Wednesday, September 16, 2026

Một giai đoạn cm

PÁC BÓ: SỰ LỰA CHỌN ĐỊA THẾ

Pác Bó, nơi lãnh tụ Việt Minh đặt chân từ ngày 28/1/1941, là căn cứ khởi đầu của phong trào. Từ đó Việt Minh đi qua các chặng xây dựng lực lượng, xuống đồng bằng năm 1945, rút lên Việt Bắc năm 1946, và cũng từ vùng chiến khu này chiến dịch Cải cách ruộng đất được chỉ đạo.

Pác Bó nằm sát đường biên giới với Trung Quốc nên có một hậu phương an toàn. Khi bị quân Pháp vây quét mạnh, lực lượng cách mạng có thể tạm rút sang phía bên kia biên giới để bảo toàn lực lượng và nhận hỗ trợ từ các tổ chức cách mạng bạn.

Địa hình ở đây dễ thủ khó công. Đó là vùng rừng núi hiểm trở, có hệ thống hang động, khe sâu và chỉ vài con đường mòn nhỏ độc đạo. Lực lượng đồn trú chỉ cần một số nhỏ binh lính chốt giữ các tử huyệt là có thể bẻ gãy các đợt tấn công lớn của quân chủ lực trang bị vũ khí nặng.

Việc chọn Pác Bó là sự chủ động chọn lựa từ kinh nghiệm lịch sử. Lãnh tụ Việt Minh về nước ngày 28/1/1941 và chọn Pác Bó dựa trên sự khảo sát kỹ lưỡng về phong trào quần chúng và địa hình nối liền sang Trung Quốc. Hội nghị Trung ương 8 họp tại lán Khuổi Nậm từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941 và quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh.

Căn cứ vận hành dựa vào lòng dân. Pác Bó phát triển nhờ sự đùm bọc, nuôi giấu tự nguyện của nhân dân các dân tộc Tày, Nùng, và mở rộng thành những làng chiến đấu, nơi người dân là tai mắt và nguồn tiếp tế cho cách mạng. Chỉ trong 3 tháng từ tháng 2 đến tháng 4/1941, phong trào Việt Minh đã thu hút khoảng 2.000 người thuộc các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Dao, Mông ở ba châu thí điểm.

________________________________________

NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ VIỆN TRỢ CỦA VIỆT MINH TRƯỚC TỔNG KHỞI NGHĨA

Ngân sách của Việt Minh thời Pác Bó không hề dồi dào mà luôn ở trạng thái thiếu thốn, được duy trì theo phương thức vốn nhỏ, phân tán, kết hợp đóng góp nhỏ lẻ của dân nghèo địa phương, sự tài trợ của tầng lớp có tài sản, tự cung tự cấp và sự tranh thủ khéo léo các nguồn viện trợ từ Trung Quốc và Mỹ trong bối cảnh Đệ nhị Thế chiến.

Nguồn đầu tiên là quyên góp từ quần chúng. Ngân sách ban đầu không đến từ ngân hàng hay tổ chức tài chính lớn nào mà do mạng lưới Hội Cứu quốc của nông dân, thanh niên, phụ nữ đi vận động. Thành viên đóng góp tiền mặt là đồng Đông Dương, gạo, muối, vải vóc hoặc gia súc, và ở các vùng Việt Minh kiểm soát ngầm tại Cao Bằng có hệ thống thuế tự nguyện hoặc phí hội viên định kỳ. Một phần ngân sách quan trọng đến từ các gia đình thổ ty, địa chủ nhỏ, thương nhân tiến bộ ở vùng biên giới và các gia đình Việt kiều có điều kiện tại Quảng Tây.

Nguồn thứ hai là tự cung tự cấp tại chỗ. Cán bộ và du kích tự trồng ngô, lúa, rau, chăn nuôi, tự may mặc và làm vũ khí thô sơ để giảm tối đa chi phí tiền mặt. Việc trao đổi chủ yếu là hàng đổi hàng với người dân bản địa, lương thực đổi lấy sự bảo vệ hoặc sự giúp đỡ về y tế, giáo dục.

Nguồn thứ ba là viện trợ từ bên ngoài. Việt kiều tại vùng biên giới Quảng Tây (Tĩnh Tây, Long Châu) và các mạng lưới Hoa kiều thân hữu đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển ngân khoản, thuốc men, vải vóc và thiết bị in ấn về căn cứ.

Về phía Trung Quốc, lãnh tụ Việt Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ ngày 29/8/1942 ở Quảng Tây và được thả tháng 9/1943. Sau đó ông chấp nhận tham gia Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, tổ chức do Trung Hoa Quốc Dân Đảng bảo trợ, và nhờ danh nghĩa này Việt Minh nhận được một số khoản trợ cấp tài chính, quân trang và vũ khí để hoạt động tại vùng biên giới. Trước khi ông về nước năm 1944, tướng Trương Phát Khuê còn cấp bản đồ quân sự, tài liệu tuyên truyền, thuốc chữa bệnh và một khoản tiền làm chi phí đi đường và kinh phí huấn luyện, được báo Công an nhân dân ghi là 76.000 đồng quan kim. Ngày 20/9/1944, ông về đến Pác Bó.

Từ cuối năm 1944, nhờ việc hỗ trợ giải cứu phi công Mỹ bị bắn rơi và cung cấp tình báo về quân Nhật, Việt Minh bắt đầu nhận được sự tiếp tế trực tiếp từ Cơ quan Dịch vụ Chiến lược Mỹ (OSS), tiền thân của CIA. Ngày 16/7/1945, toán Deer Team do thiếu tá Allison Thomas chỉ huy nhảy dù xuống Tân Trào và huấn luyện Việt Minh sử dụng bazooka, súng carbine và lựu đạn. Số vũ khí này được máy bay Đồng minh thả dù xuống Tân Trào. Lượng tiền mặt không lớn, nhưng nguồn tiếp tế vật tư này có giá trị kinh tế và quân sự rất lớn, giúp giảm áp lực tài chính cho căn cứ.

________________________________________

HÀNH TRÌNH TỪ PÁC BÓ XUỐNG ĐỒNG BẰNG RỒI TRỞ LẠI VIỆT BẮC

Mặt trận Việt Minh không đùng một cái tràn từ rừng núi xuống mà chuyển hướng hoạt động từ Pác Bó về đồng bằng qua hai bước chiến lược chính.

Bước thứ nhất, từ năm 1943 đến năm 1944, là mở rộng hành lang chính trị. Từ Pác Bó sát biên giới Trung Quốc, Việt Minh tổ chức 19 đội xung phong Nam tiến do Võ Nguyên Giáp chỉ huy để nối các căn cứ miền núi với vùng trung du và đồng bằng. Cuối tháng 11/1943, con đường này nối Cao Bằng với khu căn cứ Bắc Sơn, Võ Nhai và thiết lập được đường dây liên lạc với Trung ương ở miền xuôi. Họ không đi bằng quân đội lớn mà đưa cán bộ bí mật vào các làng xã ở Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ, Vĩnh Yên để lập các Hội Cứu quốc bí mật, chuẩn bị sẵn lực lượng quần chúng tại chỗ trước khi quân chủ lực xuất hiện. Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời.

Bước thứ hai, từ tháng 3 đến tháng 8/1945, là chính thức tiến quân. Cơ hội đến từ việc Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, khi chính quyền thực dân Pháp sụp đổ hoàn toàn và tạo ra khoảng trống quyền lực lớn, Việt Minh lập tức phát động cao trào Kháng Nhật cứu nước. Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ họp từ ngày 15 đến ngày 20/4/1945 tại Hiệp Hòa quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang. Ngày 4/5/1945, lãnh tụ Việt Minh rời Pác Bó, chuyển trung tâm chỉ đạo về Tân Trào, Tuyên Quang, gần đồng bằng và Hà Nội hơn rất nhiều. Ngày 15/5/1945, Việt Nam Giải phóng quân ra đời tại Định Hóa, Thái Nguyên, và ngày 4/6/1945 Khu Giải phóng Việt Bắc chính thức thành lập.

Tổng khởi nghĩa diễn ra từ ngày 14 đến ngày 28/8/1945. Khi Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Quốc dân Đại hội họp ở Tân Trào ngày 16/8, và chiều cùng ngày một đơn vị Giải phóng quân do Võ Nguyên Giáp chỉ huy xuất phát từ Tân Trào tiến đánh thị xã Thái Nguyên, vào thị xã ngày 20/8/1945 rồi tiếp tục tiến về Hà Nội. Tuy nhiên, phần lớn các cuộc nổi dậy giành quyền lực ở đồng bằng và các thành phố lớn như Hà Nội ngày 19/8, Huế ngày 23/8, Sài Gòn ngày 25/8 thực chất do lực lượng tự vệ và quần chúng tại chỗ thực hiện, dưới sự lãnh đạo của các chi bộ Việt Minh ngầm đã cắm chốt từ trước, chứ không hoàn toàn chờ quân từ chiến khu kéo về. Bắc Giang, Hải Dương, Hà Tĩnh và Quảng Nam đã giành được chính quyền tỉnh lỵ từ ngày 18/8, trước khi Giải phóng quân vào thị xã Thái Nguyên.

Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược năm 1946, Việt Minh áp dụng chiến lược tiêu thổ kháng chiến, tức phá hủy hạ tầng để không cho địch sử dụng, và tiến hành cuộc rút quân quy mô lớn từ đồng bằng về vùng núi rừng phía Bắc. Tối ngày 19/12/1946, Toàn quốc kháng chiến bùng nổ tại Hà Nội. Các đơn vị Vệ quốc đoàn và Trung đoàn Thủ đô giam chân quân Pháp trong lòng Hà Nội suốt 60 ngày đêm để các cơ quan trung ương, kho tàng, xưởng máy và tài liệu kịp sơ tán an toàn.

Trung ương Đảng, Chính phủ và lãnh tụ Việt Minh không quay lại Pác Bó vì quá sát biên giới, dễ bị đánh kẹp. Họ chọn vùng Việt Bắc gồm 6 tỉnh là Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, thường gọi là Thủ đô kháng chiến, làm căn cứ địa chính. Các huyện Chợ Đồn, Chiêm Hóa, Sơn Dương, Định Hóa, Đại Từ được chọn làm an toàn khu.

Lần trở lại núi rừng từ năm 1946 đến năm 1954 khác hoàn toàn giai đoạn Pác Bó từ năm 1941 đến năm 1945. Việt Minh không còn là những nhóm du kích vài chục người với súng thô sơ mà đã có chính quyền, các trung đoàn chủ lực, hệ thống quân y, xưởng công binh chế tạo vũ khí như súng bazooka và đạn dược, cùng sự ủng hộ của đông đảo quần chúng. Căn cứ Việt Bắc được tổ chức bài bản với các an toàn khu, hệ thống thông tin liên lạc, xưởng in tiền, báo chí và cơ quan đại diện của các nước sau năm 1950.

Nhờ chủ động rút lên núi rừng dựng căn cứ phòng thủ, Việt Minh bẻ gãy đợt tấn công quy mô lớn của Pháp vào Việt Bắc mùa thu đông năm 1947. Pháp huy động 12.000 quân và mở màn ngày 7/10/1947 bằng cuộc nhảy dù xuống Bắc Kạn, nhưng đến ngày 19/12/1947 đại bộ phận quân Pháp phải rút khỏi Việt Bắc. Việt Minh bảo toàn được lực lượng và phát triển thành các đại đoàn chủ lực. Tháng 1/1950, Trung Quốc công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở đường cho những hỗ trợ tài chính và quân sự mà Việt Minh cần trong cuộc chiến chống Pháp, và từ nền tảng đó Việt Minh tiến tới chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954.

________________________________________

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT MỞ MÀN TỪ CHIẾN KHU VIỆT BẮC

Trong chiến dịch Cải cách ruộng đất diễn ra từ năm 1953 đến năm 1956, đầu não điều hành, tức các cơ quan trung ương chỉ đạo và chỉ huy chiến dịch, được đặt tại vùng An toàn khu Thái Nguyên và Tuyên Quang thuộc Chiến khu Việt Bắc, sau đó từng bước chuyển về Hà Nội. Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nơi ra các quyết định đường lối về Cải cách ruộng đất, đóng tại Định Hóa thuộc Thái Nguyên và Sơn Dương thuộc Tuyên Quang. Ủy ban Cải cách ruộng đất Trung ương, cơ quan trực tiếp triển khai và điều hành chiến dịch, do Tổng Bí thư Trường Chinh phụ trách.

Hội nghị Trung ương lần thứ 4 họp từ ngày 25 đến ngày 30/1/1953 quyết định phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, giảm tức để tiến tới cải cách ruộng đất, và đợt phát động quần chúng giảm tô bắt đầu từ tháng 4/1953.

Vụ án bà Nguyễn Thị Năm, còn gọi là Cát Hanh Long, diễn ra từ tháng 5 đến tháng 7/1953, giai đoạn mở đầu đợt thí điểm Cải cách ruộng đất tại Thái Nguyên. Bà sinh năm 1906, là chủ hiệu buôn Cát Hanh Long ở Hải Phòng, từng làm Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Thái Nguyên, và gia đình bà đã đóng góp tài chính lớn cho Việt Minh trước đó, đúng kiểu nguồn đóng góp từ tầng lớp có tài sản từng giúp nuôi căn cứ thời Pác Bó. Ngày 22/5/1953, bà bị đấu tố lần cuối trước gần 10.000 người dân địa phương và bị tuyên án tử hình.

Bà bị xử bắn ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên, trong tháng 7/1953, ở tuổi 47, và được báo chí đương thời coi là phát súng mở màn cho cuộc vận động lớn của chiến dịch. Nhiều nguồn ghi ngày xử bắn là 9/7/1953, tức 29 tháng 5 âm lịch, nhưng ngày chính xác chưa được xác nhận chắc chắn: một báo cáo ngày 14/7/1953 xác nhận bản án tử hình nhưng chưa nêu rõ số phận hiện tại của bà, còn một báo cáo ngày 17/7/1953 đã liệt bà vào số người bị xử bắn.

Bài báo Địa chủ ác ghê ký tên C.B. được đăng trên báo Nhân Dân ngày 21/7/1953, sau vụ xử bắn, và được trang thông tin đặc biệt về lãnh tụ Việt Minh của báo Nhân Dân đăng lại như một bài viết của ông, với xuất xứ ghi là báo Nhân Dân số 125, từ ngày 21 đến ngày 25/7/1953. Bài báo kể tội bà với những cáo buộc như "Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người", và còn nói bà giết 14 nông dân.

Đợt thí điểm tại Đồng Bẩm cần một mô hình điểm để phát động quần chúng hưởng ứng chiến dịch, và trường hợp Cát Hanh Long được chọn. Bằng bài báo ký C.B. đăng trên cơ quan ngôn luận của Đảng lúc đó, bài mà chính báo Nhân Dân ghi nhận là của lãnh tụ Việt Minh. Ông và bộ máy tuyên truyền nhằm tạo luồng dư luận mạnh mẽ, hợp thức hóa chính sách phát động đấu tranh giai cấp khốc liệt đối với tầng lớp địa chủ, bất chấp những đóng góp tài chính lớn của gia đình bà cho Việt Minh trước đó.

Vào thời điểm vụ việc diễn ra và bài báo ra đời, toàn bộ quy trình tòa án, viết bài và in ấn báo chí đều được thực hiện tại Chiến khu Việt Bắc, chủ yếu ở Thái Nguyên, hoàn toàn chưa chuyển về Hà Nội. Năm 1953 Hà Nội vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quân đội Pháp nên toàn bộ bộ máy truyền thông của Việt Minh hoạt động trong điều kiện sơ tán. Báo Nhân Dân và Tuyên huấn Trung ương đặt trụ sở tại khu vực an toàn khu Thái Nguyên thuộc các huyện Định Hóa, Đại Từ. Máy in do công nhân sơ tán chở từ đồng bằng lên được cất kỹ trong hang đá hoặc nhà sàn dưới tán rừng để tránh không quân Pháp, và báo sau khi in được các đội giao liên chuyển bằng đường bộ, xe đạp xuống các vùng tự do như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh cùng các vùng căn cứ du kích ở đồng bằng.

Hội nghị Trung ương lần thứ 5 họp vào trung tuần tháng 11/1953 bàn về nhiệm vụ cải cách ruộng đất, và Quốc hội thông qua Luật Cải cách ruộng đất ngày 4/12/1953. Các lực lượng cán bộ được huấn luyện tại căn cứ Việt Bắc, sau đó tỏa đi thành các đội cải cách xuống làng xã ở vùng tự do như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.

Phải đến tháng 10/1954, sau Hiệp định Genève và cuộc tiếp quản Thủ đô, Báo Nhân Dân và các cơ quan xuất bản Trung ương mới chính thức chuyển máy móc và trụ sở về Hà Nội. Cùng thời điểm, các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ và Ủy ban Cải cách ruộng đất Trung ương chuyển về Hà Nội, từ đó chỉ đạo các đợt Cải cách ruộng đất quy mô lớn trên toàn bộ vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ trong những năm 1955 và 1956, cho đến khi chiến dịch dừng lại và chuyển sang giai đoạn Sửa sai vào giữa năm 1956. 

Minh Nhựt (Nghiên cứu lịch sử)

No comments:

Post a Comment