QUY HOẠCH ĐÔ THỊ MỸ: NHỮNG CỘT MỐC ĐỊNH HÌNH DÁNG VÓC NĂM THÀNH PHỐ LỚN
________________________________________
NEW YORK
Sự hình thành dáng vóc của New York, đặc biệt là quận Manhattan, gắn liền với ba cột mốc quy hoạch mang tính bước ngoặt, biến một thị trấn cảng phía Nam đảo Manhattan thành siêu đô thị chọc trời. Đầu thế kỷ 19, dân số bùng nổ khiến khu vực phía Nam đảo Manhattan rơi vào tình trạng quá tải và mất vệ sinh. Năm 1811, chính quyền bang New York thông qua Commissioners' Plan, bản quy hoạch ô bàn cờ mang tính cách mạng cho phần đất chưa khai phá từ Houston Street lên đến 155th Street, do các ủy viên Gouverneur Morris, John Rutherfurd và Simeon De Witt soạn thảo. Bản quy hoạch tạo ra 12 đại lộ đánh số chạy theo chiều dọc hòn đảo, rộng 30 m, cắt vuông góc với 155 con phố chạy ngang, hình thành khoảng 2.000 khối nhà hình chữ nhật, tối ưu hóa việc phân lô bán đất và xây dựng thương mại (1, 2).
Do bám theo trục của hòn đảo, toàn bộ lưới phố nghiêng khoảng 29 độ so với hướng bắc địa lý. Broadway là ngoại lệ nổi bật nhất: một phần con đường này đi theo tuyến đường cũ của người bản địa, chạy xiên qua mạng lưới ô bàn cờ và tạo ra các giao lộ hình tam giác độc đáo, tiêu biểu là Times Square (1).
Nhận thấy bản quy hoạch 1811 quá thực dụng và thiếu không gian xanh, thành phố quyết định xây một công viên lớn giữa Manhattan. Năm 1858, thiết kế Greensward Plan của kiến trúc sư Frederick Law Olmsted và Calvert Vaux thắng cuộc thi thiết kế Central Park (3). Công viên được mở rộng dần và đạt diện tích hiện tại 341 ha vào năm 1873 (4), trở thành một kiệt tác cảnh quan nhân tạo đóng vai trò lá phổi cân bằng lại mật độ bê tông dày đặc của Manhattan.
Sự ra đời của thang máy và kết cấu khung thép cuối thế kỷ 19 dẫn đến cuộc đua xây nhà cao tầng. Năm 1915, tòa nhà Equitable Building cao khoảng 40 tầng hoàn thành ngay sát mặt đường mà không có bất kỳ khoảng lùi nào, che khuất ánh sáng mặt trời của các con phố xung quanh và gây ra làn sóng phản đối của người dân New York. Năm 1916, chính quyền thành phố thông qua Zoning Resolution 1916, đạo luật phân khu toàn diện đầu tiên của nước Mỹ, quy định cả mục đích sử dụng đất, chiều cao và mật độ xây dựng (5, 6).
Theo đạo luật, các tòa nhà phải lùi dần khi lên cao để ánh sáng và không khí chiếu xuống mặt đường, riêng khoảng 25% diện tích lô đất được phép dựng tháp không giới hạn chiều cao (7). Hệ quả phổ biến là dáng vẻ giật cấp kiểu bánh sinh nhật kinh điển của các tòa nhà chọc trời New York thập niên 1920-1930, tiêu biểu như Empire State Building hay Chrysler Building.
________________________________________
CHICAGO
Khác với New York phát triển tiệm tiến qua quy hoạch, Chicago lột xác nhờ tái thiết sau thảm họa. Từ ngày 8 đến 10/10/1871, trận đại hỏa hoạn thiêu rụi toàn bộ trung tâm thương mại bằng gỗ của thành phố, phá hủy khoảng 17.500 công trình và khiến khoảng 100.000 người mất nhà cửa ( 8 ). Đống tro tàn trở thành trang giấy trắng cho các kiến trúc sư tham vọng nhất thời đại: để tiết kiệm diện tích đất đắt đỏ tại khu trung tâm The Loop và chống hỏa hoạn, kiến trúc sư William Le Baron Jenney dùng khung sườn kim loại gồm sắt và thép gánh phần lớn tải trọng thay cho tường chịu lực dày (9), còn Louis Sullivan phát triển ngôn ngữ thẩm mỹ nhấn mạnh chiều cao và trang trí gốm. Năm 1885, tòa nhà Home Insurance Building do Jenney thiết kế hoàn thành tại Chicago, thường được coi là tòa nhà chọc trời đầu tiên trên thế giới (10).
Năm 1909, kiến trúc sư Daniel Burnham cùng cộng sự Edward Bennett công bố Plan of Chicago, một trong những bản quy hoạch đô thị có ảnh hưởng nhất lịch sử nước Mỹ, đưa triết lý phong trào City Beautiful vào thực địa (11). Burnham cho rằng bờ Lake Michigan thuộc về toàn thể người dân, và bản quy hoạch đề xuất biến dải bờ hồ thành chuỗi công viên và bãi biển công cộng thay vì để công nghiệp và đường sắt chiếm dụng. Đây là văn bản tư vấn không có hiệu lực pháp lý, còn nền tảng bảo vệ bờ hồ đến từ nguyên tắc tài sản công có từ trước và các vụ kiện do Aaron Montgomery Ward theo đuổi, mà Burnham củng cố và phổ biến (13). Nhiều phần của kế hoạch được thực hiện dần trong những thập niên sau, mở rộng chuỗi công viên ven hồ mà Grant Park là một phần trung tâm (12).
Bản quy hoạch còn đề xuất hệ thống đại lộ hướng tâm và đường vành đai kết nối khu trung tâm với các vùng phụ cận, cùng một hệ thống công viên và đại lộ rợp bóng cây bao quanh thành phố để mọi cư dân đều tiếp cận được không gian xanh trong khoảng cách đi bộ (11).
________________________________________
WASHINGTON D.C.
Khác với New York hay Chicago vốn phát triển vì thương mại và công nghiệp, Washington D.C. là thủ đô liên bang đầu tiên của Mỹ được thiết kế ngay từ đầu để làm trung tâm quyền lực chính trị. Năm 1791, Tổng thống George Washington giao cho kiến trúc sư người Pháp Pierre Charles L'Enfant thiết kế thủ đô mới trên vùng đất ven sông Potomac. L'Enfant mang tư duy quy hoạch Baroque châu Âu vào một quốc gia non trẻ: bộ khung là lưới ô bàn cờ đánh số và chữ cái, bên trên là các đại lộ chéo cực rộng đặt theo tên các tiểu bang như Pennsylvania Avenue, nơi các đường chéo cắt nhau tạo thành những quảng trường vòng xoay làm điểm nhấn thị giác. L'Enfant đặt Capitol trên Jenkins Hill làm tâm điểm chính, còn White House được đặt ở một trục vuông góc, nối với Capitol qua Pennsylvania Avenue (14, 15).
Đến cuối thế kỷ 19, quy hoạch của L'Enfant bị lấn át và biến dạng bởi sự bùng nổ của đường sắt thương mại và sự phát triển tự phát nhếch nhác. Năm 1901, Thượng nghị sĩ James McMillan thành lập Senate Park Commission, công bố báo cáo năm 1902 sau này được gọi là McMillan Plan, đưa phong trào City Beautiful vào cuộc đại cải tạo thủ đô. Bản quy hoạch đề xuất dỡ bỏ nhà ga đường sắt trên National Mall và mở rộng khu này thành đại lộ công viên thảm cỏ dạng chữ thập kéo dài từ Capitol đến Lincoln Memorial, đồng thời bố trí các bảo tàng và đài tưởng niệm quốc gia dọc theo dải thảm cỏ theo phong cách tân cổ điển. Bản quy hoạch chưa từng được chính thức thông qua nhưng được thực hiện dần trong những thập niên sau, trong đó đường ray cắt ngang National Mall được dỡ bỏ (16).
Height of Buildings Act, ban hành năm 1899 và sửa đổi năm 1910, hạn chế chặt chẽ chiều cao công trình tại Washington D.C., với mức tối đa bằng chiều rộng con phố cộng thêm khoảng 6 m và trần tuyệt đối khoảng 40 m cho phố thương mại, khoảng 27 m cho phố dân cư. Nhờ đó, Washington Monument cao khoảng 169 m vẫn là công trình cao nhất thủ đô, còn Capitol cùng các công trình quốc gia chi phối đường chân trời (17, 18).
________________________________________
LOS ANGELES
Trái ngược hoàn toàn với sự nén chặt của New York hay tính trật tự của Washington D.C., Los Angeles đại diện cho một triết lý đô thị hoàn toàn khác của nước Mỹ: đô thị dàn trải lấy xe hơi làm trung tâm tuyệt đối. Ít ai biết rằng trước khi ngập tràn xe hơi, Los Angeles từng sở hữu mạng lưới tàu điện liên đô thị (interurban) lớn nhất thế giới. Năm 1901, trùm tư bản Henry Huntington thành lập Pacific Electric Railway, xây dựng mạng lưới xe điện Red Cars dài khoảng 1.600 km nối liền các thị trấn ven biển với trung tâm nhằm đưa cư dân đến các khu bất động sản ông phát triển ở ngoại ô. Thay vì nén dân cư vào khu trung tâm, hệ thống Red Cars kéo giãn người dân ra sinh sống tại các ngôi nhà ngoại ô có sân vườn, đặt nền móng cho cấu trúc đô thị phân tán đa trung tâm của Los Angeles từ rất sớm (19, 20).
Sau Thế chiến II, sự bùng nổ của ngành công nghiệp ô tô cùng việc khai tử dần hệ thống tàu điện, với tuyến hành khách cuối cùng ngừng chạy năm 1961, đã biến Los Angeles thành thí nghiệm xe hơi lớn nhất hành tinh (20). Năm 1947, Collier-Burns Highway Act của bang California tạo cơ chế tài chính cho hệ thống cao tốc toàn bang (21, 22), mở đường cho mạng lưới freeway khổng lồ cắt xuyên qua vùng lòng chảo Los Angeles. Các tuyến đường huyết mạch như I-5, I-10, US-101 cùng các nút giao tầng phức hợp trở thành khung định hình đi lại, trong khi khu trung tâm suy giảm vai trò và vùng đô thị trở thành tập hợp của hàng chục thành phố và khu vực nối với nhau bằng đường cao tốc, như Santa Monica, Pasadena, Long Beach. Phần lớn diện tích đất được dành cho nhà ở gia đình đơn lập thấp tầng, bãi đỗ xe khổng lồ và các trung tâm thương mại ngoài trời kiểu strip mall.
________________________________________
SAN FRANCISCO
San Francisco là trường hợp độc nhất trong lịch sử đô thị Mỹ: một bán đảo với địa hình đồi núi dốc đứng nhưng lại bị áp mạng lưới ô bàn cờ phẳng, để rồi lột xác hoàn toàn sau một trong những thảm họa thiên nhiên tàn khốc nhất lịch sử nước Mỹ. Năm 1847, kỹ sư Jasper O'Farrell hiệu chỉnh và mở rộng mạng lưới ô bàn cờ do Jean Jacques Vioget vạch từ năm 1839, và trước sức ép của các chủ đất vẫn giữ lưới cứng nhắc này trên địa hình đồi núi chập chùng của thị trấn, tạo ra những con phố dốc đứng như Filbert Street (23, 25). Khi cơn sốt vàng bùng nổ năm 1849, San Francisco biến chuyển thần tốc từ một thị trấn ven biển nhỏ bé thành đô thị sầm uất. Độ dốc quá lớn khiến ngựa kéo xe gặp tai nạn liên tục, và năm 1873 kỹ sư Andrew Smith Hallidie phát triển thành công hệ thống xe cáp kéo ngầm (24), giải cứu quy hoạch ô bàn cờ và biến những ngọn đồi hiểm trở thành vùng đất bất động sản đắt giá nhất thành phố như Nob Hill.
Sáng ngày 18/4/1906, trận động đất cường độ 7,9 cùng trận đại hỏa hoạn kéo dài nhiều ngày sau đó đã phá hủy hơn 80% thành phố và khiến ước tính khoảng 3.000 người thiệt mạng (26). Ngay trước thảm họa, kiến trúc sư Daniel Burnham từng đề xuất một bản đại quy hoạch phong cách City Beautiful với các đại lộ chéo tráng lệ kiểu Paris, nhưng sau thảm họa, các chủ đất và doanh nghiệp đã bác bỏ kế hoạch này để ưu tiên tái thiết thần tốc trên bộ khung ô bàn cờ cũ nhằm khôi phục kinh tế nhanh nhất. Thành phố xây dựng hệ thống cấp nước dự phòng chống hỏa hoạn khẩn cấp. Phần lớn thiệt hại năm 1906 đến từ hỏa hoạn sau động đất chứ không phải từ rung chấn, và nhiều nhà gỗ khung phong cách Victorian, Edwardian chịu rung chấn tương đối tốt, tiêu biểu là dãy nhà Painted Ladies ở công viên Alamo Square xây trước thảm họa và vẫn đứng vững (27).
Thập niên 1930, hai cây cầu lớn nối San Francisco với các khu vực quanh vịnh được hoàn thành: San Francisco-Oakland Bay Bridge khánh thành năm 1936 nối sang East Bay, Golden Gate Bridge khánh thành năm 1937 nối sang Marin ở phía Bắc, mở ra kỷ nguyên mở rộng vùng đô thị Bay Area (28).
________________________________________
NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Wikipedia, Commissioners' Plan of 1811
2. Wikipedia, List of numbered streets in Manhattan
3. NYC Municipal Archives, The Greensward
4. NYC Parks, thông cáo kỷ niệm Central Park
5. NYC Department of City Planning, Zoning Resolution 1916
6. AIA New York, 100 năm zoning New York
7. McGill Office for Science and Society, Building the Modern Skyscraper
8. US Census Bureau, Great Chicago Fire 1871
9. Linda Hall Library, William Le Baron Jenney
10. Council on Tall Buildings and Urban Habitat, Debating Tall
11. Wikipedia, Burnham Plan of Chicago
12. University of Chicago, Burnham Plan Centennial
13. Encyclopedia of Chicago History, Plan of Chicago
14. Wikipedia, L'Enfant Plan
15. National Park Service, tài liệu giới thiệu Washington D.C.
16. The Cultural Landscape Foundation, McMillan Plan
17. National Capital Planning Commission, Height of Buildings Act
18. National Capital Planning Commission, Height Master Plan
19. American Rails, Pacific Electric Railway
20. Southern California Railway Museum, Pacific Electric
21. Wikipedia, Collier-Burns Highway Act of 1947
22. KCET, My Way Or The Highway
23. Wikipedia, Jasper O'Farrell
24. SFMTA, lịch sử xe cáp San Francisco
25. Wikipedia, danh sách các con phố dốc nhất
26. Wikipedia, động đất San Francisco 1906
27. SF Museum, Symphonies in Steel
28. Structure Magazine, San Francisco-Oakland Bay Bridge
Vuong Cuong (Nghiên cứu Lịch sử)

No comments:
Post a Comment