Monday, December 5, 2022
Tiền không phải là tất cả (3): Bóng đá, tiền bạc và chính trị
Tiền không phải là tất cả - Nhưng đủ sức tạo dựng và tàn phá bóng đá.
(tiếp theo)
Giải WC 2022 đã chỉ rõ sức mạnh của đồng tiền ở 2 trường hợp: Bóng đá Đông Á và Đông Âu.
Qatar hy vọng dùng tiền để nâng đội bóng của mình lên tầm thế giới, như họ đã làm trong hàng không, vũ trụ, truyền hình, giáo dục đại học, dầu khí v.v. Nhưng bóng đá khó hơn nhiều. Một nước với gần một triệu công dân và chỉ có 6.000 người biết đá bóng thì khó thể hy vọng vào một nền bóng đá mạnh. Có chăng chỉ là một nền bóng đá gà nòi. Các nước nhỏ như Croatia vẫn có thể có nền bóng đá mà ai cũng nể, vì đằng sau đó là cả một dân tộc hâm mộ. Người Qatar kéo đến sân xem đội nhà vì lòng tự hào, vì nghĩ rằng đội nhà sẽ oai lắm, chứ không mấy ai hâm mộ bóng đá. Khi đội nhà thua Ecuador đến quả thứ hai thì họ bỏ về hết, để cho các cầu thủ tội nghiệp cô đơn trên sân nhà. Đó không phải fan của một nền bóng đá. Tiền không mua được lòng hâm mộ là vậy.
Nhưng trường hợp của Nhật và Hàn quốc thì khác hẳn. Tại CHDC Đức năm 1968 tôi đã được xem trực tiếp giải Olympic Mexico qua vệ tinh. Khi đội tuyển bóng đá Nhật thắng Nigeria và hòa Tây-Ban-Nha, hòa Brazil ở vòng bảng, chúng tôi đã gào khản cố vì mừng vui cho dân da vàng. Cuối cùng, đội Nhật giành huy chương đồng. Khi đó không phải vô cớ mà cả thế giới nói về „Nguy cơ da vàng“.
Nhật Bản và Hàn là hai nền kinh tế hàng đầu, và cũng là hai nền dân chủ mẫu mực ở châu Á. Họ có chính sách phát triển bền vững trong nhiều lĩnh vực, kể cả bóng đá. Cả hai đội đều chấp nhận làm bị bông nhiều thập kỷ cho các đội Âu-Mỹ tập làm bàn. Mặc dù không lớn tiếng kêu gào tiến lên tầm thế giới, nhưng bóng đá đã đạt được sự hâm mộ lớn trong xã hội và đó là nền tảng cho sự trưởng thành chậm nhưng chắc của 2 nền bóng đá này. Ngày nay, các cầu thủ Nhật và Hàn rất được ưa chuộng ở châu Âu. Ưa chuộng không chỉ vì kỹ thuật, thể lực rất tốt, mà vì sự đam mê, chịu khó và đặc biệt là sự khiêm tốn. Những Son Heung Minh, Shinji Kagawa có trình độ và hiệu quả không kém các siêu sao châu Âu, nhưng nhận lương thấp hơn và đặc biệt là rất lễ độ với huấn luyện viên, với khán giả và báo chí.
Từ giải WC 2002 ở được đăng cai song song ở Nhât-Hàn, tình hình đã thay đổi. Cả hai đội chủ nhà đều lọt vào vòng sau và cuối cùng Nam Hàn xếp thứ tư thế giới. Điều đáng nói là FIFA chấp nhận cho hai nước đăng cai được vào thẳng giải mà không ai cho là vé rẻ rúng như Qatar hay Nam-Phi. (Vé của Nam Phi là vé chính trị vì thành tích hòa hợp dân tộc sau khi phá bỏ chủ nghĩa Apartheid nên không ai kêu ca).
Ở giải năm nay, hai đội Đông Á này lại lần nữa khẳng định sự phát triển bền vững của họ, khi đánh bại các đội sừng sỏ như Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha. Cái hay ở đây là họ không vỗ ngực nghĩ rằng mình đã là cha thiên hạ. Họ biết rằng sức mạnh của họ nằm ở kinh nghiệm của bóng đá châu Âu mà các cầu thủ của họ mang về từ đó. Sau lưng họ là hàng triệu người hâm mộ. Fan ra fan, đội nhà thắng không cởi truồng chạy ra phố, không coi mình là cái rốn của vũ trụ. Đội nhà thua không bỏ về, ở lại đến cùng để dọn rác.
Tới đây cũng có thể hai đội này sẽ bị ông lớn nào đó chặn lại, nhưng dù sao thành tích của họ là không thể chối cãi và hai nền bóng đá này trong tương lai gần sẽ nằm trong top 20 của thế giới. Đó là kết quả của đồng tiền đầu tư có bài bản.
--
Trong khi đó, đồng tiền đã phá hoại bóng đá ở Đông Âu.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phe XHCN hình thành ở Đông Âu. Bóng đá và thể thao đã trở thành quốc sách của các nhà nước XHCN nhằm nêu cao tính ưu việt của chế độ. Khác với nền bóng đá chuyên nghiệp ở Tây Âu sống bằng tiền thu từ bóng đá, với quyền chuyển nhượng mua bán cầu thủ, bóng đá Đông Âu được nhìn nhận như một môn thể thao nghiệp dư, một môn thể thao nhân dân.
Nhà nước XHCN thao túng và chỉ đạo thể thao như mọi lĩnh vực xã hội khác. Các câu lạc bộ ở đó đều thuộc các tổ chức nhà nước. Ví dụ các đội Dynamo ở Đông Âu, dù là ở Kiew, Dresden hay Zagreb, đều thuộc ngành công an. Các đội Sao đỏ đều thuộc quân đội. Các liên hiệp xí nghiệp lớn đều bỏ tiền ra nuôi các đội bóng. Cầu thủ các đội công an thì đeo lon cảnh sát, quân đội thì là sỹ quan. Thấy nhân tài nào hay thì đưa vào nghĩa vụ quân sự. Nhà nước tạo ra các trường huấn luyện, trung tâm thể thao lớn.
Một số người có thể còn nhớ đến cơn lốc bóng đá Hungary từng làm khuynh đảo các sân có châu Âu trong những năm 1950-1960. Trận thắng đội tuyển Anh 6-3 ngay tại sân Wembley ngày 25.11.1963 ngày nay được coi là „Match of the Century“ (Trận bóng thế kỷ). Năm 1954, đội tuyển Hungary vào chung kết ở Thụy Sỹ sau khi thắng CHLB Đức 8-3 ở vòng bảng. Trận Chung kết Đức thắng Hungary 3-2.[1]
Vụ xe tăng Liên Xô đàn áp đẫm máu cuộc nổi dậy 1956 của nhân dân Hungary đã tàn phá nền bóng đá nước này. Nhiều cầu thủ bị giết chết hoặc bỏ ra nước ngoài. Nhưng bóng đá Đông Âu vẫn phát triển. Trọng tâm chỉ chuyển dịch từ Hungary sang Nam Tư, Liên Xô, Tiệp Khắc, Ba-Lan.
Chiến thuật đá bóng ép (Pressing), vốn đươc coi là phát minh của bóng đá hiện đại, đã được huấn luyện viên Wiktor Maslow đưa vào thử nghiệm thành công tại các câu lạc bộ Torpedo Moskva và Dynamo Kyiw đầu những năm năm 1960. Cũng năm đó Liên Xô giành chức vô địch châu Âu và năm 1976 là đội Tiệp Khắc.
Năm 1983, trong một trận đấu giao hữu giữa CLB Viktoria Backnang của Đức và Dynamo Kyiw, ông Valery Lobanowsky đã áp dụng thành công chiến thuật ép ngược (Counter pressing). Lobanowsky vốn là nhà toán học nên tư duy bóng đá của ông rất khoa học. Ông cùng nhà tin học Anatoli Zelentsov đã mở đường cho việc ứng dụng máy tính phân tích đấu pháp và chuẩn bị cho trận đấu sau. Ông đã dẫn dắt Dynamo Kiyv hai lần đoạt cúp C2 (Vô địch các đội đoạt cúp quốc gia) và đưa đội tuyển Liên Xô vào chung kết giải Châu Âu 1988. [2]
Trong phần lớn thế kỷ 20, bóng đá hướng về Đông Âu để tìm nguồn cảm hứng. Ở hai giai đoạn rất khác nhau, trước và sau Thế chiến thứ hai, Đông Âu là ngọn hải đăng của sự hiện đại và tư duy tiến bộ trong bóng đá.
Sự sụp đổ của nền kinh tế XHCN và khi các đường biên giới Đông-Tây bị xóa bỏ năm 1990, nền bóng đá Đông Âu cũng tan rã. Các cầu thủ và huấn luyện viên giỏi đều bỏ xứ sở ra đi kiếm tiền ở phương Tây. Thiếu tiền, các trung tâm huấn luyên, nghiên cứu bóng đá của nhà nước bị giải thể. Hậu quả vô cùng nặng nề.
Năm 1986, Steaua Bukarest (CLB quân đội Rumanie) giành cúp C1 và năm 1989 lại vào chung kết C1. Năm 1991 Sao đỏ Belgrad (cũng của quân đội Nam Tư) giành cúp vàng C1. Vậy mà từ đó đến nay không còn CLB nào của Nam-Tư cũ và Rumanie vượt qua được vòng đấu bảng của Champions League nữa.
Trong giải Bundesliga (Đức) hiện nay chỉ có một đội bóng xuất phát miền Đông, đó là Union-Berlin, còn lại tất cả các CLB từng vang bóng một thời nay đều chìm nghỉm trong hạng hai hoặc hạng ba. Đội RB-Leipzig tuy đóng ở miền Đông, nhưng do tiền của từ tập đoàn tư bản RED BULL đổ vào.
Ở Nga và Ukraine, các tập đoàn cá mập mới đã đầu tư vào các CLB bóng đá ở đó rất nhiều. Khách đến thăm các CLB Spartak-Moskva, Zenith St. Petersburg, Schachtar Donetz hay Dynamo-Kiyv không khỏi ngạc nhiên về cơ ngơi huấn luyện ở đây. Có nhiều mặt chúng vượt xa các trung tâm ở Bayern hay Amsterdam.
Nhưng nền chính trị tham nhũng thao túng các liên đoàn bóng đá cũng như xã hội thiếu dân chủ, không minh bạch đã kìm hãm sự phát triển bóng đá ở hai nước này. So với đồng tiền của các ông lãnh chúa Ả-Rập đổ vào các CLB như Paris St. Germain hay Man-City thì hiệu quả đầu tư vào bóng đá Nga, Uktraine thấp hơn rất nhiều. Do đó những kẻ có tiền như Abramovich lại đổ tiền vào các CLB phương tây. Tất nhiên ở đâu bóng đá cũng gắn với tham nhũng. Nhưng ở những xứ có pháp luật minh bạch, báo chí có tiếng nói giám sát, đồng tiền đầu tư vào bóng đá sẽ nảy nở nhanh hơn và bóng đá được hưởng lợi.
Hậu quả là bóng đá Đông Âu giờ đây vẫn lẹt đẹt. Sức sống và truyền thống của thời kỳ hoàng kim trước 1990 chỉ đủ để duy trì mảnh đất sản sinh ra các tài năng „đánh thuê“ cho Tây Âu.
Xét về truyền thống và sự hâm mộ bóng đá, Việt Nam có lợi thế hơn hẳn Nhật và Hàn. Từ hơn 20 năm qua, đã có những đại gia Việt Nam đầu tư vào bóng đá một cách bài bản và đầy tham vọng.
Cũng là đổ tiền, nhưng sự khởi sắc của bóng đá Nhât, Hàn bên cạnh sự trì trệ của nền bóng đá „tỷ phú“ Nga, Ukraine cho thấy: Đổ tiền vào bóng đá mà không cải cách xã hội thì dù có tiềm năng đến mấy cũng tịt.
Nguyễn Xuân Thọ
Sunday, December 4, 2022
Lựa chọn nào cho cuối đời?
TRẠM CUỐI CUỘC ĐỜI …
☘️ Sống ở Mỹ khá lâu nên tôi ít nhiều cũng bị ảnh hưởng tư tưởng của người Mỹ nên không có ý định nhờ vả con cái khi tuổi về chiều. Một ngày nào đó khi thấy mình không còn khả năng để tự lo cho mình được nữa tôi sẽ vào sống trong các “Boarding care” để có người chăm sóc, nếu tệ hơn sẽ được hưởng những phúc lợi dành cho người cao niên và được bảo vệ bởi hệ thống an ninh xã hội Mỹ.
Ở Mỹ có “Nursing Home” được trang bị đầy đủ phương tiện, kỹ thuật và nhân sự chuyên môn để chăm sóc những người không còn khả năng tự lo cho mình, có “Hospice Service” chăm sóc vật chất lẫn tinh thần cho các bịnh nhân không thể sống hơn sáu tháng, giúp họ ra đi trong yên bình và giúp gia đình họ vượt qua giai đoạn khó khăn nhất.
Nhưng tư tưởng lạc quan nầy đã hoàn toàn thay đổi từ khi tôi thật sự đối diện với tử thần và nếm mùi bịnh viện sau khi trải qua một cơn bạo bịnh phải nhập viện trong 10 ngày. Tuy đã được thoát chết, vết thương mổ xẻ đã lành, nhưng những đau đớn về thể xác và vết thương tâm thần mà bịnh viện để lại vẫn còn hằn sâu trong ký ức không bao giờ lành. Từ đấy tôi bắt đầu thấy sợ bịnh viện, sợ luôn cả nursing home vì đây chẳng qua chỉ là một hình thức khác của bịnh viện, bịnh viện của người già.
Từ tâm trạng sợ hãi nầy tôi liên tưởng đến 4 năm hãi hùng mà nhạc mẫu tôi phải trải qua trong nursing home trước khi bà mất. Từ đấy những quảng cáo đẹp về nursing home với hình ảnh những cụ già vui chơi hạnh phúc được thay thế bằng những hình ảnh đau khổ của nhạc mẫu tôi và của những cụ già ngồi xe lăn ủ rủ, nghiêng ngả, cong queo, nhễu nhão, những gương mặt mếu máo, những ánh mắt vô thần.
Chúng tôi may mắn được sống chung với cha mẹ vợ vì bà xã tôi là con gái út. Lúc còn khỏe ông bà nhạc của tôi quán xuyến hết mọi chuyên trong nhà để vợ chồng tôi được rảnh tay lo chuyện ngoài xã hội. Hai con tôi gần gũi với ông bà ngoại nhiều hơn với cha mẹ chúng. Đi học về vừa đến cổng nhà là đã réo gọi ông bà ngoại. Tuy nuôi con nhưng thật ra tôi chưa biết thay tã hay cho con bú! Kể cã tiếng Việt chúng nói đều nhờ ông bà dạy từ ngày chúng bập bẹ tập nói.
Nhưng cuộc sống hanh phúc chấm dứt từ khi nhạc mẫu tôi ngã bịnh. Năm 78 tuổi, sau chuyến du lịch Việt Nam về, mẹ nằm suốt trong phòng, than mệt. Ngoài bịnh tiểu đường loại 2 mãn tính, mẹ thường xuyên bị nhiễm trùng đường tiểu, đau cột sống, ho kinh niên và sau đó khám phá ra bị ung thư phổi.. Từ đấy bà ra vào bịnh viện như đi chợ. Thiếu bàn tay của mẹ, gia đình tôi rối loạn lung tung, con cái đi học trễ, cơm nước thất thường, nhà cửa bề bộn. Vợ chồng tôi phải tập lại từ đầu cách quán xuyến gia đình, nuôi con, thêm nuôi mẹ già trong bịnh viện. Bố cũng yếu chỉ hụ hợ chuyện lấy thơ, đổ rác, đóng cổng là đã than mệt rồi.
Bác sĩ ung thư khuyến cáo không nên mổ xẻ hoặc trị liệu gì cho mẹ vì ung thư đã di căn đến não. Hơn nữa tuổi mẹ đã quá cao lại bị bịnh tiểu đường nên vết mổ không lành. Hãy để cho thiên nhiên quyết định vận mệnh của mẹ. Tôi dấu nhẹm lời bác sĩ bảo rằng mẹ chỉ sống tối đa là sáu tháng. Mẹ được cho về nhà với lời khuyên “thích ăn cái gì cho bà ăn cái nấy”. Nhưng “Còn nước còn tát” chúng tôi không chịu thua, chạy chữa bịnh cho mẹ bằng thuốc nam.. Ai bày thuốc gì ở đâu tôi cũng tìm cho được.
Khi lái xe mắt tôi cũng láo liên nhìn bên lề đường, dọc theo các hàng rào tìm cây cỏ “Dendelion” để hái lá cho mẹ ăn. Nghe nhà ai có cây nha đam chúng tôi cũng tìm đến xin hay mua cho bằng được. Bã xã tôi cầu nguyện cho mẹ hàng ngày không xao lãng.
Như được một phép nhiệm mầu, bịnh ung thư của mẹ tôi thuyên giảm dần dần và sau mấy tháng khối u trong phổi tự nhiên biến mất. Bác sĩ gia đình rất vui bảo “đừng thắc mắc, hãy cứ tin là như vây đi”. Nhạc mẫu tôi thì tin là mình đã hết bịnh thật, còn vợ chồng tôi thì gần như kiệt lực, mong sao phép lạ sẽ kéo dài.
Bịnh ung thư không thấy trở lại, nhưng bịnh đau cột sống làm mẹ đau đớn không ăn ngủ được nên sinh ra khó tính. Mẹ lại quên trước quên sau. Mẹ không còn kiểm soát được tiêu tiểu nữa nhưng nhất định không chịu mang tã. Bố cũng già mệt mỏi, suốt ngày ngủ trong phòng. Ông bà lại không biết tiếng Mỹ, không dùng điện thoại, nên khi vợ chồng tôi đi làm lúc nào cũng phập phòng lo sợ.
Bác sĩ gia đình đề nghị nên cho mẹ vào nursing home để dễ bề chăm sóc. Vợ chồng tôi đồng ý ngay nhưng gặp sự phản kháng quyết liệt của nhạc mẫu tôi. Suốt đời mẹ không bao giờ xa gia đình nửa bước nói chi chuyện cách ly vĩnh viễn! Đối với mẹ, mất gia đình là mất tất cã. Chúng tôi nể mẹ nên không dám nói chuyện nursing home nữa, chỉ sợ làm mẹ buồn ảnh hưởng đến sức khỏe.
Nhưng sức khỏe của mẹ càng lúc càng tệ. Sau lần cấp cứu cuối cùng vì bị ngất xỉu, bác sĩ đề nghị phải đưa thẳng mẹ vào nursing home, vì theo ông, đó là cách tốt nhất để bác sĩ có thể theo dỏi bịnh tình và giữ an toàn cho mẹ.
Ngày đầu tiên vào nursing home không ai nỡ bỏ mẹ một mình nên quấn quít bên bà cho đến tối rồi cũng phải ra về. Đó là ngày đầu tiên trong cuộc đời mẹ phải sống lẻ loi một mình bên những người xa lạ. Tôi còn nhớ rõ gương mặt thẫn thờ của mẹ nhìn theo con cháu đang bỏ bà mà đi. Tôi không dám nhìn mẹ lâu hơn vì tôi thấy mẹ khóc, một điều rất lạ đối với nhạc mẫu tôi vốn là người đàn bà can cường và cứng rắn.
Bố thấy tội nhiệp đòi mỗi ngày chở bố vào nursing home để ông chăm sóc cho mẹ. Được mấy tuần rồi tôi cũng chịu thua vì chuyện đón đưa hàng ngày thật là bất tiện. Còn nếu để bố đi xe bus nếu có chuyện gì xảy ra thì ai lo cho bố đây!
Từ ngày Mẹ vào nursing home vợ chồng tôi thở phào nhẹ nhõm, không còn phải lo lắng như khi xưa khi bỏ mẹ ở nhà. Chúng tôi yên tâm là mẹ được theo dõi và chăm sóc 24/7. Tan sở vợ chồng tôi chở bố vào thăm mẹ, thấy mẹ sạch sẽ thơm tho, giường nệm trắng tinh, kẻ qua người lại tấp nập vui vẻ lắm. Yên tâm chúng tôi dần dần xao lãng việc thăm viếng. Cả hai cháu cũng không còn đòi đi thăm ngọai nữa, nhiều khi phải bắt chúng mới chịu đi. Chúng không thích cái mùi trong nursing home.
Từ ngày sống trong nursing home mẹ hoàn toàn thay đổi, trở nên trầm lặng, ít nói, khác hẳn với mẹ trước đó “quậy” tưng bừng trong bịnh viện. Mẹ chịu mang tã, nằm yên trên giường, không có ý kiến chuyện chung quanh, không đòi hỏi gì, không còn than phiền đau lưng nhức gối, hay càu nhàu vì thiếu ngủ, mất ăn như lúc ở nhà.
Sau nầy mới biết bà đã được cho dùng thuốc an thần và thuốc đau nhức nồng độ cao nên lúc nào bà cũng ở trạng thái lờ đờ lim dim ngủ. Có lúc tỉnh táo, mẹ chỉ nhìn qua khung cửa sổ với đôi mắt vô thần. Hỏi mẹ có đau đớn gì không, mẹ lắc đầu. Hỏi có thích ăn uống đồ ăn Việt Nam không mẹ lắc đầu, tuy tôi biết là mẹ rất ghét đồ ăn Mỹ nhất là khẩu phần cho bịnh nhân tiểu đường và cao máu nhạt nhẽo không sao nuốt nổi. Mẹ chịu đựng, sống âm thầm không một lời than thở.
Cho đến một hôm mẹ nắm tay nhà tôi, nước mắt rưng rưng mẹ van xin:
- Mẹ muốn chết con à. Con xin người ta cho mẹ chết đi!
Bà xã tôi sững sờ, ôm mẹ năn nỉ:
- Mẹ đừng nói kỳ vậy, phải ráng lên chớ, con biết phải làm sao bây giờ?
Rồi vợ tôi cũng khóc. Tôi chỉ đứng nhìn. “Chúng tôi biết phải làm sao bây giờ”?
Vợ chồng tôi đều nghĩ rằng đã tìm được giải pháp tốt nhất cho mẹ rồi. Mẹ thì đã “ráng” quá nhiều, ráng đến mõi mòn, đến kiêt quệ nên muốn bỏ cuộc. Đã bốn năm dài đăng đẵng mẹ sống nơi đây như cái xác không hồn.
Có lúc chúng tôi vào thăm mẹ vào giờ ăn trưa thấy mẹ ngồi gục đầu trên xe lăn như một em bé ngoan, mắt nhắm nghiền, đợị đến phiên mình há mồm được đút cho ăn. Mẹ không còn thiết tha gì nữa.
Những tháng cuối cùng mẹ nằm trên giường đưa mắt nhìn con cháu, không cử động hoặc nói năng gì.. Hình như có điều gì u uẩn trong lòng mà mẹ không nói được hay mẹ có tâm sự gì nhưng muốn giấu kín trong lòng.
Một buổi sáng sớm, tôi nhận được cú điện thoại từ nursing home báo tin là mẹ chúng tôi đã mất đêm qua. Bà mất lúc nửa đêm nên không ai hay biết cho đến sáng ngày hôm sau. Bà âm thầm ra đi không một lời từ giã, không một giọt nước mắt tiễn đưa. Chắc mẹ cô đơn lắm lúc trút hơi thở cuối cùng.
Suốt đời mẹ lo cho chồng, cho con, cho cháu, ngày mẹ ra đi chỉ có một mình, trong cô đơn. Có ai biết rằng không phải mẹ chỉ cô đơn trong giây phút ra đi mà mẹ đã chết từ lâu rồi, kể từ ngày mẹ bước chân vào ngưỡng cửa nursing home, một nhà tù không cần đóng cửa. Tôi chợt hiểu được tại sao mẹ đã khóc ngày đầu tiên đến nursing home. Ngày ấy mẹ chấp nhận bản ản tử hình không văn tự vì muốn hy sinh cho con cái. Ngày ấy Mẹ đã khóc lời vĩnh biệt các con cháu rồi.
Chúng tôi vội vã vào nursing home vừa kịp lúc nhìn mẹ lần cuối cùng trước khi người ta phủ kín mặt mẹ với tấm trải giường màu trắng rồi mang xác mẹ đi. Mọi người đứng nhìn theo chết đứng, ngỡ ngàng, đớn đau, nhưng không ai khóc thành lời. Chúng tôi đã biết là ngày nầy sẽ đến với mẹ, và hôm nay nó đã đến.
Cái chết của nhạc mẫu nhắc tôi nhớ lại chuyện cổ tích về chuyện người tiều phu đẩy xe chở mẹ vào rừng cho thú hoang ăn thịt vì bà đã quá già. Tôi có khác gì người tiều phu đó, đã đưa nhạc mẫu tôi vào nursing home để chết. Đến một ngày nào sẽ đến lượt con tôi chở tôi đi như vậy sao?
Tôi lại nhớ đến chuyện con voi già biết mình sắp chết, nó âm thầm đi vào cái “nghĩa địa voi” là cái hang động cho voi đến để chết. Nó âm thầm gục chết một mình bên cạnh những đống xương voi già đã chết trước nó. Tôi chợt nghĩ nếu con người làm được như con voi già thì con cháu không phải cực khổ vì cha mẹ già, không phải khổ tâm vì mặc cảm là đã làm một hành động bất nhân, bất hiếu, như tâm trạng hối hận của tôi bây giờ đối với nhạc mẫu của tôi.
Nursing home. Cái trạm cuối của cuộc đời mấy ai tránh khỏi!
Bạn đã chọn cho mình như thế nào ?
🍁🍁🍁
Nguồn MTĐN
Vule Bt (Bài & Ảnh )
Saturday, December 3, 2022
Ý thức vs Thế giới
Khi con người đưa ý thức vào 1 chủ đề, hoặc họ đẩy điều đó lên cùng những giá trị tinh thần hoặc xem xét/phê phán dựa trên lập luận của mình.
Thế giới là sự tồn tại ngoài ý thức của con người. Nó ko hề thay đổi quy luật, dù con người tự coi lý thuyết của mình là tất yếu!
Friday, December 2, 2022
Từ Tâm Sinh diệt tới Tâm Chân như,
1. Tôi cho rằng nghiên cứu để hiểu Ý thức và tu tập vận dụng Ý thức là hai việc khác nhau về cả phương pháp và mục tiêu. Cũng như nhà nghiên cứu kim loại không chắc đã là một bác phó rèn tốt. Nói như thế không có nghĩa là tôi coi thường tu tập, nhưng quả tình tôi không có thời gian và cũng không muốn mạo hiểm với khả năng Ý thức mà người ta muốn vận dụng không hề tồn tại. Vì thế tôi sẽ dành thời gian rất ngắn ở kiếp này để hiểu và biết về sự tồn tại của Ý thức. Tu tập vận dụng ở thế giới bên kia và kiếp sau, thời gian còn vô lượng.
2. Đạo Phật nói riêng và triết lý Ấn Độ nói chung tôi coi là một trong các cơ sở dữ liệu thực nghiệm lớn nhất mà ta có để tìm hiểu. Có lẽ các Tạng: Kinh, Luận, (Luật) hàm chứa những điểm chung quan sát thấy lặp đi lặp lại mà hàng tỷ cuộc tu đã tổng kết được. Tuy vậy, chắc chắn là "tạp niệm" cũng rất nhiều, bao gồm các định kiến chủ quan, ngộ nhận. Điều đó không phải là báng bổ, mà hiển nhiên mâu thuẫn có rất nhiều. Làm thế nào chắt lọc được dữ liệu cần thiết. Muốn như vậy xử lý dữ liệu phải có hàng lối, chiến lược nhất định.
3. Trước hết, chúng ta hãy xem mục đích của Đạo Phật là gì? Đạo Phật quan niệm Ý thức là Tâm bao gồm Tâm Sinh Diệt và Tâm Chân Như. Tôi cho rằng Đức Gautama cũng là con người trần thế, ông cũng tiếp thu văn hóa nơi ông sinh ra và lớn lên. Vì vậy giáo lý của ông phải dựa vào các khái niệm có sẵn. Vì vậy tôi cho rằng Tâm Sinh Diệt là Chân Ngã (Atman), Tâm Chân Như là Hồng Phạm (Brahman). Tôi sẽ luôn cởi mở để kiểm chứng, vì có thể Tâm Chân Như sẽ hơi khác Brahman, Tâm Sinh Diệt hơi khác (Atman). Điều đó rất có thể bởi vì ngay trong Upanishads, Atman và Brahman cũng đã có các quan niệm khác nhau. Tuy nhiên bản chất chính của chúng vẫn là các cách chia cặp phạm trù tâm thức cá thể đến toàn thể. Tu tập theo Đạo Phật chính là từ Tâm Sinh Diệt của mỗi cá nhân tiến nhập vào Tâm Chân Như. Đạo Phật cho rằng do vạn vận đều có phật tính, nên quá trình tiến nhập đó là khả thi. Đạo Phật cũng cắt nghĩa rằng tiến nhập sở dĩ khó vì Tâm Chân Như bị vô minh che khuất.
3. Cách tu tập được gọi là Pháp. Pháp là những cách thức, ví như một con đường dẫn tới Chân Như. Vì Chân Như là nơi các Pháp khác nhau hội tụ, nên Pháp Chân Như chỉ là một. Điều đó có nghĩa là "các con đường đều dẫn tới Roma". Có vạn pháp nhưng chỉ cần theo một đường là đủ, bởi vì pháp chỉ là phương tiện để tới Chân Như. Tôi sẽ phân biệt các "pháp" với Pháp hay Pháp Chân Như duy nhất.
4. Nói đến pháp tức là nói đến tạng. Tạng là các kinh điển, có thể coi là các bộ dữ liệu, kiêm bộ xử lý chúng ta dùng để thực hành pháp. Do chúng ta đều xuất phát từ Tâm Sinh Diệt, nên tạng phải nói thành lời để thực hành pháp. Điều thú vị trong chữ Hán "tạng" vừa có nghĩa là kinh điển phật, vừa là kho chứa, vừa là nội tạng. Tức là tạng là tim gan phổi của nhà Phật. Chúng ta có Tam Tạng, tức là Kinh, Luận, Luật ngoài ra đều gọi là Tạp Luận. Theo tôi hiểu, Luật là giới Luật, nặng về tính tổ chức, thích hợp cho tu sĩ và giáo chúng, hơn cho những người muốn tìm hiểu. Đại khái cũng như sách hướng dẫn của bác phó rèn, có thể nhà kim loại học không thấy ích lợi. Kinh là để niệm và chú, Luận là để thuyết. Về cơ bản Kinh có thể cao hơn Luận, bởi Kinh được cho là gần Phật thoại và giáo lý gốc hơn.
5. Niệm dựa trên niềm tin, tác động lên tiềm thức và vô thức, vì vậy sẽ dẫn tới giác ngộ vừa lãnh hội được sự vận dụng, nói cách khác là có trí huệ nhờ niệm. Luận có nhược điểm là sử dụng từ ngữ, khái niệm tác động lên ý thức quá nhiều, do dùng logic mà phủ định khẳng định, thuyết nhiều dẫn đến tâm phân biệt, có tạp niệm dễ sai lạc. Nói như vậy, niệm cũng có tạp niệm. Tuy vậy, Đạo Phật cho rằng niệm mà không niệm, thuyết mà không thuyết, hàm ý cứ niệm nhiều, thuyết nhiều sẽ đến một cảnh giới gọi là "không niệm, không thuyết", tạp niệm sẽ biết mất và con đường tới Chân Như chợt mở. Các tạng đều hội tụ về Như Lai Tạng ("tim gan phổi của người đang tới"). Vì vật Như Lai Tạng là một khái niệm trừu tượng gốc của các tạng, không phải là một tạng cụ thể, không đồng nhất với Như Lai Tạng Kinh là một kinh tạng bàn về Như Lai Tạng. Do "các con đường đều về Roma" nên chọn Kinh hay Luận, niệm hay thuyết không phải vấn đề quyết định. Niệm có thể dễ với đa số người, nhưng khó với tôi. Có thể thôi, vì đa số người niệm không thể đến trạng thái "bất niệm". Tôi thì chắc chắn niệm sẽ không thể có ích lợi nếu chưa nắm được thuyết.
6. Như vậy có 2 vấn đề: Thứ nhất là chọn pháp nào, đọc bộ kinh hay bộ luận nào. Thứ hai là làm thế nào để niệm mà bất niệm, thuyết mà bất thuyết. Tức là làm thế nào nắm được bản chất. Nói và đọc dài như thế, trong tâm có hình thành được cái gì đó như là Như Lai Tạng để nhập Chân Như hay không.
7. Điều tinh túy của Đạo Phật nằm ở chỗ có hướng dẫn từng bước chứ không phải chỉ nói "cứ tin đi, tụng niệm đi" hay "cứ đọc đi, cứ thuyết đi". Các pháp có nhiều đường, nhưng cũng có những nguyên tắc chung như các kinh nghiệm sẽ dẫn người học đạo lạc đường vào Vô Minh: như ngũ uẩn, thập nhị nhân duyên, thất tình, lục dục,... (chúng ta chỉ cần nắm được cốt lõi không cần nhập tâm cố định ở con số 5, 12, 6, 7) và có những nguyên tắc để khắc phục như là bát chính đạo. Trong quá trình này, người học đạo sẽ trả qua các thức khác nhau, tương ứng với một thành phần cấu trúc hay trạng thái của Ý thức. Nói một cách khác, đây là quá trình gõ cửa và thử tiến vào khám phá chiều sâu của Ý thức. Tất nhiên cũng kèm theo nhiều tạp niệm mà chúng ta phải loại bỏ với các nhận thức mới.
8. Đối với tôi, quá trình này sẽ làm bộc lộ cấu trúc của ý thức vốn tinh tế, phức tạp hơn chỉ nói về hai mặt đại thể Hồng Phạm-Chân Ngã, cho dù chúng ta chia cặp phạm trù này thế nào.
Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)
Thursday, December 1, 2022
Bàn luận về Ý THỨC trong cuộc sống & sự sống
Quan hệ giữa sự sống và ý thức
1. Không bao giờ nên tranh luận về các mệnh đề chứa các khái niệm chưa hoặc không thể định nghĩa. Tuy vậy, có thể bàn xem các khái niệm đó nên điều chỉnh thế nào để các mệnh đề có tính phổ quát hay tiện dụng trở nên đúng.
2. Vấn đề quan hệ giữa sự sống và ý thức cũng vậy. Chúng ta có thể tranh cãi hoặc đơn giản chấp nhận việc người không còn ý thức (bao gồm cả nhận thức, tiềm thức, vô thức) là còn sống hay không. Thừa nhận một khằng định như vậy có nghĩa là chúng ta đã đặt một hạn chế lên các khái niệm sự sống và ý thức. Vấn đề chỉ ở chỗ khẳng định đó có tiện dụng cho tư duy và hành động không.
3. Định nghĩa chặt chẽ về sự sống có thể không đơn giản. Vì vậy chúng ta hãy lấy một vài dấu hiệu của sự sống. Cố nhiên, không thể đòi hỏi chúng phải là điều kiện đủ. Trước hết, chúng ta hãy mượn tạm các dấu hiệu phổ biến như ”trao đổi chất”. Trao đổi có nghĩa là thu và phát. Ở người và động vật là đồng hoá và dị hoá, ăn và bài tiết. Ở thực vật có diệp lục tức là có quang hợp, thu ánh sáng, oxy, phát carbonic. Ở sinh vật cấp thấp hơn cũng có việc hấp thụ các chất, năng lượng trong môi trường phát ra các chất phế thải.
4. Vậy thì trái tim của một con ếch đã bị giết chết, được ngâm trong dung dịch dưỡng chất, tiếp tục đập, thu và phát chất liệu có thể coi là còn sống? Hay một cái máy tự động, thu năng lượng mặt trời, phát sóng điện từ, liệu có phải là cơ thể sống không. Như vậy chúng ta cần bổ sung một dấu hiệu khác “tự tái tạo và sinh sản”. Cây cối sẽ nẩy lộc, đâm chồi cũng coi như là biểu hiện của sự sống. Tuy vậy, có lẽ các dấu hiệu này cũng chưa đủ, xác chết cũng vẫn tiếp tục mọc râu, tóc, móng chân tay, nhưng không thể nói là sống.
5. Một dấu hiệu nữa thường dùng để xác định sự sống là phản xạ. Không phải phản xạ nào cũng có thể coi dấu hiệu của sự sống. Cơ bị kích thích thì co, cũng như kim loại gặp nóng thì dãn ra, lạnh thì co lại. Phản xạ của cơ thể sống bao gồm sự tập nhiễm, có điều kiện giống như là quá trình học, tức là có nhớ, lưu thông tin, xử lý, có tiếp nhận thông tin. Nói một cách khác tức là có ý thức ở dạng mà các nhà lý luận duy vật hay nói có chức năng ”phản ánh, sao chụp TÍCH CỰC thực tại khách quan”. Thêm tính “tích cực” để cho phép “sao chụp” đó không cần nguyên bản, có thể hư cấu, thêm mắm muối, cho phép sáng tạo (là bản chất của học tập).
6. Cũng cần nói thêm ở đây tôi có “ăn gian” bớt xén một chút một cách có chủ ý. Các tài liệu lý luận duy vật, thường định nghĩa ý thức là “phản ánh, sao chép sáng tạo hiện thực khách quan VÀO BỘ ÓC CON NGƯỜI”. Nói cách khác họ chỉ xét tới ý thức con người hoặc họ coi con người (sống) mới có ý thức. Chúng ta sẽ mở rộng ý thức để bao gồm các dạng ý thức của sinh vật nói chung, thậm chí cả loại ý thức độc lập với vật chất (nếu có). Tuy vậy, dường như chúng ta đang cố định nghĩa khéo léo để dẫn tới mệnh đề: sự sống gắn liền với có ý thức.
7. Như trên chúng ta đã thấy 2 tính chất “trao đổi chất” và “tự tái tạo và sinh sản” không đủ đặc trưng cho sự sống, mà phải thêm tính chất thứ 3 “phản xạ có điều kiện”. Tính chất thứ 3 nếu bỏ hạn chế duy vật, gắn liền với người, vô hình trung đã thừa nhận sống gắn liền với “có ý thức”. Ý thức ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, có thể các sinh vật cũng có miễn là có tiếp nhận, lưu trữ, xử lý và sử dụng thông tin để điều khiển hành vi. Thậm chí chúng ta có thể mở rộng “ý thức” cho máy móc. Ví dụ như mạng neuron nhân tạo trong AI có thể coi là có ý thức nhưng chưa thể coi là vật sống, vì sự sống phải thoả mãn đồng thời tối thiểu 3 tiêu chí nói trên. Chúng ta có thể định nghĩa sự sống gắn liền với protein.
8. Tạm thời như vậy về quan hệ giữa sự sống và ý thức, mà nếu không phân tích khúc chiết khéo tranh luận và giải thích cả ngày. Còn các vấn đề: 1) Ý thức tối thượng ( độc lập với vật chất) sẽ có quan hệ thế nào với sự sống. 2) Sự sống và không có sự sống có ranh giới mờ, sự sống của toàn thể có thể khác với sự sống của bộ phận 3. Ý thức nhân tạo sẽ thua kém hay hoàn thiện hơn ý thức tự nhiên? 4. Quan hệ giữa ý thức tối thượng và ý thức vật chất. Chúng ta sẽ lần lượt bàn sau.
Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)
Wednesday, November 30, 2022
Tên đường
ÔNG VÕ VĂN KIỆT ĐỔI TÊN ĐƯỜNG ALE. DE RHODES
Đường Alexandre de Rhodes ở Sài Gòn có từ trước 1975 .
Năm 1985, Sài Gòn gỡ bảng mang tên vị giáo sĩ này, thay tên mới : đường Thái Văn Lung.
Năm 1993 Ông Võ Văn Kiệt sang thăm Pháp, tranh thủ gặp học giả Hoàng Xuân Hãn.
Cuối buổi trò chuyện, ông Hãn đề nghị phục hồi tên đường Alexandre de Rhodes tại TP.HCM.
Về nước, ông Kiệt hỏi các đồng chí thì mới biết cái quy trình việc đặt tên đường phải lập hồ sơ, lần lượt qua tay xét duyệt của Hội đồng đặt tên đường của Thành phố, Hội đồng Nhân dân Thành phố, rồi Ủy ban Nhân dân TP.
Bình thường đã nhiêu khê và lâu lắc, riêng cái tên ông giáo sĩ này chắc phải ngâm cả năm chưa xong.
Ông Kiệt hỏi:
- Vậy làm một cái bảng tên đường mất bao lâu?
- Dạ thưa, chừng 1 buổi ạ.
- Vậy tháo cái bảng tên đường cũ ra, lắp bảng tên đường mới vào thì mất bao lâu?
- Thưa, chừng mươi phút ạ.
Ông Kiệt hạ lệnh:
- Làm ngay bảng tên đường Alexandre de Rhodes và chuẩn bị ốc vít đầy đủ!
Thế là chỉ sau một đêm, sáng ra dân Sài Gòn trợn mắt bàng hoàng thấy cái bảng tên đường Alexandre de Rhodes lù lù hiện ra.
Còn những thủ tục khác cứ bổ sung sau cho hoàn chỉnh quy trình.
Từ fb Nguyên Phi
Tuesday, November 29, 2022
VIẾT NGẮN
1
Ta khoái lạm dụng khi nói : Có làm có sai! Sai thì sửa!...
Mới nghe có lý, có vẻ biện chứng. Nhưng thực chất chỉ bao biện. Ta quên, có những việc không được sai. Và, sai thì không sửa được!?
2
Ông bà mình có câu : Sai thì phải đền! "Bắn súng không nên phải đền đạn" cũng là!
Ngày xưa, ông thợ may nhà quê, đo sai, cắt sai thì móc tiền túi ra đền. Không mè nheo! Không nói nhiều! Còn biết xấu hổ,...
3
Quốc gia đại sự làm sân bay, cảng biển, cao tốc, khai thác tài nguyên, hoá chất, lọc dầu, thuỷ điện,... Nói chung là đầu tư công thì không được phép quyết định sai.
Quyết định sai gây lãng phí quá sức. Chính lãng phí làm tổn thương, làm nghèo đất nước ghê gớm nhất. Nó đẻ ra trăm ngàn thứ bệnh tật kể cả tâm thần (?!).
4
Ước gì...!!!
Huống hồ,...!!!
...
(Saigon, 29.11.2020 - 29.11.2022. Vẻ đẹp vốn không xa hoa - Ảnh internet, xin miễn thứ bản quyền và nhân vật)
Monday, November 28, 2022
[EDU-KIDS] Dạy kỹ năng trong môn lịch sử,
1. Một trong những nhận thức sai lầm của cha mẹ trong việc dạy con là phải cho chúng học nhiều tri thức mới, không có trong trường phổ thông. Tất nhiên sai lầm này bắt nguồn từ nhận thức sai về giáo dục của xã hội, các học giả lớn và các nhà quản lý có tầm ảnh hưởng quyết định.
2. Tôi quan niệm dạy cái gì chưa phải quan trọng, nếu có thừa một chút cũng không sao, nếu thiếu bổ túc thêm cũng dễ dàng. Điều quan trọng của dạy cũng như xây tháp, nếu không có hàng có lối, có đế vững, kết nối giữa các thành phần lỏng lẻo, thì khó xây cao, có thể sụp đổ. Thực tế, kiến thức phổ thông có 2 chức năng: một là cung cấp hệ thống khái niệm cơ sở, hai là có dữ liệu để vận dụng các kỹ năng cơ bản. Đối với chức năng thứ hai nội dung giảng dạy chỉ để cung cấp các vấn đề, bài toán để trẻ rèn luyện phương pháp tư duy, vốn không thể học bằng lý luận suông. Đối với chức năng thứ nhất, theo tôi chương trình hiện nay có thể đáp ứng tới 60-70% số lượng cần thiết, bổ túc thêm không khó, nhất là đối với các trẻ có khả năng tự học, nghiên cứu.
3. Một số môn, trong đó có lịch sử, sở dĩ gây cho trẻ cảm giác vô dụng và chán trước hết là không được thiết kế để dạy kỹ năng. Môn học đơn thuần chỉ nhồi sọ kiến thức mà không dạy các kỹ năng vận dụng chắc chắn sẽ không thách thức, khêu gợi tò mò. Kỹ năng cho môn lịch sử cần gồm có:
a. Kể chuyện (bao gồm cả kể lại với các tình tiết mới và các hạn chế mới)
b. Liên tưởng kết nối các sự kiện, tìm ra các mối quan hệ ẩn, kể cả các quan hệ nhân quả.
c. Sử dụng bản đồ để theo dõi sự vận động, nghiên cứu địa hình.
d. Nghiên cứu các đề tài liên ngành, địa lý, văn hóa, ngôn ngữ, kể cả khoa học công nghệ.
Bên cạnh việc dạy cách kể chuyện, cần có các dự án nghiên cứu với những giả thuyết mới và kích thích việc quan sát, tham quan các địa danh, di tích. Tìm các địa danh cổ và mối quan hệ của chúng với các sự kiện lịch sử, cần được dạy ngay từ nhỏ, bắt đầu từ lịch sử địa phương và các di tích ở gần.
4. Nếu được dạy tốt, đúng cách, học lịch sử, giáo dục công dân, đạo đức, mỹ thuật, cũng có thể giúp ta giỏi học Toán, Công nghệ. Không cần nhồi sọ lập trình từ Tiểu học làm gì.
Bảo tàng Chàm và Henri Poncaré
Việt Nam có rất ít cái hay, tuyệt mĩ mà thế giới không có. Tôi chỉ biết có 1 cái như thế là Bảo tàng Chàm. Ấy thế mà mỗi lần đến Đà Nẵng là tôi phải van vỉ những người đồng hành đến thăm Bảo Tàng Chàm. Tỷ lệ thành công khá thấp, chưa tới 1/10.
Điều quan trọng nhất có lẽ không phải là xem hiện vật, mà ngắm nhìn một nền văn hóa tuyệt mĩ đã bị tuyệt diệt, luôn kích thích suy nghĩ chiêm nghiệm.
Khi đế quốc Champa hùng mạnh, giàu có, trí tuệ và sáng tạo thì Đại Việt còn chưa tồn tại. Vua Champa đã xin nhà Đường cho quản luôn Giao Chỉ khi đó đang nằm dưới quyền của An Nam đô hộ phủ. Ông già thủ cựu Ngô Sĩ Liên bất mãn coi đó là điều quốc sỉ. Tôi lại nghĩ khác: Nếu Lâm Ấp thống quản Giao Chỉ chưa chừng sẽ tốt cho cả Champa và Đại Việt. Người Chăm tài hoa, tuyệt mĩ và quá suy tôn cái đẹp, cái đích thực. Người Việt quá thực dụng, giỏi thích nghi nhưng sơ sài, tắt mắt.
Điều tôi nghĩ lâu nhất là làm thế nào một đế quốc hùng mạnh, có văn hóa, triết lý sâu sắc, khoa học công nghệ phát triển như thế lại bị một quốc gia mới nổi, hầu như chẳng có ưu điểm gì ngoài sự nghèo túng đè bẹp. Không biết quy luật chọn lọc tự nhiên ở đây đã theo tiêu chí nào.
Cuối cùng tôi tìm ra lời giải đáp tại gian trưng bày các hiện vật thời cực thịnh của văn hóa Champa và nhờ Henri Poincaré.
Kiến trúc Champa thời cực thịnh cực kỳ tinh xảo về đường nét, nhưng vẫn có một cái gì đó như thiếu ý tưởng, thiếu sức sống lộ rõ mầm mống của sự diệt vong, một cái kết có hậu cho một cái gì đó hoàn mĩ. Kiến trúc Champa thời sơ kỳ mộc mạc, nhưng giàu ý tưởng, phóng khoáng và tràn ngập các tư tưởng vươn lên.Nói một cách khác, Champa tự diệt vong khi văn hóa đã đi vào những quy ước về sự tinh xảo, cũng như đã từng xảy ra với Maya và Angkor. Không phải Champa bị diệt vong bởi những phát súng ăn may ngẫu nhiên của Trần Khát Chân, mà dù Chế Bồng Nga có chiếm được Đại Việt đi chăng nữa thì đế chế Champa cũng sẽ sụp đổ bởi trăm ngàn yếu tố ngẫu nhiên khác. Bởi vì nền văn hóa Champa đã trở nên suy nhược vì chính sự hoàn mĩ của mình mà thiếu yếu tố phát triển.
Henri Poincré là nhà toán học vĩ đại, nhưng là người phản bác lại tính chặt chẽ toán học và logic hình thức. Ông cho rằng sự hoàn mĩ trong lập luận sẽ giết chết toán học. Quan điểm của ông hoàn toàn đi ngược lại rất nhiều nhà toán học thời đó như Cantor, Zermelo, Hilbert,...
Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)
Sunday, November 27, 2022
Tiền không phải là tất cả (2) - Nhưng mua được chính trị.
(Tiếp theo)
Giải WC 2022 này đem lại nhiều bất ngờ đầy kịch tính, ví dụ như Đức thua Nhật, Ả rập Xê Út quật ngã Argentina. Xưa nay vẫn vậy. Từ năm 1966 Bắc Triều Tiên đã quật ngã Italia. Ở giải 2018, Đức cũng bị Nam Hàn cho về vườn từ vòng bảng. Đó là sự diệu kỳ luôn chứa đựng trong bóng đá.
Có điều là trật tự thế giới bóng đá vẫn chưa thay đổi về cơ bản: „Chủ nghĩa thực dân bóng đá“ của Châu Âu và Nam Mỹ vẫn ngự trị. „Các nước thế giới thứ ba“ như Nhật Bản, Nam Hàn, Ả Rập Xê Ut, Senegal v.v. có được những thành tích bất ngờ tại các giải WC chính vì nhờ có kinh nghiệm từ Châu Âu do hội „lính đánh thuê“ mang về.
Nền bóng đá ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ, thể hiện qua các giải vô địch quốc gia và khu vực vẫn là „ao làng“ so với hai nền bóng đá kia. Do vậy việc các trai làng quật đổ các võ sỹ thành đô mới là niềm cảm hứng mà bóng đá đem lại. Ai cho rằng „ao ta“ nay đã to như biển tức là vẫn ngộ nhận.
Khoảng cách đang rút ngắn lại, nhưng còn lâu mới đến lúc người Việt háo hức xem giải vô địch Nhật Bản qua K+, chứ đừng mong dân Đức xem tường thuật tại chỗ trận chung kết AFF như ta thức đêm xem từng trận vòng bảng Euro.
---
Điều đáng nói nhất trong giải WC này là các tranh chấp chính trị mà hậu quả của nó chưa ai lường được.
Từ lâu người ta đã coi FIFA là một ổ Mafia. Rất nhiều vụ tai tiếng đã làm cho nhận định này càng trở nên vững chắc. Việc Qatar được đăng cai giải 2022 cũng chứa đựng khá nhiều dấu hỏi. Liệu các quan chức FIFA bỏ phiếu cho Qatar năm 2010 có ăn tiền của vương triều Thani nay không thì còn phải chờ. Nhưng chắc chắn là ông J.Blatter hy vọng vào thu nhập lớn khi bầu cho Qatar. Sau quyết định chọn Qatar, FIFFA đã bị phản đối dữ dội bởi các lý do:
- Khí hậu nóng bức ở đó không phù hợp cho việc đá bóng ở cường độ cao. Dù đá vào mùa đông nhưng vẫn phải xây các sân vận động có điều hòa nhiệt độ khiến việc tiêu thụ điện rất cao, gây ô nhiễm môi trường.
- Lúc đầu Qatar đăng ký cho mùa hè 2022, nhưng dân Âu-Mỹ phản đối vì không ai chơi bóng ở nhiệt đôh trên 40°C nên giải được chuyển sang mùa đông, khiến lich đấu giả của đa số các nước bị xáo trộn.
- Nước chủ nhà không có nền bóng đá lớn nên hệ thống sân bãi không có, phải xây dựng từ đầu một loạt sân vận động, sau giải lại bỏ trống. Đây cũng là lãng phí tài nguyên.
- Nước chủ nhà không có nền bóng đá mạnh mà lại đương nhiên được chiếm 1 vé vào giải chung kết, không công bằng.
- Nước chủ nhà có quá nhiều luật lệ khắt khe hồi giáo khiến quyền tự do của cổ động viên sẽ bị hạn chế, nhất là những người LGBT[1].
Về sau người ta còn biết rằng Qatar đã lợi dụng sức lao động rẻ mạt của hàng triệu thợ khách từ các nước nghèo để xây hạ tầng cơ sở cho WC 2022. Trong điều kiện luật lao động và chế độ an sinh xã hội cho thợ khách chưa cải cách kịp thời nên đã xảy ra rất nhiều bi kich, thảm họa cho họ và gia đình. Từ năm 2015 trở đi, thế giới nói đến vấn đề này rất nhiều. Chính phủ của các ông Scheich cũng chỉ cái cách nửa vời, lấp liếm là chính. Đã có nhiều ý kiến đòi đưa giải ra khỏi Qatar.
Bất chấp các phản ứng trên, FIFA vẫn „kiên định lập trường“ và ông chủ mới là Infantino lại càng bám vào Qatar. Triều đình Thani biết vậy nên càng dùng tiền để trói chặt Infantino. Nói theo kiểu của ta là cả Qatar và FIFA đều đưa cả „hệ thống chính trị“ vào cuộc. Một bên quyết dùng tiền để đưa thanh thế của chế độ lên tầm thế giới, bên kia thì dùng tiền để thao túng bóng đá toàn cầu. Không ở đâu dễ kiếm tiền bằng làm việc với bọn độc tài, không bị dân và quốc hội kiểm soát ngân sách.
Phải sòng phẳng một điều rằng: Trong thế giới Ả rập thì Qatar là nước có điều kiện thuận lợi nhất cho việc đăng cai một sự kiện quốc tế lớn như vậy. Vương triều Thani là một tập đoàn phong kiến gia đình trị, nhưng là một tập đoàn có tầm nhìn, có tư tưởng khai phóng nhất trong khu vực. Đã từ lâu phụ nữ ở đây được tự do học hành trong các trường đại học, được phép lái xe, được phép làm chủ doanh nghiệp và có kinh tế độc lập với chồng. Thani biết rằng sẽ đến lúc nguồn dầu khí cạn kiệt, hoặc nếu không cạn kiệt thì cũng không còn là nguồn năng lượng chính của thời đại. Vì thế ông ta đã đầu tư cho việc phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước: Dịch vụ y tế, giáo dục miễn phí cho toàn dân, học bổng đại học hào phóng cho sinh vên du hoc ở Âu Mỹ. Các trường đại học và viện nghiên cứu ở đây thu hút những giáo sư giỏi nhất từ châu Âu và Mỹ. Nước tý hon này lập ra công ty hàng không vũ trụ Qatar Aeronautics and Space Agency, giống như NASA. Kênh truyền hình Alzajera ở Doha hiện là một trong ba kênh thông tin hàng đầu thế giới (sau BBC và CNN). Khi dịch Covid-19 xảy ra Qatar Airways là hãng hàng không duy nhất liên tục nối liền cả ba châu Lục Á, Âu, Mỹ. vv và vv
Những thành tích của chế độ độc tài phong kiến Thani trong việc phát triển đất nước nói lên sự khác biệt của họ so với các chế độ độc tài chỉ biết ăn tận kiệt nguồn lực đất nước, chỉ biết bóc lột dân mình.
Và việc giành qyền đăng cai WC 2022 cũng chính là một trong những chính sách phát triển đất nước bằng tiền.
Các giải WC 2010 (Nam Phi) và 2014 (Brazil), doanh số của FIFA khoảng 4,5 tỷ USD, Nhưng WC 2018 ở Nga, con số này tăng vọt lên 6,5 tỷ. Năm nay FIFA đạt được ở Qatar là 7,5 tỷ USD, trừ tất cả mọi khoản, còn lãi hơn 1 tỷ USD.
Tiền nhiều như vậy khiến Infantino mờ mắt và trở thành con tin của triều đình Qatar. Cho đến hôm nay FIFA và Doha đã là một liên minh, được gắn bỏ bới không biết bao nhiêu chữ vàng. Vì vậy Qatar thỏa sức nói dối và lật lời hứa. Hứa không cấm rượu bia rồi nuốt lời hưa, hứa không phân biệt đối xử với LGBT rồi cấm đeo băng có chữ One Love, hứa tự do báo chí nhưng luôn chặn các phỏng vấn live, khi thấy có các câu hỏi „nhậy cảm“.
Cả hai gã Thani và Infantino dùng tiền để làm chính trị, để thao túng thế giới và bóng đá, trong khi chính họ lại sử dụng tinh thần: „Không được chính trị hóa thể thao“ để thực hiện ý đồ của mình.
Nhiều cầu thủ không phải là những kẻ nấp vào đó để tránh cái gọi là „chính trị“. Là cầu thủ chuyên nghiệp, họ phải tuân thủ quy định của FIFA để đội nhà không bị thiệt. Nhưng họ không chịu thua: Đội Iran đồng lòng không hát quốc ca để phản đối chế độ bạo hành ở quê nhà. Trên khán đài, có những cô gái Iran khóc khi nhìn thấy cảnh đó. Đội Đức giơ tay bit miệng chụp ảnh để phản đối việc bị mất quyền tự do ngôn luạn. Đội trưởng Anh Harry Kane đeo băng đội trưởng có chữ "No discrimiation". Bà Faeser, bộ trưởng nội vụ (Cũng là bộ trưởng thể thao Đức) sang dự trận Đức-Nhật cũng đeo băng One-Love ngồi trên khán đài A.
Cuộc tranh hùng bóng đá đã trở thành một trò chơi mèo vờn chuột quyết liệt. Ngay cả kẻ đòi tách chính trị khỏi thể thao cũng tham gia cuộc đấu trí này. Nước chủ nhà cho phát hành rất nhiều băng tay có hình quốc kỳ Palestina. Một số quan chức Qatar ngồi cạnh bà Faeser cũng đeo băng có biểu tượng Palestina để phản ứng lại.
Khi bị hỏi là tại sao các vị cấm băng tay One-Love vì lý do chính trị, nhưng lại đeo băng Palestina? Câu trả lời: „Palestina là một phần máu thịt Ả-rập nên đây là văn hóa của chúng tôi, còn cái kia là chính trị“.
Thế đấy. Bóng đá chính là chính trị mà có giấu mặt kiểu gì cũng lộ ra. Vậy thì tại sao các hoạt động khác của cuộc sống, từ giá lit xăng đến nạn kẹt xe lại không phải là chính trị?
Những kẻ nói „Tớ không quan tâm đến chính trị“ tức là đang làm chính trị theo kiểu giấu tay để tiếp tay cho những kẻ lợi dụng quyền lực chính trị của mình thao túng mọi hoạt động của xã hội.
--
[1] LGBT = viết tắt của của Lesbian, gay, bisexual, and transgender. (Nữ đồng tính, nam đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới)
Nguyễn Xuân Thọ
Bài trước: https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/8730475060303823
Hồ sơ về cuộc chiến Ukraina vs Nga: VẤN ĐỀ CHUYỂN GIAO CRƯM
Hôm qua có người tranh luận về việc chuyển giao Crưm từ Nga cho Ucraina là việc làm phi pháp của Khrusev. Đó là chỉ nghe tuyên truyền, mà không biết các nguyên nhân lịch sử của nó. Mình sưu tầm dữ kiện cho những người như vậy hiểu thực chất vấn đề.
Vào ngày 19 tháng 2 năm 1954, Đoàn chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô đã ban hành sắc lệnh chuyển giao Crưm cho Ucraina. Lý do chính thức là 'một nền kinh tế chung và sự gần gũi về lãnh thổ.' Vào thời điểm này, Crưm vẫn bị tàn phá bởi chiến tranh và dân số giảm sau khi trục xuất hàng loạt người Tatar ở Crưm. Những người định cư từ nội địa Nga, đã quen với khí hậu khác, không thể khôi phục nền kinh tế. Chỉ đến những năm 1960, người ta mới có thể cải thiện cuộc sống của bán đảo và giải quyết vấn đề chính của nó - thiếu nước.
Vào ngày 19 tháng 2 năm 1954, Kliment Voroshilov đã khai mạc một cuộc họp của Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô và đưa ra một vấn đề để thảo luận - việc chuyển giao khu vực Crưm từ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (RSFSR) đến Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina (Ucraina SSR). 'Có ý kiến nào khác không?' Voroshilov hỏi. Các thành viên Đoàn chủ tịch trả lời: 'Không có, chấp nhận việc chuyển giao.'
Kết quả của cuộc họp là một nghị định ngắn về hai đề xuất đã được ban hành. Một trong số đó giải thích động cơ của việc chuyển giao: 'Do nền kinh tế chung, sự gần gũi về lãnh thổ và mối quan hệ kinh tế và văn hóa chặt chẽ giữa vùng Crưm và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Ucraina ...' Vào tháng 4 năm 1954, Xô viết tối cao đã hợp pháp hóa sắc lệnh này và quyết định thực hiện những thay đổi thích hợp đối với Hiến pháp Liên Xô. Vào tháng 6, những thay đổi này đã được thực hiện đối với hiến pháp cộng hòa. Như vậy, quá trình chuyển giao Crưm đã hoàn tất về mặt pháp lý.
Nhưng tất cả bắt đầu từ tháng 9 năm 1953 - tại hội nghị toàn thể của Ủy ban Trung ương ĐCS LX, dành riêng cho các vấn đề nông nghiệp. Nó giải quyết riêng vấn đề về tình trạng thảm khốc của nền kinh tế Crưm.
Gần một thập kỷ sau chiến tranh, Crưm vẫn còn là đống đổ nát. Các nhà lãnh đạo của ủy ban thành phố địa phương công khai phàn nàn rằng 'với tốc độ như vậy, chúng tôi sẽ không xây dựng lại thành phố trong một trăm năm.' Các lĩnh vực hàng đầu của nền kinh tế Crưm - trồng trọt, chăn nuôi, trồng nho và sản xuất rượu vang - đang suy giảm nghiêm trọng.
Đối với các vấn đề của bán đảo, việc trục xuất hàng loạt người dân bản địa, Crưm Tatars, do chế độ Stalin tổ chức vào năm 1944, đã tạo thêm khó khăn. Người ta đã cố gắng thay thế họ bằng những người nhập cư, chủ yếu đến từ vùng nội địa Nga - vùng Kursk và Voronezh, vùng Volga và các vùng phía bắc của Nga.
Nhưng những người di dân mới không thể khắc phục tình hình, bởi vì họ không quen với khí hậu Crưm, họ không biết các đặc điểm nông nghiệp địa phương ở vùng núi và thảo nguyên. Nhiều người trong số họ lần đầu tiên nhìn thấy nho, thuốc lá, ngô. Nhưng không ai dám công khai chỉ trích các quyết định của Stalin, không chỉ khi ông còn sống mà cả ba năm sau khi ông qua đời vào tháng 3 năm 1953.
Sự suy tàn của Crưm được đánh giá bởi Bí thư thứ nhất mới được bầu của Ủy ban Trung ương CPSU, Nikita Khrushchev, khi ông quyết định bí mật đến bán đảo này vào tháng 10 năm 1953. Ở đây trên cao nguyên [ở vùng Bakhchisarai], cuộc chiến khủng khiếp vẫn còn sót lại. Xe tăng và pháo bị hỏng dọc đường. Và mặt đất cũng khô héo và cỏ dại mọc um tùm. Những ngôi làng trống rỗng. Những người chủ của chúng, đã bị Stalin đuổi đến những vùng đất lạnh giá xa xôi, đã mất hết hy vọng quay trở lại.
Trong cuộc gặp gỡ của Khrushchev với người di dân Nga ông bị ấn tượng về sự khó chịu của đám đông người nhập cư, những người phần lớn đến từ Nga, từ Volga, từ các vùng phía bắc nước Nga. Họ hét lên 'Người ta đưa chúng tôi đến đây' ... Những tiếng kêu gào vang lên từ đám đông: 'Khoai tây không mọc ở đây, bắp cải khô héo'.'Toàn rệp bọ'.
Khrushchev hỏi:
- Tại sao các anh đến đây?'
- Chúng tôi bị lừa.
Đến đầu năm 1954, báo cáo 'Về tình trạng nông nghiệp ở vùng Crưm' đã được chuẩn bị cho ban lãnh đạo đảng với dấu 'Bí mật'. Trong đó nói rằng vào năm 1954, diện tích trồng trọt ở Crưm đã giảm 70.000 ha so với năm 1940. Chỉ có 40,9 nghìn ha đất được tưới tiêu. Trong số 30 trang trại tập thể, chỉ có ba trang trại có thể gieo hạt và thu hoạch bằng cách nào đó. Gần 50% nhà ở bị phá huỷ. Vào cuối năm 1953, toàn bộ Crưm chỉ có 3 cửa hàng bánh mì, 18 cửa hàng thịt, 8 cửa hàng sữa, 2 cửa hàng vải, 9 cửa hàng giày dép, 5 cửa hàng vật liệu xây dựng, 28 hiệu sách.
Vào ngày 25 tháng 1, một cuộc họp của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương của ĐCS LX diễn ra tại Moscow dưới sự chủ trì của người đứng đầu Hội đồng Bộ trưởng, Georgy Malenkov. Chính tại đây, quyết định cuối cùng được đưa ra là chuyển giao Crưm cho Ucraina. Một giao thức bí mật đã thông qua một dự thảo nghị định, mà vào ngày 19 tháng 2, Đoàn chủ tịch Xô viết tối cao của Liên Xô đã nhanh chóng và nhất trí bỏ phiếu.
Trong thời kỳ hậu chiến, đối với giới lãnh đạo Liên Xô, việc vẽ lại đường biên giới của các nước cộng hòa liên bang là một vấn đề hành chính thông thường. Rốt cuộc, tất cả những điều này đã được thực hiện trong khuôn khổ của một quốc gia với sự kiểm soát tập trung ở Điện Kremlin. Và ít người nghĩ rằng Liên Xô một ngày nào đó sẽ sụp đổ, và vì những quyết định này, các tranh chấp chính trị và xung đột quân sự sẽ bắt đầu.
Do đó, việc chuyển giao Crưm cho Ucraina, có mối liên hệ chặt chẽ với bán đảo về mặt kinh tế và cơ sở hạ tầng, có vẻ khá hợp lý. Hơn nữa, ngay cả trước khi chuyển giao, viện trợ chính cho bán đảo đến từ Ucraina. “Thủ đô Kyiv của Ucraina gửi đến đây các máy xúc cơ giới mạnh mẽ, các thiết bị trộn tự động cho các nhà máy bê tông; Kharkov cung cấp cẩu tháp và cầu điện, máy kéo; Nikolaev - băng tải cho nhà máy bê tông, máy ủi; Dnepropetrovsk và Debaltseve - rửa máng cho các doanh nghiệp sản xuất đá vôi trợ dung; Osipenko - nhựa đường ô tô; Kremenchug - máy trộn bê tông nhựa đường; Priluki - chất vữa để cơ giới hóa các công trình trát; Melitopol gửi các máy nén khí.
Với việc chuyển giao Crưm, có thể giải quyết vấn đề chính của bán đảo - thiếu nước. Dự án Kênh Bắc Crưm từ Dnieper đã được phê duyệt vào năm 1951. Giờ đây, việc xây dựng nó trong khuôn khổ của một nước cộng hòa đã diễn ra nhanh hơn nhiều. Năm 1963, giai đoạn đầu tiên của kênh được khai trương và nó tiếp tục được hoàn thành ngay cả sau khi Liên Xô sụp đổ. Điều này giúp phát triển nông nghiệp, cơ sở hạ tầng nghỉ dưỡng, cũng như khởi động một ngành công nghiệp mới cho Crưm - nuôi cá ao công nghiệp.
Năm 1958, chính phủ Ucraina quyết định xây dựng tuyến xe điện Simferopol-Alushta-Yalta. Giai đoạn đầu tiên, ở Alushta, được khai trương sau 11 tháng và hoàn thành vào năm 1961. Đối với tuyến xe điện dài nhất thế giới dài 96 km, dùng xe Skodas của Tiệp Khắc.
Đến những năm 1960, nhà ở, đường xá, bệnh viện, trường học, cảng, khách sạn, nhà hát, bến xe buýt, nhà trọ đã được xây dựng lại ở Crưm và các di tích kiến trúc đang được khôi phục. Vì vậy, bán đảo trở thành 'khu nghỉ dưỡng sức khỏe của toàn Liên bang'.
Vào thời kỳ đấy, việc chuyên giao Crưm là chuyển giao một gánh nặng, chứ không phải là món quà. Giống như việc sáp nhập các tỉnh ở VN vậy.
Saturday, November 26, 2022
Văn minh Hy Lạp
GIÁO DỤC KHAI PHÓNG ĐÃ XUẤT HIỆN Ở HY LẠP NHƯ THẾ NÀO?
Vào khoảng thế kỷ V TCN, một số thành bang Hy Lạp, nhất là Athens, đã bắt đầu thử nghiệm một hình thức chính phủ mới.
“Thể chế của chúng ta gọi là chế độ dân chủ, bởi vì quyền lực không nằm trong tay của một thiểu số mà là của toàn thể dân chúng.” – Pericles, vị chính khách tài ba đã tuyên bố như vậy trong bài diễn thuyết nổi tiếng vinh danh những chiến binh đã hy sinh cho thành Athens
Sự đổi mới này trong việc cai trị đồng thời đòi hỏi phải có đổi mới trong giáo dục. Các kỹ năng căn bản để sinh tồn chưa đủ – công dân còn phải được đào tạo để quản lý xã hội của chính họ.
MỐI LIÊN HỆ GIỮA NỀN GIÁO DỤC BAO QUÁT VÀ SỰ TỰ DO TRỞ NÊN QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI NGƯỜI HY LẠP.
Mô tả cách tiếp cận giáo dục này vào nhiều thế kỷ sau, người La Mã đã đặt cho nó một tên mới: một nền giáo dục liberal (khai phóng), từ này trong nguyên nghĩa tiếng Latin có nghĩa là “của hay thuộc về những người tự do.”
Hơn 2000 năm sau, Frederick Douglass cũng nhận thấy sự liên hệ này. Khi người chủ của ông ta nghe nói cậu bé Frederick đọc sách giỏi, ông ấy giận dữ nói: “Sự học sẽ làm hỏng cả một tên da đen ngoan ngoãn nhất thế giới. Nếu nó biết đọc Kinh Thánh thì việc làm nô lệ sẽ vĩnh viễn là điều không thích hợp với nó.”
Douglass nhớ lại rằng ông ta “tán đồng lời xác nhận ấy theo phản ứng bản năng và qua sự việc này, tôi hiểu con đường trực tiếp đi từ nô lệ đến tự do.”
---
Trích "Biện hộ cho một nền giáo dục Khai phóng" - Fareed Zakaria
Trung tâm Nghiên cứu Xuất bản và Giáo dục IPER
Friday, November 25, 2022
Những điều mà người trưởng thành có được
ĐỜI NGƯỜI SUY CHO CÙNG CÓ 7 CÁI PHẢI HỌC
1. Thứ nhất - “học nhận lỗi”
Con người thường không chịu nhận lỗi lầm về mình, tất cả mọi lỗi lầm đều đổ cho người khác, cho rằng bản thân mình mới đúng, thật ra không biết nhận lỗi chính là một lỗi lầm lớn.
2. Thứ hai - “học nhu hòa”
Răng người ta rất cứng, lưỡi người ta rất mềm, đi hết cuộc đời răng người ta lại rụng hết, nhưng lưỡi thì vẫn còn nguyên, cho nên cần phải học mềm mỏng, nhu hòa thì đời con người ta mới có thể tồn tại lâu dài được. Tâm nhu hòa là một tiến bộ lớn trong việc tu tập.
3. Thứ ba - “học nhẫn nhục”
Thế gian này nếu nhẫn được một chút thì sóng yên bể lặng, lùi một bước biển rộng trời cao. Nhẫn - vạn sự được tiêu trừ. Nhẫn chính là biết xử sự, biết hóa giải, dùng trí tuệ và năng lực làm cho chuyện lớn hóa thành nhỏ, chuyện nhỏ hóa thành không.
4. Thứ tư - “học thấu hiểu”
Thiếu thấu hiểu nhau sẽ nảy sinh những thị phi, tranh chấp, hiểu lầm. Mọi người nên thấu hiểu thông cảm lẫn nhau, để giúp đỡ lẫn nhau. Không thông cảm lẫn nhau làm sao có thể hòa bình được?
5. Thứ năm - “học buông bỏ”
Cuộc đời như một chiếc vali, lúc cần thì xách lên, không cần dùng nữa thì đặt nó xuống. Khi cần đặt xuống thì lại không đặt xuống, giống như kéo một túi hành lý nặng nề không tự tại chút nào cả. Năm tháng cuộc đời có hạn, nhận lỗi, tôn trọng, bao dung, mới làm cho người ta chấp nhận mình, biết buông bỏ thì mới tự tại được!
6. Thứ sáu - “học cảm động”
Nhìn thấy ưu điểm của người khác chúng ta nên hoan hỷ, nhìn thấy điều không may của người khác nên cảm động. Cảm động nảy sinh từ người có tâm thương yêu, tâm Bồ tát, tâm Bồ đề.
7. Thứ bảy - “học sinh tồn”
Để sinh tồn, chúng ta phải duy trì bảo vệ thân thể khỏe mạnh. Thân thể khỏe mạnh không những có lợi cho bản thân, mà còn làm cho gia đình, bạn bè yên tâm, cho nên đó cũng là hành vi hiếu kính với người yêu thương mình.
Nhà Thơ
copy từ FB-chị Lệ Xoa
Wednesday, November 23, 2022
Đức Chúa có giỏi Toán hay không?
Cái đẹp toàn bích chính là Quỷ Satan. (Nguyễn Hồng Nhung)
Đức Chúa có giỏi Toán hay không?
hay
Chân lý, toán học và phép xấp xỉ gần đúng
1. Người ta hay nói, chân lý bao giờ cũng đẹp và đơn giản. Tôi là người hay nghi ngờ, nên cứ lẩn thẩn suy nghĩ xem liệu điều đó có đúng không? tại sao lại đúng? và đúng đến mức nào? vì không có nguyên lý nhân tạo nào đúng tuyệt đối.
2. Năm thứ nhất đại học, trong giáo trình vật lý đại cương, tôi biết đến định luật Hook. Định luật rất đơn giản: với lực tác động đủ bé tác động lên một vật, độ dãn sẽ tỷ lệ thuận với lực. Tôi cực kỳ khó chịu với định luật này. Thế nào là "đủ bé"? Nếu kiểm tra không thấy đúng, ta luôn luôn có thể nói là lực không "đủ bé". Thế thì tại sao lại gọi là định luật? Tôi bèn vào thư viện tra sách và bàng hoàng phát hiện ra định luật Hook 2: nếu lực tác động đủ bé thì độ co dãn sẽ có 2 số hạng tỷ lệ tuyến tính và tỷ lệ với bình phương của lực. Khi đó nếu lực rất bé thì bình phương lực sẽ bỏ qua được bên cạnh số hạng tuyến tính. Như vậy định luật Hook 1 là trường hợp riêng của định luật Hook 2. Điều đó ổn. Cái không ổn vẫn là giả thiết “nếu lực đủ bé”. Nếu vậy sẽ tiếp tục có Hook 3, Hook 4, ... cho lực lớn hơn? Tôi chợt nhận ra một điều là chẳng có định luật nào ở đây cả. Độ dài của vật bị kéo chỉ là hàm giải tích của lực kéo và chúng ta có thể triển khai chuỗi Taylor độ dài này theo lực kéo. Như vậy ta sẽ có Hook n với n tuỳ ý.
3. Các định luật vật lý trong giáo trình vật lý đại cương như định luật Ohm, định luật ma sát,... phần lớn là tuyến tính. Chúng ta có thể suy nghĩ tương tự với giả thiết có một mối quan hệ nhân quả giữa nhân và quả thông qua một hàm số giải tích. Chẳng hạn cường độ dòng điện là hàm giải tích của hiệu điện thế, hoặc lực ma sát là hàm giải tích của khối lượng.
4. Ngoại lệ có thể là định luật 2 Newton F=ma. Trước đây tôi yên tâm đó là định luật cơ bản phổ quát và thực chất là định nghĩa khối lượng. Nhưng cũng không có lý do loại trừ khả năng gia tốc a là quả của nhân là lực F thông qua một hàm giải tích và chúng ta cũng đang ở một thế giới mà lực tác động là “đủ bé”. Biết đâu sẽ có một thế giới mà a = A(F) trong đó A là một hàm giải tích.
5. Như vậy chúng ta chỉ cần một quy luật hoàn toàn Toán học là tính giải tích, diễn tả một quy luật cao hơn các định luật vật lý là định luật nhân quả. Khi đó liệu có phải vật lý chỉ có nhiệm vụ chỉ ra các vùng mà nhân là “đủ bé”, để áp dụng phép xấp xỉ bậc 1,2 hoặc n hay không?
6. Câu hỏi là liệu chỉ có quy luật vật lý thực nghiệm là như thế? Chúng ta hãy xem xét một trường hợp tổng quát hơn là thuyết tương đối rộng của Einstein. Toàn bộ lý thuyết này dựa trên nguyên lý tương đương. Einstein lý luận rất dài dòng về thí nghiệm tưởng tượng với người bị rơi trong thang máy và rút ra việc người đó không cảm thấy lực tác động lên gan bàn chân hay khối lượng hấp dẫn bằng khối lượng quán tính. Thực ra, để viết phương trình Einstein, người ta bắt buộc phát biểu lại nguyên lý tương đương dưới dạng Toán học: luôn tồn tại một hệ toạ độ phẳng tại mọi điểm không thời gian. Về mặt Toán học điều đó chỉ có nghĩa không thời gian là đa tạp khả vi. Như vậy nguyên lý tương đương chỉ là khái niệm đa tạp khả vi cho không thời gian. Tất nhiên, khi có các hạt vật chất hay gần lỗ đen, không có gì đảm bảo không thời gian là khả vi.
7. Câu hỏi đặt ra bây giờ là: liệu các khái niệm Toán học như hàm số giải tích, đa tạp khả vi,... có phải là chân lý tuyệt đối và phổ quát? Nếu quả vậy thì Đức Chúa Trời ắt phải giỏi Toán vì Ngài đã sáng tạo ra thế giới và quy luận vận hành nó? Nói một cách rõ ràng hơn là liệu thế giới có tuân thủ những cấu trúc toán học đẹp đẽ và lý tưởng nhất hay không? Nếu như vậy thì tại sao hay liệu có phải giả thiết phải tồn tại một ý thức toàn năng để thúc ép thế giới phải theo cái đẹp? Và như vậy thì thế nào là đẹp?
8. Trong Toán học, người ta có xu hướng đơn giản hoá. Đa tạp khả vi là đa tạp đơn giản nhất người ta có thể làm việc, có thể rút ra nhiều thông tin từ một số lượng thông tin ít nhất. Mặc dù đa tạp không khả vi có thể tồn tại về mặt nguyên lý, Toán học không xét tới các đa tạp đó vì thực ra cũng chẳng làm gì được. Tương tự, trong thực tế các quan hệ nhân quả được phản ánh một các đơn giản bởi các hàm giải tích xấp xỉ bằng các đa thức. Như thế liệu chân lý có phải là cái đẹp, cái đẹp có phải là cái đơn giản. Nhiều nhà khoa học tin như thế, nhưng thực ra không có bất cứ một lý luận ủng hộ nào ngoài niềm tin mà thực ra là hy vọng mơ hồ.
9. Thực ra cái chân lý chỉ gần cái đẹp, cái đẹp chỉ gần cái đơn giản nhưng không hoàn toàn đồng nhất với cái đơn giản. Người ta đã thực nghiệm và thống kê, trong tuyệt đại đa số trường hợp, cái đẹp là cái trung bình. Nhưng cái tuyệt đẹp là cái trung bình với chút ít khác biệt để trở thành đặc sắc và duy nhất. Chính vì thế ,cái đẹp chỉ gần cái đơn giản vốn chính là cái trung bình. Tuyệt đẹp mới chính là chân lý vì phải có sự đặc sắc và sai lệch khỏi trung bình.
10. Người nghi ngờ, nhà khoa học minh triết có thể hỏi tiếp: Vì sao cái chân lý lại là cái tuyệt đẹp là sai lệch khỏi cái trung bình? Theo tôi nghĩ, toàn bộ thế giới này, cũng như mọi khái niệm, đều hình thành xung quanh điểm cân bằng. Điểm cân bằng chính là các hấp tử hút mọi vật về phía mình, nên mọi vật đều thăng giáng quanh nó, vì thế nó phải là cái trung bình. Tuy nhiên, nếu mọi sự đều đã trở về trung bình, hoặc nếu cân bằng là phổ biến thì đó là một trạng thái chết. Thế giới phải sống, do đó Thượng đế ắt đã tạo ra Thế giới bằng cách đưa nó ra khỏi điểm cân bằng. Tuy nhiên, độ lệch này phải đủ bé để thế giới không tìm đến điểm cân bằng khác. Hoàn toàn có thể có nhiều thế giới hay nhiều vùng của thế giới với điểm cân bằng khác nhau.
11. Ý thức tối thượng có thể chính là điểm cân bằng và là cái đẹp. Nhưng Tạo hoá lại thích cái tuyệt đẹp hơi lệch ra khỏi cái cân bằng. Tạo hoá là Đức Chúa, nguồn gốc của sự sống, ngài yêu sự tiện lợi và ghét cái đẹp hoàn hảo nhàm chán, trung bình. Vì vậy Ngài chỉ giỏi Vật lý. Cái đẹp có lẽ chính là quỷ Satan, là đối cực của Ngài, là điểm cân bằng, dẫn tới trạng thái chết, tĩnh lặng vĩnh cửu. Quỷ Satan sẽ là động lực của Toán học. Chúa-Satan là cặp phạm trù Sinh Tạo và Hủy Diệt là hai mặt của Ý thức tối thượng.
Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)
NGƯỜI TRI KỶ/SOULMATE
Quốc Khánh: … là người mà bạn muốn kết giao ngay lập tức vào thời điểm mà bạn gặp gỡ;
sự thôi thúc kết giao mạnh mẽ đến mức bạn bị người đó cuốn hút theo một cách mà bạn chưa từng trải nghiệm trước đây;
khi mối kết giao này phát triển theo thời gian, bạn sẽ trải nghiệm một tình yêu sâu sắc, mạnh mẽ và phong phú đến mức bạn bắt đầu nhận ra rằng từ trước tới nay, bạn chưa từng thực sự yêu bất kỳ ai;
người tri kỷ của bạn thấu hiểu và gắn kết với bạn bằng mọi phương cách và trên mọi mức độ, đem đến cho bạn cảm giác bình yên, thanh thản và hạnh phúc khi bạn ở bên người đó.
Theo «Tạp chí Tâm Trí» / TheMindsJournal.com
LUẬN VỀ CÁI SỰ… HỌC
(Trích Luận ngữ Tân Thư - phần tiếp theo)
Đã gọi là thầy (sư) thì không phân biệt cao thấp, cứ hơn một tí tẹo là có thể làm thầy (nhất tự vi sư, bán tự vi sư). Chung quy chia làm hai hạng. Hạng tiên sư và hạng tục sư. Hạng tiên sư vì người mà dạy cách làm người. Hạng tục sư vì tiền mà dạy cách làm tiền. Hạng tiên sư “moi” kiến thức (vốn có sẵn) trong bụng học trò ra. Hạng tục sư “nhét” kiến thức từ ngoài vào. Tin theo tiên sư thì con người là tiểu vũ trụ. Tin theo tục sư thì con người là cái thùng chứa sách. Hạng tiên sư chỉ cho học trò thấy cái chỗ thiếu của mình. Hạng tục sư chỉ cho học trò thấy cái chỗ giỏi của mình. Thấy thiếu thì lo lắng, muốn được bổ sung, vì thế kiến thức tăng tiến. Thấy giỏi thì hung hăng, muốn được thi thố, vì thế kiến thức dừng lại.
Hạng tiên sư nương theo con người mà hành đạo. Hạng tục sư nương theo chính trị mà hành nghề. Nước có đạo lý thì tiên sư nhiều hơn tục sư. Nước vô đạo lý thì tục sư nhan nhản, có khi bói không ra một mống tiên sư nào. Chính trị đứng đắn chú trọng đến tiên sư. Chính trị lưu manh chú trọng đến tục sư. Bởi thiên hạ ai cũng quan tâm đến việc làm người thì chính trị khó bịp, ngôi vua nguy như đèn ra trước gió, phải tử tế lắm mới mong giữ được. Thiên hạ ai cũng quan tâm đến việc làm tiền thì chính trị tha hồ bịp, ngôi vua chả cần tử tế vẫn có thể muối mặt mà cố đấm ăn xôi.
Giáo dục cốt làm thay đổi dân trí. Song không phải bao giờ cũng theo hướng nâng cao. Giáo dục vì dân nhằm vào cái chỗ sáng suốt của dân. Giáo dục lừa dân nhằm vào cái chỗ mê lú của dân. Huống chi cái việc học làm người kia lại vô cùng khó khăn. Bậc tiên sư dù cố đến mấy, rốt cuộc chỉ mang tiếng vẽ đường cho hươu chạy. Mấy ngàn năm càng vắng ngắt bóng người... Vẫn “Lời tựa” trong Luận ngữ tân thư. Sau đây lại xin trích một phần của bộ sách đó:
Khổng Tử một hôm đang thư thái, bỗng buột mồm nói ra câu: “Hành tương tựu mộc tác nhân nan” (Người ta thường sắp chui vào quan tài rồi, mới biết làm người là một việc khó). Các học trò nhao nhao thắc mắc. Ai cũng cho rằng Ngài nói vậy là hơi bi quan. Làm người mà khó đến như thế, thì chẳng lẽ cuộc đời này toàn... khỉ hết hay sao? Rằng cứ theo cái thuyết chữ “Nhân” của Ngài, thì miễn sao sống cho tử tế, có hiếu với bố mẹ, ông bà, không ăn cắp ăn trộm, không lừa đảo hay hại ngấm hại ngầm ai... là thành người được rồi. Chứ có gì ghê gớm mà Ngài phải kêu khó?
Khổng Tử bèn thuyết liền một hồi:
“Các ngươi chỉ biết một mà chưa biết hai. Làm người trước tiên cần phải biết phân biệt. Mà phân biệt đâu phải là một kiến thức đơn giản. Kẻ không biết phân biệt có ba việc mù mờ (nguyên văn: tam sự bất tri) như sau: Thứ nhất, ăn không biết thế nào là ngon, như thế gọi là: “thực bất tri kì vị”. Thứ hai, chơi không biết nên chơi với ai, như thế gọi là: “xử bất tri kì nhân”. Thứ ba, đi không biết nên đi đường nào, như thế gọi là: “hành bất tri kì đạo”.
Huống chi nay các ngươi chỉ biết nghe theo một chiều, tin theo một chiều... duy nhất. Trên đời này không cái ngu nào sánh bằng ngu đó. Không cái lười nào sánh bằng lười đó... Vừa ngu, vừa lười đến tận cùng như thế, thì làm sao có thể tự hiểu được mình. Kẻ không hiểu được mình thì đứng không biết mình đang đứng chỗ nào, đi chẳng biết mình sẽ đến đâu... Thế rồi tự cao tự đại, thế rồi vỗ ngực xưng danh... tự cho là mình khôn nhất thiên hạ. Lời nói hay chẳng bao giờ lọt vào tai nữa, cứ một mực tin theo những hạng đểu giả. Kiến thức như thế thì dẫu cao mấy, thực chất cũng chẳng khác gì kiến thức của một anh hoạn lợn. Không những tự gây họa cho mình, mà còn gây họa cho người khác. Có khi gây họa cho cả thiên hạ chưa biết chừng.”
Các học trò nghe đến đó thì sợ toát mồ hôi. Bèn hỏi:
“Thế nào là tự gây họa cho mình?”
Khổng Tử bảo:
“Người ta vạch ra cái chỗ dở của mình để mong mình sửa, thì lại tưởng là người ta chửi. Người ta nịnh cái chỗ đểu của mình để hòng kiếm chác, thì lại tưởng là người ta khen... Rốt cuộc người đáng lẽ là bạn, thì lại nghĩ là thù. Kẻ đáng lẽ là thù, thì lại cho là bạn... Lẫn lộn, u tối đến như thế mà không gặp họa thì xưa nay chưa ai từng nghe nói đến bao giờ.”
Các học trò nghe thấy thế thì càng sợ hơn nữa. Lại hỏi tiếp:
“Thế nào là gây họa cho thiên hạ?”
Khổng Tử bảo:
“Hạng người ấy mà làm tướng thì mất toi thành. Làm quan ở đâu thì dân ở đó điêu đứng. Làm vua thì cả nước khốn khổ, thậm chí còn mất vào tay ngoại bang. Làm thầy thì ngu đến cả trăm đời sau... Thế gọi là gây họa cho thiên hạ.”
Các học trò hỏi tiếp:
“Vậy cứ theo ý Phu Tử thì bao giờ chúng tôi mới có thể học thành người?”
Khổng tử trả lời:
“Ta có thể dạy các ngươi hiểu thấu được lẽ đời (nhi bất hoặc – hết ngờ vực). Song không thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng trời (tri thiên mệnh – biết mạng trời).
Ta có thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng trời. Song không thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng người (nhi nhĩ thuận – nghe thuận tai).
Ta có thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng người. Song không thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng mình (tòng tâm kì dục, tùy lòng muốn)
Ta có thể dạy các ngươi cứ tùy theo lòng mình mà thi thố. Song khó mà khuyên bảo các ngươi giữ được qui củ (bất du củ)…”
Các học trò nghe như vịt nghe sấm. Bèn đề nghị:
“Phu Tử có thể giảng kĩ hơn một chút được không? Vẫn biết học làm người là một việc khó khăn, lâu dài. Song cớ sao lại rắc rối như thế?”
Khổng Tử bảo:
“Đó là những thang bậc từ thấp đến cao của cái sự học (hạ học nhi thượng đạt). Cũng là những điểm “chết” (nguyên văn: tắc tử) của kiến thức. Vượt qua được những mốc ấy là một việc khó khăn nhất trong cái sự học của muôn đời. Dừng lại ở bất cứ mốc nào cũng lập tức biến thành người ngu, vừa ngu vừa xấu…”
Các học trò lại hỏi:
“Thế nào là biến thành người ngu?”
Khổng Tử bảo:
“Kẻ ngu nhất trên đời là kẻ tự bằng lòng với kiến thức của mình. Dẫu đã thấu hết lẽ đời thì cũng không bao giờ hiểu được lòng trời. Dẫu đã thấu được lòng trời thì cũng không bao giờ hiểu được lòng người. Dẫu đã thấu được lòng người thì cũng không bao giờ hiểu được lòng mình... Từ khi làm thầy, ta kị nhất loại học trò học đến đâu giỏi đến đó. Học kiểu ấy nguy như trứng để đầu gậy. Bởi kiến thức có thể dừng lại bất cứ lúc nào. Kiến thức đã dừng lại, thì hậu quả tai hại sẽ không biết đâu mà lường, có khi còn biến thành lưu manh trí thức lúc nào không hay.”
Nói đến đó, Khổng Tử bỗng buột mồm thốt ra một câu than thở:
“Ôi! Kẻ học giả lúc nào cũng sẵn sàng cơ hội để trở thành một tên... thậm ngu ngốc, thậm lưu manh.”
Các học trò nghe vậy thì không ai bảo ai, tất cả đều nhất tề thở dài đánh sượt một cái. Lại hỏi tiếp:
“Phu Tử nói thế thì chúng tôi cũng đành cố gắng học được đến đâu hay đến đó, học mãi không dám dừng lại. Nhưng tại sao dừng cái sự học lại thì sẽ hỏng nặng đến như thế?”
Khổng Tử trả lời:
“Tại vì cái xấu nó sẽ tiếp cận”
Các học trò lại hỏi:
“Phải có kiến thức như thế nào, thì mới ngăn được cái xấu nó tiếp cận với mình?”
Khổng Tử bảo:
“Kiến thức cao mấy cũng không ngăn được, trừ phi kiến thức luôn tăng tiến, không dừng lại. Ví như nước ngọt ở những dòng sông đổ ra biển kia. Chảy nhanh hay chảy chậm đều đẩy được mặn cả. Nhưng nếu dòng sông ngừng chảy, thì lập tức nước mặn sẽ xâm nhập ngay.”
Những điều trên đây rút ra từ ghi chép của Nhan Hồi - một học trò yêu của Khổng Tử. Khổng Tử có lần đã nói: “Này Hồi! Ta sở dĩ thích ngươi, chính bởi ngươi là một học trò học đến đâu thấy thiếu đến đó. Vì thế kiến thức không bao giờ dừng lại, khiến cho cái ngu, cái xấu không có cơ hội đến gần...” (nguyên văn: “tri nhi bất hạn, ngu xú bất cận”).
copy từ FB-Phạm Lưu Vũ (20 Nov.2022)
Vai trò của người lãnh đạo và mục đích chiến lược trong quan hệ với người láng giềng mang bộ mặt chí tình
LÊ DUẨN (1907 – 1986) –34 năm trước, Kádár János dẫn đầu Đoàn Đảng MSZMP và Chính phủ Hungary đã đến viếng tang Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tháng 10 năm 1975, Lê Duân đã đến Budapest trong chuyến thăm và hội đàm chính thức với các nhà lãnh đạo Hungary. Hai sách của ông đã được xuất bản (một về Cách mạng Việt nam, một tuyển chọn các bài viết và nói về các chủ đề khác).
„Tư liệu ít và không chi tiết!” Sanyi bảo vậy. Anh là cháu của bạn BME cùng năm Feri – lo tìm kiếm tư liệu cho một luận văn lịch sử VN cận đại. Đã mừng chuyển cho Sany bài viết này. „Khá hấp dẫn, nhưng rất cần phân tích thêm các luận điểm khoa học với luận cứ xác thực! – Sanyi trả lới. „Thế mới cần đến sử gia tương lai. Cố gắng và Chúc thắng lợi!”
Chợt nhớ về 34 năm trước …hôm nay ghi lại đây.
Lê Duẩn một trong số ít nhân vật có tầm vóc, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của Vietnam đương đại: nổi bật trong ba nội dung: (1) Xây dựng miền Bắc làm “hậu phương lớn” (2) giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc; (3) hóa giải nhiều mưu đồ và đập tan cuộc xâm lược quy mô lớn của Trung Quốc, thoát khỏi giấc ngủ dài, đầy ác mộng bởi tình bạn “thắm thiết, chí tình” với người láng giềng phương Bắc!
Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, Lê Duẩn (1907 – 1986) là một trong số ít nhân vật có tầm vóc, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của đất nước.
Không giống với các mẫu nhân vật được phản ánh qua sách báo, truyền thông có phần lý tưởng hóa, mang nhiều yếu tố huyền thoại, có vẻ như ông là con người hiện thực hơn, chung đúc, hội tụ được nhiều phẩm chất, tính cách của con người Việt Nam. Điều đó khiến cho ở ông thể hiện rất rõ bóng dáng dân tộc: Vừa gan lì, ý chí, lại vừa giàu cảm xúc, dễ tha thứ. Có vẻ như ông là nhân vật thuần Việt, ít chịu ảnh hưởng bởi nước ngoài, mặc dù vẫn phải chịu tiếng rằng có lúc thân Trung hay thân Xô. Ông cũng là người không có thiên hướng che dấu tình cảm, mà để tính cách bộc lộ. Ông là một trong số hiếm lãnh đạo tối cao ở Việt Nam không để lại hồi ký. Ông mặc cho lịch sử tìm hiểu, phán xét mà không tự cung cấp hay định hướng thông tin cho người đời, cho hậu thế đánh giá về mình.
Tầm ảnh hưởng của ông không chỉ bởi cương vị Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam, rồi sau là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, bởi cương vị này có nhiều người từng nắm giữ, mà bởi khả năng kiểm soát quyền lực, làm chủ tình thế và dẫn dắt lịch sử đi theo mình. Ông là người chủ động, quyết đoán và quyết định vận mệnh của đất nước trong toàn bộ những năm tháng dài lâu (ít nhất là từ năm 1960 đến năm 1986) mà ông nắm giữ quyền lực tối cao.
Vai trò lịch sử của Lê Duẩn
Vai trò của ông trong lịch sử đất nước khiến người ta nghĩ đến những Hồ Quý Ly hay Minh Mạng, thậm chí là Trần Thủ Độ hay Nguyễn Ánh – Gia Long… Mặc dầu mỗi nhân vật có một bối cảnh, sứ mệnh lịch sử riêng, mà sự so sánh có thể là khập khiếng, song cũng giúp ta hình dung tầm vóc, vị trí của họ. Ông không phải là một nhà lập quốc nhưng ông có bản lĩnh và tầm vóc của kiểu người như thế. Ông luôn luôn là một thủ lĩnh thực sự, đúng với nghĩa của từ này, dù ở chiến trường miền Nam (trước năm 1957), hay khi được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị ký thác, trao giữ cương vị cao nhất của Đảng, kể từ năm 1960.
Nhắc đến Lê Duẩn, người ta thường nhắc đến những sự kiện, những dấu ấn của lịch sử như Đề cương Cách mạng miền Nam (1956), Nghị quyết 15 của BCH TW Đảng Lao động Việt Nam tháng 1/1959 về đường lối cách mạng miền Nam, Chiến dịch Mậu thân – 1968, Chiến dịch Xuân – Hè năm 1972, Chiến dịch mùa Xuân năm 1975, giải quyết “Vấn đề người Hoa” (1977-1982) và đến cả lý thuyết “Làm chủ tập thể” đầy “ảo vọng” (mà nay không còn được nhắc tới nữa) của ông, trong bão lốc quay cuồng của chiến tranh biên giới ở hai đầu đất nước (1975-1978, 1979), của tình thế đất nước bị bao vây cấm vận và đói khổ tột cùng sau sự nghiệp Thống nhất và trước Đổi mới. Dấu ấn của ông là hiện thực, ngồn ngộn và nổi trội, đầy tính thuyết phục nhưng cũng nhiều luồng dư luận khen, chê, không trộn lẫn với ai được. Song vượt lên trên tất cả, ông là một nhân vật lớn, một tầm vóc lịch sử chỉ đứng sau Hồ Chí Minh ở Việt Nam khoảng giữa và nửa sau thế kỷ 20.
Trên lĩnh vực đối ngoại, Lê Duẩn nổi lên như một nhân vật hàng đầu trong những quyết sách của đất nước, từ những năm 60 của của thế kỷ 20. Nét điển hình trong tư tưởng và hành động của ông, ở phương diện đối ngoại, đặt trên nền cảnh lịch sử đất nước những năm 60, 70 và 80 của thế kỷ 20 có thể tổng kết là: Không sợ Mỹ; không sợ các các nước lớn (gồm cả Liên Xô, Trung Quốc); đặc biệt cảnh giác và kiên quyết với Trung Quốc.
Không sợ Mỹ bởi ông tin vào dân tộc đã từng đánh thắng những đế quốc hung bạo nhất của mọi thời đại, bởi ông rất hiểu Mỹ trong những tình thế cụ thể nhất của tên đế quốc này. Chính những người lãnh đạo như ông, cùng với nhân dân anh hùng, đã tạo nên trên chiến trường miền Nam những câu khẩu hiệu, những phong trào thi đua “giết giặc lập công” nổi tiếng: “Tìm Mỹ mà giết”, “Nắm lấy thắt lưng địch mà đánh”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”… độc nhất vô nhị trên hành tinh này. Hãy thử tìm ở những nơi quân Mỹ tham chiến gây tội ác trên thế giới xem, chẳng đâu có những phong trào như vậy. Những tư liệu lịch sử cho thấy, cái khó khăn của Lê Duẩn và nhóm lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng Lao động Việt Nam trong cuộc đối đầu với Mỹ không hoàn toàn bởi vũ khí và sức mạnh Mỹ, mà bởi thái độ của những nước đứng sau cuộc chiến của chúng ta, đó là Liên Xô, và đặc biệt là Trung Quốc với những tính toán khó lường của nước này. Song, khó khăn đó đã được ông hóa giải một cách ngoạn mục và mãi mãi là đề tài cho giới nghiên cứu lịch sử về sau.
Không ngại các nước lớn, không chỉ là Mỹ, mà còn là cả Liên Xô và Trung Quốc, hai bậc “đàn anh” trong hệ thống Xã hội chủ nghĩa. Xuất phát từ vị thế và lợi ích của mình, mỗi nước đều tìm cách tác động trực tiếp lên cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam. Trước đây, mặc dù có những giúp đỡ không nhỏ cho cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam nhưng Liên Xô và Trung Quốc đã hạn chế nền độc lập của nước ta chỉ ở phần phía Bắc vĩ tuyến 17. Khi Mỹ thay Pháp can thiệp trực tiếp vào Đông Dương, Liên Xô, Trung Quốc lại một lần nữa tìm cách kiềm chế Việt Nam đánh Mỹ, để “đốm lửa nhỏ” Việt Nam không bùng lên thành “đám cháy lớn” nguy hại cho tham vọng của các đàn anh.
Là người thực sự nắm cương vị chủ chốt nhất của Đảng kể từ sau Đại hội III (1960), Lê Duẩn luôn hiểu sâu sắc tình thế bất lợi của cách mạng nước ta, nhưng vẫn tìm được cách tranh thủ sự ủng hộ cao nhất của cả hai nước đứng đầu khối Xã hội chủ nghĩa cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bên cạnh thước đo về tình đồng chí và tinh thần quốc tế vô sản, ông nắm được chìa khóa của sự giúp đỡ từ Liên Xô, Trung Quốc đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam chính là những lợi ích của mỗi nước này trong cuộc mặc cả với Mỹ và phương Tây. Khó khăn lớn của cách mạng Việt Nam không chỉ bởi phải đối đầu với Mỹ, mà còn bởi những toan tính của mỗi nước Liên Xô, Trung Quốc trước cuộc chiến ở Đông Dương, và đặc biệt là mối bất hòa ngày càng nghiêm trọng, đi tới thù địch sâu sắc giữa hai nước. Lê Duẩn hiểu rất rõ tình thế ấy và ông đã thông thái đưa ra những xử lý quyết đoán, dũng cảm để hoàn thành mục tiêu độc lập, thống nhất cho nước nhà.
Xử lý mối quan hệ với Liên Xô và Trung Quốc trong tình thế hai nước mâu thuẫn, thù địch nhau là một bài toán vô cùng khó của những người đứng đầu Đảng và Nhà nước Việt Nam. Giống như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn không cực đoan, cũng không hữu khuynh. Khi trong phong trào Cộng sản quốc tế, người ta cô lập Trung Quốc thì ông gần Trung Quốc, người ta bài Liên Xô thì ông không ngại đứng cạnh Liên Xô. Gần giống với Hồ Chí Minh khi đi tìm đường cứu nước, dù Quốc tế Hai, Hai rưỡi hay Ba cũng được, miễn đó là tổ chức cách mạng bênh vực các dân tộc thuộc địa đấu tranh giành độc lập, ông thân thiện với cả Liên Xô, Trung Quốc đúng nghĩa chủ nghĩa quốc tế vô sản, đồng thời với một mục tiêu duy nhất: Tìm kiếm sự ủng hộ lớn nhất để đánh Mỹ, giải phóng miền Nam.
Cảnh giác và kiên quyết với Trung Quốc, đó cũng là thái độ rõ rệt của Lê Duẩn với sứ mệnh người đứng đầu hệ thống chính trị của Việt Nam trong hơn hai thập kỷ.
So với nhiều nhà cách mạng Việt Nam khác, ông trưởng thành từ cơ sở và là thủ lĩnh của cuộc chiến gian khổ ở miền Nam, hơn là ở chiến khu Việt Bắc. Kỷ niệm Việt Bắc của ông không nhiều, chủ yếu là khoảng thời gian tham dự Đại hội II của Đảng (1951). Ông muộn tiếp xúc với Trung Quốc và không có “duyên nợ” gì với Trung Quốc trong những ngày đầu cách mạng, nhưng lại là người nếm trải sớm nhất cùng với đồng bào miền Nam những đau khổ của cuộc chiến chống Mỹ dai dẳng, mà một trong những kẻ can thiệp để duy trì sự đau khổ đó chính là Trung Quốc thông qua Hiệp định Giơ-ne-vơ. Sau này, qua cuộc tiếp xúc đầu tiên của ông với Mao Trạch Đông tại Vũ Hán năm 1963 và qua nhiều cuộc tiếp xúc về sau với Mao và các nhân vật hàng đầu khác của Đảng Cộng sản Trung Quốc (Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…), ông càng nắm rõ tham vọng và dã tâm của Bắc Kinh đối với Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Vì sao Hồ Chí Minh chọn Lê Duẩn?
Có người cho rằng Lê Duẩn được Hồ Chí Minh giao trọng trách Bí thư thứ nhất Đảng Lao động Việt Nam là muốn gửi gắm ước nguyện giải phóng miền Nam cho ông, bởi ông quyết liệt chống Mỹ (trong khi nhiều người khác quá thận trọng và e ngại Mỹ), đồng thời muốn cân bằng quyền lực Nam – Bắc để người miền Nam yên tâm đánh Mỹ. Song, có lẽ Hồ Chí Minh còn nhìn xa hơn thế, bởi nhận thấy Lê Duẩn không chỉ dám đánh Mỹ, mà còn dám đối diện với Trung Quốc. Ông không mắc nợ gì với Trung Quốc trong những ngày “rau măng cháo bẹ”, và tính cách của ông quyết liệt, lòng tự tôn dân tộc ở ông sáng rõ, mà đó lại là những tố chất cần nhất của một nhà lãnh đạo trong cuộc đối diện với Trung Quốc sau này.
Kinh nghiệm lịch sử cho ta bài học: Gia Long nhờ người Pháp (các sĩ quan hải quân), nhờ giáo sĩ Thiên Chúa để giành lại vương quyền từ tay Nhà Tây Sơn, nhưng cũng dùng Minh Mạng để ngăn chặn Pháp và kiên quyết với đạo Thiên chúa. Với Trung Quốc, Hồ Chí Minh vừa phải dựa vào để cứu nước, vừa lại nhìn rõ tim đen của những người đứng đầu Trung Nam Hải, không khác gì các Hoàng đế Thiên triều khi xưa. Nhưng ông đã quá thân với nhân dân Trung Quốc và bị ràng buộc bởi quá khứ đó. Ông cũng không thể tin tưởng những người đã ít nhiều duyên nợ cách mạng với Trung Quốc, bởi thế ông đã quyết định lựa chọn Lê Duẩn – một nhân cách thích hợp cho cuộc ứng phó với nước láng giềng vĩ đại phía Bắc sau này.
Đó là một sự lựa chọn có tính toán kỹ lưỡng và mang tính lịch sử cuối cùng của Hồ Chí Minh. Sau này, chính Lê Duẩn không chỉ là người lãnh đạo quyết liệt nhất cho ba cuộc tấn công nhằm giải phóng miền Nam: Cuộc tấn công Mậu thân – 1968 (nhưng chưa thành công), cuộc tấn công Xuân – Hè năm 1972 (góp phần buộc Mỹ rút quân) và cuộc tấn công Mùa Xuân năm 1975 (thành công); mà chính Lê Duẩn cũng là người đứng đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Trung Quốc năm 1979, để dạy lại cho Bắc Kinh bài học về bá quyền nước lớn.
Trong những ngày tháng này, khi mà quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn luôn luôn nóng và cực kỳ nhạy cảm, nguy cơ chiến tranh chưa bao giờ nguộn tắt, chúng ta lại càng thấm thía sâu sắc khi đọc lại những gì về Tổng Bí thư Lê Duẩn đã nói, đã hành động kiên quyết với Trung Quốc từ cách đây hơn 3 thập niên.
Có thể nói, Lê Duẩn là nhân vật hàng đầu của Lịch sử Việt Nam hiện đại, nổi bật trong ba nội dung lớn (theo cách nói của sử học trong nước), đó là: (1) Xây dựng (thành công?) miền Bắc (Xã hội chủ nghĩa) làm “hậu phương lớn” cho cách mạng cả nước; (2) giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc; (3) hóa giải nhiều mưu đồ và đập tan cuộc xâm lược quy mô lớn của Trung Quốc, (đưa dân tộc trở về với tâm thế lịch sử vốn có của nghìn năm trước, thoát khỏi giấc ngủ dài, đầy ác mộng bởi tình bạn “thắm thiết, chí tình” với người láng giềng phương Bắc).
Tư tưởng chiến lược và sách lược đối ngoại của ông, đặc biệt là việc xử lý mối quan hệ với Tam cường: Liên Xô – Mỹ – Trung Quốc cho mục tiêu cứu nước và giữ nước là bài học vô giá, còn nguyên độ nóng cho giới lãnh đạo và cho dân tộc Việt Nam hôm nay.
Tuy nhiên, đánh giá về ông là một công việc lớn và khó, đòi hỏi một tinh thần sử học nghiêm cẩn và dũng cảm.
Phạm Quốc Sử
(copy từ FB-Peter Nagy)















