hay tự hỏi tại sao dở như thế mà lại làm. Nhưng lúc người ta quyết định, người ta không nghĩ là nó dở, cũng không cảm nhận được phản ứng của xã hội như thế nào, ngoại trừ những trường hợp có động cơ cá nhân.

Nếu so sánh với các nước khác, kể cả những nước đã phát triển như Mỹ, chúng ta sẽ thấy những dự án đầu tư công không dẫn đến đâu cũng hay xảy ra lặp đi lặp lại. Vấn đề là một hệ thống thể chế tốt sẽ có sự trừng phạt đối với những quyết định ấy.

Khi có sự phản biện của xã hội thì các chuyên gia, các cơ quan nghiên cứu độc lập sẽ có những phân tích khách quan để chỉ ra đấy là quyết định sai, chỉ rõ ra chi phí, tổn thất mà quyết định anh tạo ra lớn hơn nhiều lợi ích cho một nhóm nào đấy. Khi sự việc được phân tích rõ ràng thì một hệ thống thể chế tốt sẽ có hình phạt đối với tổ chức, cá nhân đưa ra quyết định đấy.

Lý do người ta làm được việc ấy, thứ nhất là hệ thống thể chế cho phép, thứ hai là anh có thể quy trách nhiệm đến một tổ chức cụ thể, một cá nhân cụ thể. Như vậy nó sẽ tạo ra những tiền lệ. Sau đó người ta nhìn vào đấy để biết anh làm như vậy thì sẽ bị trừng phạt. Thể chế sẽ trừng phạt anh chứ không phải thể chế sẽ bảo vệ anh dù anh làm sai.

Giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Nguyễn Xuân Thành.

Lợi ích cá nhân, trách nhiệm tập thể

Việt Lâm:Nhân nói chuyện trừng phạt, vấn đề ở đây là để chỉ đích danh cá nhân nào chịu trách nhiệm dường như rất khó. Ví dụ như vụ chặt cây xanh ở Hà Nội, người đứng đầu Chính phủ yêu cầu truy đến cùng cá nhân nào chịu trách nhiệm nhưng đến báo cáo kết luận thì dường như trách nhiệm lại thuộc về tập thể.

PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: Trách nhiệm giải trình là gì? Trách nhiệm giải trình nghĩa là trước dân chúng anh phải cắt nghĩa được lý do gì anh quyết định hành vi đó, chính sách đó. Ví dụ anh bảo trông cây vàng tâm, hay cây mỡ nào đó, thì anh phải giải thích cho dân chúng hiểu.

Thứ hai, giả sử chính sách đó sai thì anh phải chịu trách nhiệm. Trách nhiệm ở đây nghĩa là phải có người chịu hậu quả bất lợi. Đó có thể là trách nhiệm chính trị, ví dụ như anh mất đi sự tín nhiệm của dân chúng, anh phải từ chức. Trách nhiệm về hành chính nghĩa là anh phải bị khiển trách, kỷ luật, thậm chí giáng chức, đuổi việc. Trách nhiệm về vật chất thì anh phải đền bù,… những thứ đó người ta gọi là trách nhiệm giải trình – một cơ chế ràng buộc những người nắm trong tay quyền lực công phải chịu trách nhiệm trước cử tri.

Quay trở lại vụ chặt cây xanh Hà Nội. Hiện nay chúng ta có một cơ chế không rõ ràng về trách nhiệm giải trình, bắt đầu từ chỗ người đưa ra chính sách không phải giải thích. Thậm chí người ta còn không nghiên cứu kỹ một trách nhiệm nữa là con đường Nguyễn Trãi nối Hà Nội với Hà Đông thậm chí bị chặt trụi hết cây. Sau này, người ta mới phát hiện ra trong hồ sơ nhà thầu làm tàu điện trên cao không hề có đánh giá tác động môi trường. Đáng ra, nếu anh bắt buộc nhà thầu có đánh giá tác động môi trường thì có khi người dân đã biết để yêu cầu nhà thầu bảo vệ những cây xanh đó.

Giả sử làm sai rồi thì phải có một cơ chế cá thể hoá ai chịu trách nhiệm. Hiện nay, dường như cơ chế của chúng ta quá nhiều người quyết nên mới sinh ra quá nhiều cuộc họp. Cán bộ đi họp nhiều đến mức mỗi bộ có đến 5 -6 ông thứ trưởng chủ yếu để đi họp. Lý do phải đi họp nhiều là các cuộc họp đưa ra quyết định của tập thể. Quyết định tập thể sẽ góp phần che dấu đi trách nhiệm của người chịu quyết định. Nói tóm lại, bệnh họp nhiều bắt nguồn từ một cơ chế không muốn ai chịu trách nhiệm. Cơ chế đó có lợi cho từng cá thể nên không ai muốn thay đổi cả.

Muốn tiến tới trách nhiệm giải trình rõ hơn, ngoài những ý như anh Thành nói thì cần phải làm rõ trách nhiệm cá nhân đứng đầu. Trở lại trường hợp chặt cây sai, nói một cách thẳng thắn thì người chịu trách nhiệm chính trị phải là ông lãnh đạo chính quyền bởi ông chịu trách nhiệm chính trị cho những hoạt động diễn ra trong khuôn khổ thành phố; người chịu trách nhiệm hành chính ví dụ người trình văn bản đó là ông giám đốc sở xây dựng nếu trong phạm vi của ông ta vì ông ta chỉ chuyên môn giúp việc cho chính quyền chứ ông ta không có quyền quyết định; còn nếu trách nhiệm hình sự ai lợi dụng việc chặt cây đó để bán lấy tiền thì phải chịu trách nhiệm cá nhân của từng người trước pháp luật. Cơ chế chịu trách nhiệm như thế ở VN một là chưa được nghiên cứu rõ; hai là quy định còn hết sức chung chung và thứ ba là có lợi cho những người trong bộ máy nên nó nhùng nhằng, khó thay đổi.

TS Huỳnh Thế Du: Trong các nghiên cứu về lựa chọn các quyết định tập thể chỉ ra rằng trong tập thể, tất cả mọi người đều suy nghĩ hợp lý vì lợi ích của mình và thường đưa ra các kết quả phi lý về mặt tập thể, có nghĩa là những thứ sai rành rành vẫn xảy ra.

Câu chuyện ở đây là trách nhiệm giải trình. Chúng ta đều thấy rằng với mỗi công chức, mục tiêu quan trọng nhất là thăng tiến. Vấn đề là trong hệ thống chúng ta, việc thăng tiến là do cấp trên quyết định chứ không phải do người dân hay đối tượng tôi trực tiếp phục vụ quyết định. Trong khi ở những xã hội phát triển thì những người tôi phục vụ có quyền quyết định vị trí của tôi trong nhiệm kỳ tới.

Các cụ ta có câu “ ăn cây nào rào cây ấy”. Cách đây mấy năm, khi xảy ra sự kiện Đoàn Văn Vươn, chúng ta thấy phát biểu của một lãnh đạo Hải Phòng chỉ chăm chăm làm sao bảo vệ cấp trên của mình, bất chấp dư luận. Cái cơ chế đó đảo ngược hết hành vi của tôi, tôi sẽ cố gắng bao biện, đùn đẩy cho trách nhiệm tập thể. Đương nhiên, tôi có lợi ích cá nhân trong trách nhiệm tập thể. Thành thử dẫn tới hiện tượng có những quyết định trong khu vực công dường như chỉ có lợi cho một thiểu số nào đó, trong khi gây tổn hại cho toàn xã hội.

TS Huỳnh Thế Du (Đại học Harvard)

Sức ỳ bộ máy và sự chống đối của nhóm lợi ích

Việt Lâm: Những vấn đề chúng ta vừa phân tích ở trên tôi tin là nhiều người trong bộ máy đã cảm nhận thấy. Bằng chứng là thời gian qua, có nhiều tiếng nói trong hệ thống lên tiếng về cải cách thể chế. Chẳng hạn, người đứng đầu Chính phủ đã nhiều lần nêu thông điệp rõ ràng về sự cấp bách phải cải cách thể chế cũng như vạch ra đường hướng cải cách. Một số bộ trưởng cũng đăng đàn đề cập đến chủ đề này. Nhưng tại sao đã có những tiếng nói cải cách mạnh mẽ từ những người nắm giữ trọng trách mà cải cách vẫn chậm chạp như thế, nhọc nhằn như thế?

Chuyên gia Nguyễn Xuân Thành: Cần hiểu rằng từ việc đưa ra được những tuyên bố, chuyển nó thành văn bản rồi đến thực thi các chương trình cải cách là cả một quá trình. Quá trình ấy bắt đầu bằng việc anh nhìn nhận được những yếu kém, bất cập đã xảy ra trong thời gian qua và đánh giá được hậu quả của những bất cập đó gây ra cho nền kinh tế. Rồi đi đến một bước nữa là anh cảm nhận được nếu như không thay đổi thì sự bất bình của dân chúng ngày càng gia tăng. Tiếp theo là một quá trình đấu tranh ý thức hệ, anh phải thay đổi cách nhìn, điều chỉnh lại cách suy nghĩ trước đây. Từ đó, anh đưa ra được các tuyên bố, rồi từ tuyên bố ấy, trải qua một cuộc đấu tranh ý thức hệ nữa mới đưa được thành văn bản, chính sách. Rồi khi chính sách đi vào thực hiện có thể gặp phải hai lực cản: một là sức ỳ của bộ máy, hai là phản ứng chống đối của các nhóm bị thiệt hại.

Qua quan sát của chúng tôi, đến thời điểm này đã có một sự chuyển đổi trong nhận thức, trong ý thức hệ. Nhiều người trong bộ máy đã cảm nhận được những yếu kém, bất cập, có thể chưa đến mức không cải cách thì hậu quả lớn nhưng họ cũng cảm nhận được rằng nếu không cải cách thì đất nước sẽ trì trệ, bất bình sẽ gia tăng. Như chúng tôi đã nói rõ trong bài phân tích của mình rằng nếu không có sự thay đổi, tính chính danh của Đảng, của chính quyền sẽ được đánh dấu hỏi.

Chính vì vậy mà thời gian qua, có những tiếng nói cải cách rất mạnh mẽ thậm chí con đường đi cụ thể cũng đã được tuyên bố thành văn bản. Cản ngại hiện tại là sức ỳ bộ máy và sự chống đối của những người bị thua thiệt. Để thực thi được cải cách đòi hỏi sức mạnh của bộ máy và quyết tâm chính trị, cộng với một hình thức liên minh các lực lượng muốn thúc đẩy cải cách, mới có thể vượt qua được các lực chống đối. (còn nữa)
  • VietNamNet

Thursday, July 2, 2015

Cuộc đời tốt đẹp

Cuộc đời tốt đẹp được đo
không phải bằng xe ô tô
sang trọng và nhà lầu mà
bằng những trải nghiệm
thú vị và những kỷ niệm.



Vào đời cần kiến thức gì?

Mấy hôm nay có một số ý kiến than phiền về đề thi tốt nghiệp Toán Lý, cho là khó, người thì cho là không phản ánh trình độ, rồi lại cho là không cần đối với công nhân, người làm kinh tế, kỹ sư,....
Tạm bỏ qua đề khó dễ, phản ánh được trình độ được hay không, mà tôi không phải là chuyên gia ra đề thi không đủ lý lẽ để bàn. Cảm nhận cá nhân thấy, có tiến bộ hơn nhiều so với cách thi cũ.
Nhân chuyện này bàn một chút về kiến thức cần hay không cần. Nhìnchung mọi kiến thức đều cần. Bớt stupid đi một chút, thông minh lên một chút là năng lực cải thiện số phận cá nhân tăng lên, số phận dân tộc cũng theo đó mà lên.
Thật khó nói kiến thức gì cần hay kiến thức gì không cần. Tuy nhiên, có ba vấn đề cần đảm bảo trước hết là phương pháp suy nghĩ, kỹ năng mềm và nhân cách.
Nhân cách phải dựa trên rèn luyện kỹ năng sống. Phương pháp phải dựa trên kiến thức cụ thể. Như vậy phải có một yêu cầu kiến thức nền tảng chung để xây dựng phương pháp và kỹ năng. Thực ra kiến thức gì không quan trọng, miễn là có thể rèn luyện phương pháp và kỹ năng trên đó. Khi đã có phương pháp và kỹ năng tốt, mỗi cá thể sẽ tốn ít thời gian nhất và có thể học những điều mình cần, dù điều đó mới và xa lạ thế nào.
Tuy nhiên, nền kiến thức chung cần thiết là lý do "hiệu quả": 1. Hạn chế tranh cãi, giải thích dài dòng trong giao lưu 2. Có những kiến thức cần học trước, vì thay đổi trật tự tiếp thu kiến thức có thể đưa một người lên đài vinh quang hay dưỡng trí viện. 3. Có những kiến thức mà nếu người ta không biết, sẽ mất khả năng tiếp thu cái mới.
Có 5 mảng kiến thức, nhiều người cho rằng khó và vô ích, tôi cho rằng nếu không biết sớm, sau này sẽ khó tiếp thu, nếu dạy đúng lúc sẽ vô cùng dễ và một người không biết những cái đó sẽ là thiệt thòi cho bản thân họ.
Thứ nhất là calculus để biết được lẽ đời biến thiên và xu hướng động . Thứ hai là thuyết tập hợp là cơ sở của logic. Thứ ba xác suất: quy luật và ngẫu nhiên. Vật lý cổ điển: nói lên cái tất định. Vật lý lượng tử: nói về cái bất định.
Với người suy tư ưa khoa học có thể thêm 3: Thứ nhất là hình học và topo. Thứ hai là Thuyết tương đối. Thứ ba là Sự sống và tâm linh.
Thời tôi trẻ, ai không biết 5 yếu tố đầu tôi xem như không qualify để nói chuyện nghiêm túc. Nhưng đúng ra, có lẽ các tư tưởng này nên đưa vào chương trình phổ thông và các kỳ thi. Ba yếu tố sau nên để bổ sung vào các lớp honor.

Nguyễn Ái Việt (Debrecen, VIDI72)

Wednesday, July 1, 2015

Đừng quên...

Nếu bạn cảm thấy cuộc đời đang
thử thách mình, đừng quên một
điều: Mọi cơn bão rồi cũng sẽ
qua đi và trên các tầng mây, mặt
trời luôn chiếu sáng!