Monday, June 8, 2020

MADE IN THE UK

If you’re like many motoring enthusiasts, you probably understand that there’s nothing quite like the control and engagement that comes from driving a vehicle equipped with a manual transmission. Advantages of driving a stick shift include the ability to use the momentum of the engine to help slow the vehicle down while braking. Depending on the type of vehicle, rowing your own gears can also provide greater MPG as compared to an automatic transmission.
According to 2018 Edmunds.com data, only a minuscule 2% of all vehicles sold in the United States were sold with manual transmissions. With fewer and fewer options available on the market, drivers searching for a vehicle equipped with a stick shift are having a tough time. Fortunately, MINI remains one of the last manufacturers who understand the appreciation of the manual transmission.
(MINI of Ann Arbor)

MINI Cooper Hardtop 2 Door

Sunday, June 7, 2020

Về 2 quê hương: Đất nước bị chia cắt

TỪ HÒA ƯỚC TRIANON-1920 ĐẾN HIỆP ĐỊNH GENÈVE-1954*

Sau khi Hungary bị chia cắt bởi Hòa ước Trianon, 34 năm sau, VN cũng lâm vào cảnh đất nước bị chia làm 2 miền. Và bi kịch đã xảy ra khi Hiệp định này ko phải là sự bắt đầu cho việc lập lại hòa bình và thống nhất đất nước mà đã đẩy VN vào 1 cuộc chiến tranh đẫm máu hơn, dẫn tới hậu quả ko thể lường được trong một tình thế vô cùng nguy hiểm hiện nay trước thế lực thù địch phương Bắc, từng là người anh em cùng phe tại Hội nghị Genève. Nhưng ngay từ lúc đó, BK đã lợi dụng hội nghị này để đưa Trung Quốc thành một thế lực chính tại châu Á[1]. Vì thế, những người đứng đầu đảng cs TQ đã coi nhẹ lợi ích của những người cs và dân tộc chủ nghĩa tại ba nước Đông Dương khi thỏa hiệp với các nước phương Tây trong giải pháp phân chia lãnh thổ của VN làm 2, gây bất lợi đối với lực lượng bản xứ chống Pháp tại các nước này.
-----------
Phái đoàn Quốc gia VN

Ngày 4-6-1954, trước khi Hiệp định Genève được ký kết 6 tuần, thủ tướng Pháp đã ký Hiệp ước Matignon (1954) với Thủ tướng Quốc gia VN công nhận Quốc gia VN hoàn toàn độc lập đối với Chính phủ Pháp và là thành viên của khối Liên Hiệp Pháp.
Theo Bernard B. Fall: Quốc gia VN không đủ thực quyền để ký kết Hiệp định do lực lượng quân sự của chính quyền này quá nhỏ. Mặt khác, Hiệp ước Matignon chỉ được ký dưới dạng ghi nhớ giữa 2 Thủ tướng chứ không phải nguyên thủ cao nhất của 2 bên (Tổng thống Pháp René Coty và Quốc trưởng Bảo Đại).
Ông Trần Văn Đỗ, Trưởng đoàn đại diện của Quốc gia VN tuyên bố sẽ không ký vào Hiệp định Genève với lý do hiệp định gây chia cắt nước VN làm 2 nước và đẩy Quốc gia VN vào thế nguy hiểm.
Đại diện phái đoàn Quốc gia VN ra một tuyên bố riêng:
"Việc ký hiệp định giữa Pháp và Việt Minh có những điều khoản gây nguy hại nặng nề cho tương lai chính trị của Quốc gia VN. Hiệp định đã nhường cho Việt Minh những vùng mà quân đội quốc gia còn đóng quân và tước mất của (Quốc gia) VN quyền tổ chức phòng thủ. Bộ Tư lệnh Pháp đã tự ấn định ngày tổ chức Tổng tuyển cử mà không có sự thỏa thuận với phái đoàn Quốc gia VN ... chính phủ Quốc gia VN yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng: (Quốc Gia) VN long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng với những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Quốc gia VN yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc VN trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập và Tự do cho xứ sở".
Ngày 28-4-1954, Ủy ban Bảo vệ Bắc VN của Quốc gia VN tìm cách kêu gọi dân chúng di cư vào Nam. Một kế hoạch di cư được đặt ra và một Ủy ban di cư được thành lập. Ngày 30-7-1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phát biểu cổ vũ dân chúng miền Bắc di cư vào miền Nam. Sau đó, chính phủ kế tiếp của Quốc gia VN là VNCH do Ngô Đình Diệm làm tổng thống, với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ đã từ chối tổ chức tuyển cử thống nhất VN, trái với Tuyên bố chung của Hiệp định.

(còn nữa)

*: mix từ nhiều nguồn
[1]: Ngày 4-8-1953 Liên Xô đề nghị họp Hội Nghị ngũ cường gồm Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Liên Xô và Trung Cộng vào tháng 9-1953 để tiếp tục giải quyết những tranh chấp ở Triều Tiên, đồng thời tại khu vực Á Châu, trong đó nóng bỏng nhất là vấn đề Việt Nam.
Đề nghị nầy bị Hoa Kỳ bác bỏ ngày 2-9-1953.
Trong cuộc họp tay ba Anh, Pháp và Hoa Kỳ trong ba ngày kể từ 16-10-1953, cả ba nước trên đưa ra tuyên bố không chấp nhận đề nghị của Liên Xô, nguyên do là vì các cường quốc Tây phương không muốn thừa nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là một cường quốc ngang hàng với họ. Lúc đó, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chưa được vào Liên Hiệp Quốc. Chiếc ghế thường trực tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc do Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) nắm giữ.

Saturday, June 6, 2020

TRUYỆN VUI CUỐI TUẦN - HÉTVÉGI VICCEK (No. 215)

Vận dụng tốt kiến thức đã học

Bánh pizza đã đến:
- Anh thường được boa bao nhiêu? – người đàn ông hỏi anh thanh niên giao bánh pizza.
- Cháu không biết, đây là chuyến đầu tiên của cháu. Cháu là sinh viên, cháu chỉ làm phụ thêm trong mùa hè thôi. Nhưng mọi người bảo rằng chú khá là ki. Được boa 50 forint là cháu mừng lắm rồi.
Người đàn ông tức điên.
- Cái gì cơ??! Này, còn 500 forint đây, và hãy nói với họ là được boa bao nhiêu nhé! Thế anh học gì ở trường đại học?
- Cháu học tâm lý học ứng dụng ạ.
----------
Felhasználta az eddig tanultakat

Megérkezik a pizza:
- Mennyi borravalót szokott kapni? - kérdezi a férfi a pizzafutártól.
- Nem tudom, ez az első fuvarom. Egyetemista vagyok, csak besegítek a nyáron. De a többiek azt mondták, maga elég fukar egy alak. Örülhetek, ha 50 forintot kapok magától.
A fickó bedühödik.
- Micsoda??! Na, itt van még 500 forint, és mondja meg nekik is, mennyit kapott! Egyébként mit tanul az egyetemen?
- Alkalmazott pszichológiát.

Nguyễn Ngô Việt (DEBRECEN.vidi73)

Friday, June 5, 2020

Ảnh cũ: Đội tuyển ELTE giải 26/03/1976

Đội hình từ trái qua :
Nguyễn Văn Bảy, Nguyễn Dũng Cần, Trần Thanh Thắng, Nguyễn Văn Khái ( Cài 😜), Đỗ Hồng Anh, Ngô Tiến Nhân , Đỗ Bá Khang, Nguyễn Quang Hoà, Hồ Ngọc Luật, Hoà “ già “( đã đi xa ), Vũ Trọng Thi, Nguyễn Minh Tuấn, Vũ Hoàn (Thang Tran Thanh)

Lục sử & soi

Lật lại lịch sử:

Một nhiệm kỳ của một quan lại thực dân Pháp đô hộ nước ta.

Toàn quyền ĐD Paul Doumer

           TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG PAUL DOUMER ĐÃ LÀM GÌ Ở VIỆT NAM?

         Trong nhiệm kỳ 5 năm của mình, Ông Paul Doumer — Toàn quyền Đông Dương (từ 1897 đến 1902) ông đã làm những việc sau đây:
         - Xây dựng tuyến đường sắt xuyên Đông Dương nối với Vân Nam Trung Quốc.
         - Xây dựng cầu sắt Long Biên nối hai bờ sông Hồng, cũng là cây cầu đẹp và dài nhất khu vục Đông Nam Á. (Bấy giờ và cầu mang tên ông đến 1954).
         - Xây dựng cầu Việt Trì nối hai bờ sông Lô.
         - Xây dựng cầu Quay Hải Phòng bắc qua sông Tam Bạc.
         - Xây dựng cầu Hàm Rồng Thanh Hóa nối hai bờ sông Mã.
         - Xây dựng cầu Trường Tiền nối hai bờ sông Hương.
         - Xây dựng cầu Bình Lợi nối sông Sài Gòn.
         - Mở mang đường sá nối Nam Kỳ và Trung Kỳ.
         - Chấp thuận đề xuất của ông Yersin và cho xây dựng thành phố Đà Lạt.
          - Mở mang, xây dựng cảng Hải Phòng.
          - Năm 1901 khởi công xây dựng Nhà Hát Lớn Hà Nội, một công trình văn hóa kiến trúc đặc sắc đến tận bây giờ vẫn chưa có nhà hát nào xứng tầm (trừ nhà hát Opera Thủ Thiêm vẫn còn nằm trên giấy)
           - Đưa Hà Nội vào danh sách một trong những thành phố châu Á đầu tiên có điện...


          Chúng ta hoàn toàn đồng ý và nhất trí với quan điểm của Đảng: Việc Pháp cho xây dựng các công trình giao thông, cơ sở hạ tầng ở Đông Dương không ngoài mục đích khai thác thuộc địa, vơ vét tài nguyên thiên nhiên của nước ta. Phục vụ chiến tranh, nhanh chóng điều quân đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta. Mở trường học là để đào tạo đội ngũ làm tay sai cho thực dân Pháp. Xây dựng các công trình văn hóa, sở thú vườn hoa là để phục vụ giới thượng lưu giầu có ...
         Nhưng lạ: nhân công chủ yếu bấy giờ là bản xứ, dân số nước ta khi đó chỉ mới trên 9 triệu người và trên 95% là mù chữ, trình độ lao động là “dân ngu khu đen”. Chỉ một nhiệm kỳ 5 năm Ông Paul Doume đã điều hành làm từng đó công việc. Ngày nay ngoài nội lực chúng ta còn có thêm người bạn vàng Trung Hoa vĩ đại, với đội ngũ khoa học kỹ thuật phát triển, với số tiền VAY đội vốn dự án lên gần cả chục nghìn tỷ đồng xây dụng mỗi một đoạn đường sắt 13,1 km, từ Cát Linh tới Hà Đông, khởi công từ năm 2008 đến nay (cuối năm 2019) trãi qua 11 năm, gần hai nhiệm kỳ Thủ tướng & 3 vị bộ trưởng GTVT đáng kính vẫn chưa hoàn thành. Lẽ nào thời đại của chúng ta thua một lão già thực dân người Pháp 117 năm về trước ...!?

Đường tàu ô nhục Cát Linh-Hà Đông

02.10.2019

Thursday, June 4, 2020

Điện than và than

Nguyễn Quang Quý: Than Việt Nam sản xuất là than loại tốt, bán sạch cho tq giá thấp
Than Việt Nam xài là tq ép mua, loại than xấu, gây ô nhiễm và ung thư, và nhà máy là công nghệ lạc hậu của tq
Nhiều nhà máy điện than là nhà máy cũ của tq
Và chính sách mua than và nhà máy than điện chỉ là chính trị và tiền
-----------

Nhiệt Điện Than – nỗi lo cho tương lai

Không biết có ai đã xem bài viết tựa đề “Nhiệt điện than Việt Nam và sự giám sát của quốc tế” được đăng trên tờ báo “Người Đô Thị” ngày 2 tháng 6 chưa? Nếu ai tinh ý thì sẽ thấy một nỗi lo rất lớn trong đó, nỗi lo ấy nếu không có định hướng giải quyết sớm một cách triệt để thì sẽ khiến người Việt gánh chịu những hậu quả khôn lường trong tương lai không xa… đó là Nhiệt Điện Than!
Mình khuyên các bạn nên đọc kỹ bài báo này và nếu các bạn có khả năng Tiếng Anh thì có thể đọc bài báo cáo nguyên gốc của nhóm Liên minh Luật Môi trường Toàn cầu (Environmental Law Alliance Worldwide - ELAW) (mình có để các đường link bên dưới phần tài liệu tham khảo).
Có 6 điểm chính trong báo cáo này cảnh báo các điểm “nguy hại” của nhà máy nhiệt điện than Vũng Áng 2 là:
👉Không kiểm tra các lựa chọn thay thế để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi tới môi trường từ nhà máy nhiệt điện được đề xuất (Failed to examine alternatives that prevent or minimize adverse environmental impacts of the proposed thermal power plant)
👉Sử dụng lựa chọn sai về mô hình phân tán chất ô nhiễm không khí làm cho dự đoán về tác động chất lượng không khí là vô nghĩa (Used the wrong choice of an air pollutant dispersion model that renders meaningless predictions of air quality impacts)
👉Áp dụng các tiêu chuẩn khí thải thấp hơn cho dự án này so với các tiêu chuẩn được sử dụng trên quốc tế (Applied weaker emission standards for the project than those used internationally)
👉Cho phép tiếp tục xử lý tro ướt, điều này trái với hướng dẫn của quốc tế (Allowed continued wet handling of ash contrary to international guidelines)
👉Cho phép xả nước thải nhiệt vượt quá các hướng dẫn quốc tế (Allowed discharge of thermal effluent in excess of international guidelines)
👉Sai lầm trong việc loại bỏ đáng kể các tác động có thể có đối với các loài sinh vật biển (Erroneously dismissed potentially significant impacts to marine species)
Lo sợ cho việc xây dựng nhà máy nhiệt điện than Vũng Áng 2 sẽ không những thúc đẩy biến đổi khí hậu, mà còn tạo ra ô nhiễm môi trường và hệ quả là các các mối nguy hiểm cho sức khỏe người dân trong vùng. Các tổ chức phi chính phủ môi trường của Nhật Bản đã đệ đơn kiến nghị lên các khu vực công và tư nhân Nhật Bản về việc hủy bỏ dự án sản xuất điện đốt than Vũng Áng 2 tại Việt Nam. Bản kiến nghị được ký bởi 127 tổ chức từ hơn 40 quốc gia và khu vực. (các bạn xem thêm chi tiết ở các đường link phía dưới).
Nhà máy điện than giải phóng các chất gây ô nhiễm không khí, có thể kể ra như sulfur dioxide, oxit nitơ và bụi mịn PM2.5, được cho là nguyên nhân gây nhiều bệnh cho con người, từ các bệnh liên quan đến đường hô hấp, bệnh tim, bệnh da, sức khỏe sinh sản (thai nhi) và đến cả ung thư. Vừa mới đây một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy việc chuyển đổi từ nhiệt điện than sang sử dụng khí đốt tự nhiên đã giúp cứu được hơn 26 ngàn mạng người trong thời gian từ năm 2005 đến 2016! Và còn rất nhiều nghiên cứu khoa học khác nữa trong thời gian qua ở nhiều nơi trên thế giới cho thấy tác động độc hại của nhà máy nhiệt điện than... Do vậy, xu hướng hiện nay của các nước trên thế giới là giảm thiểu các nhà máy điện than, đóng cửa, chuyển đổi và tìm các nguồn năng lượng thay thế khác sạch hơn như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng khí đốt tự nhiên, v.v…
Một câu hỏi khác nảy ra trong đầu (mình chắc là các bạn cũng thế) sau khi đọc báo cáo trên là "vậy thì những nhà máy nhiệt điện than khác ở Việt Nam đang được đầu tư bởi những đối tác khác thì sao nhỉ?" có được quan tâm để làm các khảo sát đánh giá tỉ mỉ như nhà máy điện than Vũng Áng 2 được Nhật tài trợ chính không? 
Mới đây thôi chúng ta đã thấy phản ứng của “họ” như thế nào khi một cây Phượng bật gốc! Mình chắc là nhân dân Việt Nam cũng mong có một phản ứng như vậy đối với vấn đề "sống còn" này đối với định hướng Nhiệt Điện Than cho nước nhà.

Một số bài viết liên quan trước đó:
Ngày 28 tháng 12 năm 2019 (KHI CÁI ÁC Ở TRÊN CAO!)
https://www.facebook.com/vu.nguyen.758/posts/3120584124622604
Ngày 25 tháng 12 năm 2019 (SỰ TRÙNG HỢP ĐÁNG SỢ) 
https://www.facebook.com/vu.nguyen.758/posts/3115765891771094  
TS. Nguyễn Hồng Vũ,
Viện Nghiên cứu ung thư, City of Hope, California, USA
Cố vấn khoa học Ruy Băng Tím

Tài liệu tham khảo:
https://nguoidothi.net.vn/nhiet-dien-than-viet-nam-va-su-giam-sat-cua-quoc-te-23715.html (Nhiệt điện than Việt Nam và sự giám sát của quốc tế)
https://elaw.org/VN_VungAngII_2018EIAReview (Evaluation of the 2018 Environmental Impact Assessment (EIA) Report For the Vung Ang II Thermal Power Plant Project)
https://foeasiapacific.org/2020/05/28/japan-must-not-support-vung-ang-2-coal-power-plant-in-vietnam/ (Japan must not support Vung Ang 2 Coal Power Plant in Vietnam)
https://www.straitstimes.com/asia/east-asia/japan-public-financier-to-stop-approving-loans-for-coal-projects (Japan public financier to stop approving loans for coal projects)
https://www.marketforces.org.au/research/vietnam/vung-ang-2/ (Companies should not financially support a coal power plant on a site that is already known to have polluted air and water, will cause further impacts to livelihoods of local communities and carries stranded asset risk.)
https://www.theguardian.com/environment/2020/jan/06/coal-power-pollution-gas-saved-lives-study
Burney, J.A. The downstream air pollution impacts of the transition from coal to natural gas in the United States. Nat Sustain 3, 152–160 (2020). https://doi.org/10.1038/s41893-019-0453-5

#drvunguyen #điệnthan #môitrường #ônhiễm

Ấn Độ: Từ hôm qua đến ngày mai (8)

HẠT MƯA MANG LẠI SỰ SỐNG
Các bạn trở lại phần trước ở đây

Anees Jung*

Hàng năm, Ấn Độ chờ mong mưa như đứa bé mong chờ sữa mẹ. Nhưng ko như đứa bé lớn lên có thể cai sữa, hơn một nửa nước Ấn Độ tiếp tục phụ thuộc vào mưa để tồn tại. Mùa mưa đến chậm thì đất và người héo hắt.

Ở làng mẹ tôi, để cầu cho mùa mưa mau đến, dân làng quẩy 1 cái sọt lớn đi hát rao trên khắp các con đường mòn lấm bụi. Một con ếch bò to tướng được đặt ngồi trên 1 đống lá xoan. Tiếng rao "Hassana Hossana Uyalo!" vang lên trong ko khí nóng bỏng im phăng phắc. Trẻ con từ trong các túp lều cháy nắng chạy ra nhỏ 1 vài giọt nước quý báu lên con ếch. Và thế là đến tối, mây kéo đến, sấm nổi lên và trời bắt đầu mưa.

Những phong tục như kể ở trên nằm trong di sản được truyền lại cho mọi đứa trẻ ở Ấn Độ. Nhưng ngày nay hình như ko còn những chuyện màu nhiệm nữa. Năm ngoái, tôi gặp ở bang Rajasthan 1 đứa trẻ lên 6 chưa hề biết thế nào là mưa. Người mẹ mới 30 tuổi đã trông như 1 bà lão, kiệt sức vì hàng ngày phải đi xa 5 km kiếm nước ăn. Giếng nước nhà chị ko còn lấy 1 giọt như tất cả mọi giếng khác trong vùng. Mùa mưa đã ko chịu lai vãng đến Rajathan từ nhiều năm nay. Cỏ héo đen đi, mọi thứ mùa màng mất sạch. Dân làng phải chặt cây ổi khô để lấy cái đun. Ngay cả ở tp Ajmer, 4 ngày mới có nước 1 lần mà cũng chỉ có trong vài giờ. Hồ Anasager trông như 1 lòng chảo cát nóng giẫy. Ko thấy bóng người thợ giặt nào ven hồ. Tiếng đập vải mất hẳn. Bên rìa tp, trong những trại cứu trợ có mấy con gia súc gầy trơ xương, cặp mắt lờ đờ. Những con gia súc có giá nhất được chủ bôi bột kum-kum lên mình, thứ bọt đỏ mang lại phúc lành rồi bỏ mặc chúng đi lang thang. Ko còn gì cho chúng ăn nữa.

"Chúng tôi muốn có cái ăn chứ ko cần tiền", đó là lời những phụ nữ được tuyển vào làm cho các chương trình chống hạn. Hạn hán đã phá hủy mùa màng, thúc đẩy lạm phát và làm cho giá cả tăng vọt trên khắp mảnh đất như bị nung nướng này.

Là giống chim tiêu biểu cho Ấn Độ, con công thường được thể hiện cùng với thần Krishna. Khi thấy công nhảy múa, người nông dân biết là mùa mưa đã tới gần

Ở tp Madras, người ta đánh lộn, giành nhau chỗ trong những dãy hàng dài trước các vòi nước công cộng. Những bầy voi rời bỏ các cánh rừng khô như rang ở bang Tamil Nadu sang vùng Karnataka bên cạnh. Dưới ánh nắng như thiêu như đốt, nông dân khấn trời, các nhà tu hành đọc kinh mantra và các nhà khoa học thắc mắc ko hiểu cớ sao những chấn động bằng âm thanh của họ lại ko khuấy động nổi khí quyển, làm các đám mây tụ nước và đổ mưa. Các nhà khí tượng dõi mắt quan sát bầu trời và vẽ ra những bản đồ rắc rối. Những quyết định quan trọng về kinh tế, sự nghiệp của các chính trị gia và cả sự tồn tại của 1 đất nước bao la cũng đều phụ thuộc vào tính khí thất thường của mùa mưa.

Ở Ấn Độ, gió mùa (monsoon) ko chỉ có nghĩa là mưa, nó cũng ko phải là bão tố hoặc 1 trận cuồng phong. Mà nó lá 1 mùa với tên gọi bắt nguồn ở từ mausem trong tiếng Arập. Ko phải căn cứ vào mưa rơi để xác định mùa mưa mà căn cứ vào những đợt gió mùa mỗi năm đổi hướng 2 lần. Có gió mùa Hè và gió mùa Đông. Nhưng chỉ những đợt gió mùa Hè thổi dồn mây từ hướng Tây-Nam đến là gây ra 1 mausem, 1 mùa mưa.
 Trước khi có mưa là những đợt gió loo khô nóng, là những ngày nóng bức và nắng chói chang. Khi thấy chim cucu châu Phi sặc sỡ bay trở về và có tiếng công gáy chói tai là người ta biết mùa mưa sắp đến.

Người dân nông thôn có cách dự đoán mùa mưa riêng của họ. Mưa được đón chào như 1 ngày hội lớn. Người lớn chạy ra giữa trời dầm mưa ko khác gì trẻ con. Như lời nhà thơ Kalidasa nổi tiếng ở thế kỷ 15, những dải mây cuồn cuộn trôi như 1 đàn voi động dục, khổng lồ và chứa đầy nước. Chúng kéo đến như các ông vua thân chinh ngự giá giữa tiếng ầm ầm của những đoàn quân tiến bước, lấy những ánh chớp làm cờ xí và tiếng sấm rền làm tiếng trống trận. Đó là 1 biến cố lớn đối với người nông dân cũng như với các thi sĩ, ca sĩ. Những đám mây đen tràn lên mặt vải của các họa sĩ. Còn đối với nhà thơ, những lọn tóc đen của người yêu được ví với những dải mây trong mùa mưa. Ngay ở thế kỷ thứ 6, nhà thơ Subandhu trong tác phẩm Vasavadatta đã chào đón mùa mưa như sau:

"Mùa mưa đã đến. Sông ngòi đầy ắp nước. Công nhảy múa lúc chiếu tà. Mưa dập bụi xuống như nhà tu khổ hạnh dập sóng dục trong lòng mình. Chim chataka hót líu lo. Ánh chớp lấp lánh như 1 con thuyền tình gắn đầy châu báu trên mặt hồ hoan lạc của bầu trời, như vòng hoa quàng trên cổng vào thiên đường, như chiếc thắt lưng lộng lẫy của 1 bậc thiên sắc, như hàng vết móng tay của tình yêu để lại trên cơ thể của mây trong buổi chia ly... mưa giống như người chơi cờ còn những con ếch vàng xanh là những quân cờ nhảy nhót trên các ô ruộng ngập nước. Những hạt mưa đá lấp lánh như những viên ngọc trai trong chuỗi hạt đeo cổ của những con chim trời."

Mùa mưa đã đến/Monsoon Season

Trong cuốn Baramasa, 1 cuốn lịch sử về tình yêu trong đó những tình cảm của con người được diễn đạt đồng đều với các mùa, các nhà thơ miền Bắc Ấn Độ đã viết một số bài thơ hay nhất nói đến mùa mưa. Trong tất cả các ngôn ngữ ở Ấn Độ có ko biết bao nhiêu tục ngữ nói đến tầm quan trọng của mùa mưa. Nhà thông thái Gagh, nhà thơ kiêm nhà chiêm tinh Bà-la-môn, tác giả của nhiều tục ngữ, đã nói như sau: "Khi nước trong bình ko còn mát nữa, khi chim sẻ sà xuống vầy trong lớp bụi và đàn kiến di chuyển trứng của chúng đến nơi an toàn thì ta có thể chắc chắn là sắp mưa như thác". Các câu tục ngữ của ông ngày nay vẫn còn được truyền miệng giữa những người nông dân trong vành đai nói tiếng Hindi ở các bang Uttar Pradesh và Haryana. "Đói kém chẳng qua chỉ là thời kỳ hụt mất mùa mưa" là 1 câu tục ngữ ám ảnh tâm trí mọi người Ấn Độ. Đối với người dân Ấn Độ, mùa mưa là 1 hiện tượng ko sao lường được. Nó có thể bỏ sót 1 vùng, làm ngập nước 1 vùng khác, lướt nhẹ qua 1 vùng khác nữa. Nói như 1 câu tục ngữ cổ: nó có thể rơi xuống sừng bên này của con trâu mà ko rơi xuống sừng bên kia. Nó có thể ban phúc lành cho 1 mảnh đất song cũng có thể từ chối và tàn phá. Mỗi mùa mưa lại có 1 diện mạo khác.

Đường phố Mumbai, tp lớn nhất Ấn Độ, bị ngập do mưa lớn. Trên lý thuyết, mùa mưa tới tp này vào ngày 10 tháng 6 hàng năm. Mưa đến muộn hơn ngày đó thường là 1 tin được đăng trên trang nhất của các tờ báo
(còn nữa)
Các bạn xem tiếp ở đây

*: Anees Jung, nhà văn & nhà báo, từng làm chủ bút tạp chí Ấn Độ Youth Times và viết bài cho nhiều tờ báo khác trong nước và nước ngoài. Cuốn sách của bà nhan đề Unveiling India - A woman's Journey (Ấn Độ gỡ bỏ khăn choàng mặt hay hành trình của một phụ nữ) đã được xuất bản vào năm 1987. Bà tiếp tục phụ trách 1 chuyên mục trên tờ The Times of India và đag chuẩn bị ra 1 cuốn sách về phụ nữ Hồi giáo tại Ấn Độ.

100 NĂM NGÀY KÝ HÒA ƯỚC TRIANNON

Xin giới thiệu lại với các bạn FB về bản hòa ước Triannon.Xin giới thiệu bản dịch phần đầu bộ phim : qua mọi danh giới, bí mật quyển sách của VUJITY TVRTKO về bản hòa ước Trianon và những điều lý thú có liên quan.
Xin chào quí vị, chào buổi tối! Tôi là VUJITY TVRTKO. Buổi tối nay tôi xin mời quí vị tham gia vào một chuyến đi đặt biệt. Một chuyến đi, mà nguyên cứ là để xem nguyên bản Hòa ước được ký Trianon độc nhất vô nhị. Khi tôi tìm thấy nó, tôi đã lật mở ra một chuyên vô cùng kinh ngạc, và tôi xin được giới thiệu cùng quí vị, và xin không câu giờ nữa, chúng ta hãy cùng nhau đi xem nhé, vượt qua mọi danh giới.
Tôi đã tới rất nhiều nơi trên thế giới rộng lớn mênh mang, tôi đã nhìn thấy nhiều điều, có lẽ vì vậy tôi vô cùng yêu quí Tổ quốc tôi. Đôi khi đi dạo trên bờ sông Đanuýp, nhìn xa xa những chiếc tàu thủy, tàu điện chạy, và những du khách, khi nhìn và nghe thấy những hướng dẫn viên du lịch nói về một đất nước có diện tích 93036 km2 như thế nào, mà người ta gọi là nước Hung.
Trong phim này các quí vị sẽ thấy thường xuyên một người bạn đồng hành cùng tôi, người bạn này đầu tiên cũng cứ cho rằng tôi đã đùa với anh.
- Khi tôi nghe nói về thuộc địa của chúng ta thì tôi nghĩ đây có lẽ là một chuyện đùa.
Đến lượt một nghiên cứu viên đã nhìn thấy vô vàn các tài liệu ở Viên, rồi cuối cùng bản thân anh cũng thấy bất ngờ.
Ở Trianon người ta chỉ lấy đi phần đất của chúng ta, của nước Hung phần đất thuộc địa của đế chế Áo - Hung ở Thiên tân.
Quí vị có thể song hành cùng tôi đến Trung quốc, ở đó mà cách đây 100 năm còn là một phần của Hungari, ở đó còn lại những tòa nhà của chúng ta.
Ở nước Hung chúng ta biết đó là thuộc địa của mình, điều này có trên các trang báo.
Nhưng trước đó, trước khi đi tiếp thì chỉ vài phút nữa thôi thì các cánh cửa kéo được mở ra: Cánh cửa phòng bảo mật được mở ra, phiên bản duy nhất của Hòa ước Trianon được cất giữ tại đây.
- Theo cách như thế này thì tôi nghĩ chưa có ai từng thấy cuốn sách này, và như vậy chưa có ai đã mở nó ra xem.
Bắt đầu một chuyến phiêu lưu, bắt đầu một hành trình điều tra.
Zajta ở tỉnh Szabolcs-Szatmár-Bereg cách Csenge vài km là một ngôi làng nhỏ, trông như một bức tranh, nói một cách đơn giản, đẹp tuyệt vời (2:15). Lịch sử của ngôi làng nhỏ này hoàn toàn là kinh ngạc, vì ngôi làng nhỏ với khoảng 500 dân sinh sống, đã bị họ lấy đi của chúng ta, do nhầm lẫn.
- Zajta là một trong những ngôi làng trung thành của nước Hung, nếu không nói là trung thành nhất. Bằng mọi giá đây xứng đáng được nhận danh hiệu như vậy.
Đồng hành cùng tôi là Huszti Róbert, là bách khoa toàn thư sống của vùng này, anh biết mọi thứ về Zajta. Ở đó mặc dù có đường bê tông nối liền 2 làng và hai quốc gia lân cận với nhau, nhưng giữa chừng có rào chắn, và có tảng bê tông chắn ngang. thậm chí những người cảnh sát đang làm nhiệm vụ ở phía Rumani đã cảnh báo chúng tôi là không phải cái gì cũng được quay phim.
Huszti Róbert kể lại rằng khi ở Trianon Zajta đã được sát nhập vào Rumani, thì có một giáo sỹ chỉn chu như bức ảnh trên đây là Gaál Lajos đã xem lại trên bản đồ và nhận ra rằng có điều gì không ổn. Vì vậy Gaál Lajos đã vượt biên và đấu tranh để xem xét lại bản hòa ước. Sự nhầm lẫn đã được phát hiện ra và Zajta lại được sát nhập lại vào Hungari.
- Anh có muốn xem bản hòa ước không?
- À, theo tôi thì bất kỳ người Hung nào cũng muốn xem, và muốn tìm ra sai phạm gì ở đó.
Đó là lịch sử của Zajta. Nó cho tôi một ý tưởng, đó là xem bản hòa ước Trianon này như thế nào, một hộp tài liệu, hồ sơ tòa án ư, là cuốn sách ư? Tôi không biết. Vì thế tôi đi tìm theo dấu vết của bản hòa ước Trianon. Hãy cho phép tôi kể câu chuyện này:
Cậu bé trên bức ảnh kia là tôi đấy. Đằng sau tôi là người bà ở Székely của tôi tên là Réti Kapus Mária, bà sinh ra Ódolán, vùng đất nằm trong danh giới lãnh thổ 1000 năm, bị chia cắt khỏi đất nước.Và cũng chính vì Bà tôi mà tôi đã đọc mọi thứ có thể liên quan đến Trianon, và điều làm tôi hứng thú là làm sao mà đất nước lại to đến như vậy. Tôi tìm tòi nghiên cứu và ghi chép liên tục. Tôi đã đi đến vùng đất ở biên giới bị chia cắt làm đôi ở Sátoraljaújhely, ở đó có một con suối nhỏ, mà theo truyền thuyết thì người Tiệp khắc đã thuyết phục cho mọi người tin rằng đây là dòng sôngcó thuyền bè quốc tế qua lại, vì thế dòng sông này bị chia cắt, vì thế thành phố bị phân chia. Truyền thuyết nghe thì hay, nhưng không đúng sự thật.
Tôi đã nhiều lần đi bộ từ Xlôvác sang Hungari. Tôi nhiều lần đã đến viện bảo tàng Trianon ở Várpalota. Tôi đã xem các bích chương, các tài liệu, và tôi còn được xem cả trò chơi ai là người đã dành lại được nhiều nhất những mảnh đất đã bị lấy đi. Và cuối cùng tôi đã vào các rạp chiếu phim và xem hàng tá phim từ sự phản đối Trianon, đến việc thu hồi lại đất đai đã bị cắt đi.
- Đây là đoàn đại biểu của Hung.
Đây là viện phim ảnh tư liệu khoa học, thể theo yêu cầu của tôi thì anh Kurutz Márton đã lấy ra bộ phim Séc lòng chữ dài 90 phút. Trong phim có thể nhìn thấy các đại biểu hớn hở người Séc, người Ru, người Serbia và những người Hung buồn vô tận.
Chúng tôi xem phim, giữa chừng người nghiên cứu viên đã nói với tôi rằng bộ phim này nhận được từ người Séc, vào những năm 50 - 60. Bộ phim này đã được chiếu nhiều lần ở Tiệp. Chúng ta thì không chiếu.
- Người Hung chúng ta không cử người làm phim tới đó, ít nhất là tôi không tìm thấy dấu tích của sự việc này, và tôi nghĩ điều này cũng dễ hiểu, vì các thước phim này không ghi lại những sự kiện vinh quang gì cho dân tộc.
Đây là cuối phim. Hai người Hung, đầu tiên là Benárd Ágoston và Drasche - Lazár Alfréd bước đến bên chiếc bàn và ký vào hòa ước.
Theo như thế này thì đây là một cuốn sách. Nhưng mà cuốn sách này ở đâu nhỉ?
Chúng ta đang ở chỗ người bạn, người đồng hành cùng tôi là Suha György. Tôi đã yêu cầu tìm hộ cho tôi biết bản hòa ước Trianon ở đâu và đâu là mảng đất đặc biệt mà bản hòa ước này đã lấy đi của chúng ta. Đây là một công việc khó khăn đối với anh, so với những gì chúng tôi nghĩ (6:04).
Chúng tôi không làm thống kê, nhưng với hai người cộng sự thì trong vòng 8, 9 tháng, hay tới nay là 10 tháng về trước thì chúng tôi đã tiến hành hàng nghìn cuộc gọi điện thoại, hàng nghìn thư e-mail.
Đây là thành phố ở ngoại vi Pari, là Saint d' Laye. Sau hơn 3/4 năm tìm kiếm, chúng tôi đã thành công, chúng tôi đã tiến dần đến bản hòa ước. Nhưng trước khi đến đó thì chung tôi đã đi ô tô đến Versace, là nơi bản hòa ước Trianon được ký kết (6:33).
Chúng ta đã đến lâu đài Versace, là nơi các vua Pháp thường ngự trước đây. Trong khu vườn của lâu đài có vô vàn thứ hấp dẫn để chiêm ngưỡng, tòa lâu đài, đài phun nước rất tuyệt vời, tráng lệ, kể cả hàng rào của tòa lâu đài cũng rất đáng ngưỡng mộ, và dòng người tràn ngập nơi đây, họ tò mò muốn biết về nơi trú ngụ tráng lệ của ông vua mặt trời, vua Luis thứ 14. Tại hồ gần hàng rào đang diễn ra cuộc đua thuyền. Những người du lịch đến đây, người thì ăn kem, người thì chụp ảnh, quay phim. Khoảng cách ở những địa điểm xa nhau đến mức nhiều người còn không đi bộ, mà di chuyển bằng xe đánh gôn. Đây là lâu đài Trianon, đối với nhiều người thì đây không phải là địa danh của thảm họa, ở đây họ chụp ảnh cưới, hoặc đơn thuần là chụp ảnh tự sướng thôi.
Tôi cùng bạn tôi là Suha György đi vào lâu đài Trianon. Nơi đây có bán các loại quà lưu niệm, từ quần áo trẻ con đến các đồ lưu niệm có nam châm gắn tủ lạnh. Vào sau một chút là chiếc giường cưới xa hoa, các tranh hội họa quí hiếm, và có cả phòng gương. Chúng tôi đã đến phòng cuối cùng: La Galérie Des Cotelle, phòng này trông như một hành lang, dài 52 m, rộng 7 m, được trang trí với những bức tranh hội hoa và đèn chùm đẹp đẽ. Cuói phòng là nơi có treo bảng thông báo: ở câu cuối cùng có ghi là tại đây, vào ngày 04 tháng 06 năm 1920 đã diễn ra lễ ký kết hiệp ước quyết định số phận của Hungari, cái gọi là Hòa ước Trianon.
Ngày đó rồi cuối cùng cũng đến, ở khách sạn chúng tôi còn cố gắng dàn xếp công việc đến phút cuối cùng, rồi chúng tôi lên xe để đến Le Courreuve vào lúc 10 giờ. Đây là một thành phố tẻ nhạt, buồn ngủ, ở đây chả có tắc đường, chỉ có nhưng người du bộ yên bình. Chúng tôi đến một tòa nhà được bảo vệ như là một nhà tù, và các cánh cổng kéo được mở ra. Tôi không thể giới thiệu được với các quý vị, nhưng họ đã khám xét quần áo của chúng tôi, dùng máy dò kim loại để kiểm tra chúng tôi, rồi chúng tôi được đưa vào một hàng lang được canh gác cẩn mật. Ở đây tôi chỉ được chụp ảnh thôi.
Đây là cánh cửa thép. Chỉ có 6 người được bước qua đây vào trong phòng, ở đó có quyển sách mà vì nó chúng tôi đã đến đây.
Sau khi chờ đợi khá lâu, và đây, đây là quyển sách, là nguyên bản hòa ước Trianon duy nhất. Đằng sau máy ghi hình là những người bảo vệ, trước mặt chúng tôi là người nhân viên chính thức của nơi đây, người này đeo gang tay để làm việc. Thế đấy, quyển sách đang ở đây, nó gồm có 524 trang, được thực hiện bằng 3 ngôn ngữ: Pháp, Ý và tiếng Anh. Những người bảo vệ dường như không có phản ứng gì, nhưng Suha György và tôi thì nhìn về phía trước mà lòng bị chấn động.
Tôi có một cảm giác buồn, thật kỳ lạ là tư liệu này như thể có một chiếc đồng hồ, nó phát ra khí chất gì đó, và khí chất này rất không có gì là tích cực, rõ ràng là hồ sơ mang lại cảm giác tồi tệ, đúng là một đồ lưu niệm, đặc biệt là ở nước Pháp.
Đây có phải là bản chính duy nhất của hòa ước được ký ở đây hay không?
Đây là bản chính duy nhất được ký, theo dạng ký tay, được đóng dấu chính hiệu, đây không phải là bản sao chép, hay bản sao photocopy.
Đối với tôi thì một phần nó hấp dẫn, vì nó ở đây, trước mặt tôi, mặt khác, thành thật mà nói với anh thì thật sự tôi có cảm giác rất tồi tệ.
Cảm giác rất kỳ lạ, tôi nghĩ rằng đối với tất cả mọi người Hung thì nó đúng là gây ra cảm giác buồn thực sự. Tư liệu này gây ra cảm giác buồn, kể cả hình hài của nó nữa.
Chúng tôi giở đến trang cuối cùng của quyển sách, ở trang cuối cùng, trang 524 là chữ ký của những người Hung: Benárd Ágoston và Drasche - Lazár Alfréd, phía trên là chữ ký của dr. Evard Benedek.
Những điều này vẫn chưa gây ra đủ độ khó chịu, chán chường. Tấm bản đồ là phụ bản của bản hòa ước , được gấp lại vào buổi chiều ngày 04 tháng 06 năm 1920, nay lại được mở ra. Tấm bản đồ này chỉ ra đường biên giới của nước Hung (10:48).
Những thành phố bị chia cắt không có tên chuyển đổi phù hợp sang tiếng Ru, tiếng tiệp..., có thể lúc đó các khu vực dân cư này chưa có tên phù hợp.
Đây là giai đoạn rất ngắn trong lịch sử của Hungari. Như ta nhìn thấy đây là Sopron, trước đây nó được cắt sang Áo, có tên là Ödenburg.
Tất cả những điều trên gây cho ta cảm giác khó chịu, chán chường.
Tạm gác quyển sách này sang một bên, ta hãy viếng thăm thành phố Sopron, nơi có rượu vang đỏ, có đội bóng rổ nổi tiếng và là nơi có rất nhiêu du khách, và cũng là nơi mà nhà vua Mátyás đã ngự lại trong một thời gian, trong một vài tháng, nhưng thành phố Sopron vẫn được nhiều người biết đến như là một thành phố trung thành. Tại đây vào ngày 14 tháng 12 năm 1921 đã tổ chức trưng cầu dân ý về việc thành phố sẽ thuộc về đâu. Trên phiếu trưng cầu có thể bỏ phiếu hoặc là nước Áo, hoặc là nước Hung. Cuối cùng kết quả trưng cầu dân ý đồng ý ở lại nước Hung với chênh lệch là 7107 phiếu thuận.
Tất cả mọi người đều tự hào về thành phố Sopron. Hầu như mọi người đều biết về lịch sử của thành phố trung thành này, nhưng về một xã đầu tiên, trung thành nhất thì không ai biết (12:17).
Tôi đang trên đường đến một làng nhỏ ở cạnh Körmend, là làng Szent Péterfa, tên gọi theo tiếng Horvátia là Petro Selo. Ở đó tôi tìm đến một quán rượu có tên là Navrágye, nghĩa là vì sức khỏe của bạn. Người bạn thời niên thiếu của tôi là Kohuth Miklós, trưởng thôn đang chờ tôi tại đó. Chúng tôi nói chuyện với nhau bằng tiếng Horvátia, cũng như hầu hết mọi người ở Szent Péterfa, ngôi làng của người Horvátia lớn nhất ở Hungari, vì hơn 3/4 người dân sống ở đây là người Horvátia.
Szent Péterfa tự hào là một làng Hungari trung thành nhất, về thực tế đây là ngôi làng Horvátia, vì phần lớn người dân sống ở đây là người Horvátia khi người dân bỏ phiếu ở lại với nước Hung.
Để thuận tiện cho việc làm phim, chúng tôi chuyển sang nói chuyện với nhau bằng tiếng Hung. Anh Miklós đã giới thiệu quán rượu cũng gần giống như một viện bảo tàng cho tôi biết. Đây là hình ảnh người dân ăn mừng khi ngôi làng được sát nhập trở lại với Hung. Trong ngày lễ này, đây là các mẹ, các chị nấu nướng ăn mừng. Nhưng trong ngày lễ này không phải ai cũng hạnh phúc cả (12:54). Do được sát nhập lại với Hung, hàng bao nhiêu năm sau vẫn còn xẩy ra ẩu đả, đánh nhau ở Szent Péterfa. Trong nhiều năm đã xẩy ra các cuộc ẩu đả của người dân với nhau ở vùng thượng - hạ của Szent Péterfa. Tất cả các sự kiện đều gắn liền với sự kiện Trianon.
Cuối cuộc viếng thăm là một sự bất ngờ. Thời trẻ con chúng tôi cùng nhau đàn hát với Kohuth Miklós. Nhân dịp này anh đã tổ chức cho chúng tôi chơi một bài mà tôi là tay đàn chính, mà qua đó tôi đã thực hiện được cả phim về sự nghiệp âm nhạc của tôi. Cảm ơn anh, người bạn của tôi (13:29).
Vừa rồi đây là những điều lý thú ở Szent Péterfa.
Ta lại quay lại Le Coureeuve nhé. Chúng ta giở đến các trang nói về dàn xếp các địa danh lãnh thổ.
Điều này thực tế gây bất ngờ cho anh à? Anh có biết trước điều này không?
Không, tôi không biết, vì thế tôi lấy làm ngạc nhiên là chúng ta lại có thuộc địa ở Thiên tân (Trung quốc).
Trong bản hòa ước Trianon có 104 điều nêu rõ đường biên giới mới của Hungari. Chúng ta mất các vùng lãnh thổ, trong đó có vùng phía bắc, phía nam, Erdély, và Kárpátalja,... và đến điều 99, ở đó có ghi rằng chúng ta còn mất đi những thứ khác nữa.
Tôi cùng với Suha Györgyxem phần lời này ma đứng tim. Truyền thuyết xa lạ trước đây, thực tình là đúng sự thực.
Lời của bản hòa ước nói rằng Hungari trả lại cho Trung quốc tất cả các tài sản có trên lãnh thổ, có thể nói là trên thuộc địa, và các diện tích mà chúng ta có trên lãnh thổ Trung quốc về cho Trung quốc.
Thế chúng ta có 1 km2 diện tích ở Trung quốc à?
Ở đây ghi rõ là ở Trung quốc chúng ta có những tòa nhà, những diện tích lãnh thổ, các đường phố, các điểm bốc rỡ hàng hóa, lãnh sự quán, các nhà ở và các vùng đất.
Và do hòa ước Trianon mà chúng ta mất hết những thứ này?
Phần thuộc địa của chúng ta ở Trung quốc đã bị hòa ước Trianon lấy đi mất.
Điều này hoàn toàn ngạc nhiên nhỉ?
Điều này cũng không an ủi gì chúng ta bên cạnh với việc nước Hung bị cắt xén lãnh thổ, nhưng có một thực tế rõ ràng là trong một thời gian dài chúng ta đã có một phần lãnh thổ riêng ở Trung quốc (15:04).
3 - 4 phố ở Thiên Tânlà phần lãnh thổ chung của đế chế Áo Hung trong lòng Trung quốc.
Rõ ràng đây từng là lãnh thổ riêng của chúng ta nhỉ?
Vâng, đúng thế, đúng thế.
Chúng tôi với Oross András cùng khuân vác cá thùng tài liệu lớn ở Viên, các tài liệu lưu trữ về Trung quốc của chúng ta. Người thủ thư của Cơ quan lưu trữ tài liệu đế chế Áo Hung trước đây cũng không biết được về diện tích chúng ta ở Trung quốc, nhưng bây giờ thì anh còn biết thêm là về mặt pháp lý thì người Áo đã mất phần lãnh thổ này từ trước. Hòa ước Trianon thực tế chỉ là pháp lý hóa trên văn bản mà thôi.
Đây là băng đeo của nhân viên hộ tịch ở thuộc địa Thiên Tân à?
Đây là dải băng mà nhân viên hộ tịch đeo vào khi làm lễ đăng ký kết hôn cho các cặp vợ chồng sắp cưới và lưu trữ vào sổ sách.
Ngoài dải băng trên, chúng tôi còn tìm thấy cả con dấu nữa. Sau 100 năm chúng tôi tự hào được đóng dấu bằng triện này của đế chế Áo - Hung.
Chúng tôi lật tiếp các trang tài liệu và quá khứ lại được tái hiện.
Vào cuối thế kỷ 19, khi nổ ra bạo động mà người ta gọi là cuốc chiến ma phiến, cuộc bạo động này đã bị 8 cường quốc dập tắt, trong đó có sự tham gia của các binh lính và thủy thủ của đế chế Áo - Hung, thí dụ như chiến hạm Zenkai. Trong cuộc chiến nhiều binh sy của chúng ta đã tử trận, nhưng cuối cùng thì chúng ta đã thắng và chúng ta đã được nhận lãnh thổ 1 km2 ở thành phố Thiên Tân (16:31).
Phần đất này trên thực tế được gọi là phần đất thuê, hòa ước Trianon chỉ ghi đó là một khu đất, nhưng ở chúng ta, chúng ta gọi đó là thuộc địa, là Trung quốc nhỏ của chúng ta. Và khi tôi nghĩ chả có gì làm cho tôi ngạc nhiên thêm nữa thì ở hành lang, anh András đã giở ra cho tôi xem tấm bản đồ, tấm bản đồ Trung quốc nhỏ của chúng ta. Tôi sửng sốt và kinh ngạc. Quý vị hãy bình tĩnh, thật bình tĩnh nhé! Chúng ta ở bên đó đã có tranh chấp lãnh thổ với nước Ý. Phần kết của tranh chấp này như thế nào, chúng ta không biết, nhưng điều chắc chắn là trong khoảng 15 năm phần đất đó thuộc về chúng ta: ở đó có các tàu điện chạy, có 4 phố: phố Budapest, phố Viên, phố Trieszt và phố Ferenc József, và nơi đây cũng đã từng bị lũ tràn qua tàn phá (17:27).
Vùng đất này của chúng ta thậm chí còn có các văn bản pháp luật riêng bằng tiếng Hung, và cũng không phải là các văn bản pháp luật bình thường, ví dụ như: để tổ chức bắn pháo hoa cần phải xin giấy phép của công an, cấm ẩu đả và quấy rối trên đường phố, người Trung quốc kể cả trên phần đát của Trung quốc cấm không được phép mang theo vũ khí, cấm ăn xin (17:56).
Đây là những văn bản pháp luật. Trên lãnh thổ mà chúng ta có, chúng ta còn có những kế hoạch phát triễn, có những kế hoạch đã được thực hiện, nhiều kế hoạch không thành.
Trên các văn bản, trên các bản đồ có xuất hiện 3, 4 con phố, trong các tài liêu cùng với các kế hoạch phát triển thường phát sinh câu hỏi là 3, 4 con phố có ít không, đoạn cảng có ngắn không mà cần thường xuyên phát triển. Nhưng dường như có vẻ là 10 năm, hơn 10 năm là quãng thời gian ít ỏi.
Thôi, chừng ấy thôi để nhắc lại quá khứ. Bây giờ chúng ta hãy hướng tới Trung quốc nhé! (18:38)
Đây là Bắc kinh Trung quốc vào trung tuần tháng ba. Đáng kinh ngạc là ở đây rất nhiều khói bụi và nhộn nhịp. Ở quảng trường Thiên an môn có vô vàn binh sỹ, và du khách thăm quan. Rất nhiều du khách đã chụp ảnh Mao Trạch Đông. Tôi đã đến thăm Tử cấm thành và một trong những công viên đá hay có ở đây. Sau đó tôi tới một nhà hàng ăn uống TQ, ở đây tôi nhanh chóng nhận ra rằng tôi sẽ chết đói nếu như thường xuyên phải ăn uống bằng đũa. Nhưng may mắn là không phải luôn như vậy. Tôi đi tiếp. Trên đường nhiều cư dân ở đây đang hứng thú chơi mạt chược. Sự hứng thú này lên đến cao độ khi tôi nhập cuộc với họ để chơi trò Đô mi nô. Thành công của tôi chẳng khác gì với việc tôi dùng đũa. Cả 6 lần tôi đều đứng chót.
Thôi, cũng chẳng sao, dù gì thì tôi đến đây đâu có phải là do việc này. Tôi đến tìm Trung hoa nhỏ của chúng ta.
Buổi sáng ngày hôm sau chúng tôi ở Thiên tân, thành phố cách Bắc Kinh 2 tiếng rưỡi đi ô tô.Trong thành phố này số dân sinh sống còn gấp rưỡi dân số Hungari. Khi chúng tôi bước ra khỏi xe thì một trò chơi mới cũng đã bắt đầu, khi chúng tôi quay phim, chụp ảnh thì chúng tôi cũng bị người khác chụp ảnh, quay phim, mà lại còn liên tục nữa chứ.
Những người hướng dẫn cho chúng tôi đã đưa chúng tôi đến một viện bảo tàng địa phương (20:02) và giới thiệu Tp Thiên Tân cho chúng tôi. Đây là vùng đất rộng lớn, chắc chắn vậy, nhưng ở đây có đến 14 triệu người sinh sống, có được một mảnh đất trống là hiếm hoi.
1 tiếng đồng hồ sau chúng ta ở khu vực được gọi là đất Ý, đây là khu vực được biết đến là có tranh chấp với chúng ta. Ở đây có các tòa nhà, các dãy cửa hàng với các mặt nạ lễ hội, và cả cửa hàng bánh Pizza ý nữa, như thể chúng ta đang sống ở một thành phố ý thực sự.
Rồi chúng tôi rời khỏi nơi đây để đến một nơi mà chúng tôi mong đợi từ nhiều tháng nay.
Cuộc hành trình dài, nhưng cuối cùng thì chúng ta đã đến đây. Phía sau lưng tôi đây là khu vực mà 100 năm trước đây đã có những người Hung làm việc, học tập và sinh sống, và đây là mảnh đất mà trên thực tế là hòa ước Trianon chính thức đã lấy đi của chúng ta vào ngày 04 tháng 06 năm 1920.
Mời quý vị, chúng ta cùng đi, để xem mảnh đất nhỏ TQ của chúng ta (20:25').
Nhìn từ đây thì kia là mảnh đất đã từng thuộc về chúng ta, thuộc về chúng ta trong khoảng 15 năm, mảnh đất này đã bị quân đội Trung quốc xâm nhập vào từ năm 1917, còn trên thực tế văn bản chính thức thì chúng ta bị mất vĩnh viễn ở Trianon.
Bên cạnh những tòa nhà cao trọc trời còn sót lại một số ngôi nhà cổ có tuổi thọ trên 100 năm tuổi với những khung cửa nhỏ. Đây là tòa nhà của quân đội thuộc đế chế Áo - Hung. Ngôi nhà này sắp tới đây sẽ được một tập đoàn bất động sản TQ mở lại, ít nhất là được bà TGĐ Ven Zhao nhắc tới.
Chúng tôi đã chuẩn bị cho việc tu bổ tòa nhà này từ 5 năm trước đây. Vì chúng tôi muốn được thấy nó như nó từng như vậy cách đây 100 năm. Chúng tôi dự kiến nhiều thứ vào đây, đây sẽ là công trình đáng tự hào của chúng tôi.
Tường của tòa nhà còn mộc, nhưng (21:45') tôi biết là ở đây sẽ có nhà hàng ăn uống, quán trà và ở đây sẽ có các triển lãm của Hungari nữa.
Tôi giới thiệu thêm vài hình ảnh về mảnh đất mà trước đây đã từng thuộc về chúng ta.
Đương nhiên là nhiều thứ đã thay đổi. Trên mảnh đất này nay có nhiều nhà cao trọc trời, đường xá rộng lớn và rất nhiều cửa hàng. Còn đây là trung tâm của Trung quốc nhỏ của chúng ta với tòa nhà của lãnh sự quán. Tôi đi vòng quanh trong nhà, tôi tìm thấy chiếc điện thoại cổ xưa, và cả chiếc máy chữ hiệu Corona nữa. Và qua hành lang tôi đi bộ đến cạnh con sông, mà trước đây 100 năm nơi đây là danh giới.
Tại đây thì các luật lệ, phong tục của Hung được thực thi. Ở đây có các trường học, có nhà tù, có công an, bên cạnh tòa lãnh sự còn có chỗ giải trí, có cả chợ.
Đây là chiếc cầu, ở đây tôi gặp Mervay Mátyás, anh là người sống ở đây và là người nghiên cứu đầy nhiệt huyết về mảnh đất này và lịch sử của nó. Tôi cảm ơn anh Mátyás về sự giúp đỡ để cho tôi biết được ở mảnh đất Hung này như thế nào 100 năm về trước.
Chúng ta có thể tìm thấy trong một bài báo chủ nhật về một người phóng viên đã đến đây và viết bài: nước Trung quốc nhỏ của chúng ta. Người này đã giới thiệu về mảnh đất này của đế chế Áo - Hung là mảnh đất được thuê nhương, hay là thuộc địa của chúng ta và còn kèm theo ảnh chụp nữa và có thể thấy những người thủa xưa như thế nào.
Và từ đây, lại một bước nhảy xa, về nước, về thư viện sách Széchenyi. Tôi đang tìm những tờ báo cũ, theo những điều mà anh Mervay Mátyás đã giới thiệu với tôi thì tôi tìm những tờ báo cách đây 112 năm.
Vào ngày quay đoạn phim này tôi bị cảm lạnh, quí vị hãy bỏ qua cho tôi vì có thể giọng của tôi không tốt, nhưng nhiệt huyết của tôi thì lớn hơn nhiều, vì cái chính là tôi đã tìm thấy cái mà tôi cần tìm khi đến đây.
Xin trích dẫn báo chủ nhật vào ngày 01 tháng 05 năm 1904, người phóng viên viết như sau: sau khi chiến tranh chấm dứt, ở quê nhà nhiều người không tán thành là đế chế Áo - Hung cũng đã chiếm đất ở TQ, ở Thiên Tân người ta cho rằng đây là một sự vô bổ, thêm một gánh nặng.
Trong khi các cường quốc chỉ thuê lại các vùng đất từ người TQ, thì vùng đất của chúng ta lại là sở hữu của đế chế Áo - Hung, chúng ta đã chiếm lấy mảnh đất này.
Cuộc sống ở Trung hoa nhỏ này như ở trong một tổ ong, bắt đầu lúc mặt trời mọc và kết thúc lúc mặt trời lặn, đường phố đầy những người là người.
Người viết báo đã trách cứ nhà cầm quyền của đế chế Áo - Hung vì đã không phát triển mảnh đất của chúng ta. Sau đó giới thiệu bức ảnh một tên trộm người TQ bị gông cổ, và còn đây nữa là những lính thủy đánh bộ trong những bộ quân phục đẹp đẽ.
Thành phố Thiên Tân vào giữa mùa xuân. Từ đó đến này đã có bao nhiêu nước đổ vào sông Hoàng Hà, các phố không còn mang tên Viên , hay Budapest nữa, nhưng còn đó là tòa nhà lãnh sự và sắp tới tòa nhà Kasino lại được mở lại trên mảnh đất khoảng 1 km2 khi đó có khoảng gần 20 nghìn người sinh sống, cách đây rất lâu, cách chúng ta rất xa, trên mảnh đất Trung hoa nhỏ của chúng ta.
Hành trình của của chúng ta đến đây thôi, chuyến phiêu lưu của chúng ta đến đây thôi, quí vị đã được nhìn thấy phiên bản duy nhất của bản hòa ước Trianon và nhìn thấy Trung quốc bé nhỏ của chúng ta.
Sau đây là một thông báo quảng bá: sau khi giới thiệu bộ phim này tôi sẽ khởi sướng đề xuất là hãy chính thức xem xét xem liệu Zajta có thể nhận được danh hiệu ,, Communitas fidelissima", nghĩa là ,, xã có danh hiệu trung thành nhất" hay không?
Cảm ơn quí vị đã đồng hành cùng tôi tối hôm nay. Tôi là Vujito Tvrtko. Chúc quí vị mọi sự tốt lành.

Nguồn:

Tra sử: Từ tinh thần của cuộc cách mạng Pháp đến cái kết cục của cm VN

Cách mạng Pháp (tiếng Pháp: Révolution française; 1789–1799), là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Pháp, diễn ra từ năm 1789 đến 1799, khi lực lượng dân chủ và cộng hòa đã lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế và cả Giáo hội Công giáo Rôma tại Pháp cũng đã phải trải qua nhiều thay đổi. Tuy thể chế của Pháp đã trải qua các giai đoạn cộng hòa, đế quốc, và quân chủ trong 75 năm sau khi Đệ nhất Cộng hòa bị Napoléon Bonaparte đảo chính, cuộc cách mạng này đã kết thúc chế độ phong kiến trong xã hội Pháp. Nó được xem là quan trọng hơn các cuộc cách mạng khác tại Pháp sau này. Nó cũng làm giảm xu hướng chuyên chế và đề cao sức mạnh của nhân dân, biến họ từ thần dân thành công dân. Cuộc cách mạng đã giải phóng những tiềm năng của xã hội Pháp bị chế độ phong kiến kìm hãm. Sức ảnh hưởng của cuộc Cách mạng Pháp rất lớn lao, nhất là đối với các quốc gia theo chế độ phong kiến thời bấy giờ.
(Wikipedia)

Wednesday, June 3, 2020

Bệnh "tinh thần trì độn"

Tôi chia con người bẩm sinh làm hai loại "bình thường" và "có nghĩa lý". Những người tâm thần và tâm lý đặc biệt là do một lỗi bất hạnh nào đó trong quá trình hình thành con người đó (trong bụng mẹ hoặc trong cuộc sống) có thể coi là các sản phẩm bị lỗi nên không tính. Đa số sản phẩm lỗi chưa đến mức thảm họa đều có thể huấn luyện theo một phong cách nào đó để họ có thể sống như người bình thường. Một số người có nghĩa lý, nhưng muốn sống bình thường để hưởng thụ cuộc sống vô tư lự, cũng có thể BỊ hoặc ĐƯỢC huấn luyện để trở thành người bình thường (có thể là tốt hoặc xấu tùy cách hiểu). Nietzche có quan niệm về bệnh "tinh thần trì độn", cho rằng cuộc sống làm con người giống như một con sò rụt đầu vào trong vỏ, lâu ngày không thò được đầu ra (giống quan điểm Gerhaus của hiện sinh). Người bình thường dễ trở thành "trì độn" hơn người có nghĩa lý (dù đã được hay bị huấn luyện để sống như một người bình thường. ) Ông cũng cho rằng những người có năng lực đặc biệt (tôi thêm là các năng lực có nghĩa lý, chứ không phải năng lực khuân tảng đá 200 kg hoặc tự đập đầu vào tường bê tông, sẽ miễn nhiễm với bệnh tinh thần trì độn. Nhất là những người có thêm ý thức cố gắng thành siêu nhân sẽ thoát khỏi bệnh "tinh thần trì độn".

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Lục sử: Từ cm Tháng 10 Nga đến cm Tháng 8 của nước nhà - Lê-nin và vấn đề của trí thức/trí ngủ.

BÊN NÀY TRÍ THỨC THÌ BÊN KIA PHI TRÍ THỨC?

Google translation:
"Đội ngũ trí thức - không phải là bộ não của dân tộc mà là shit của nó" - V.I. Lê-nin
"Lực lượng trí thức" của nhân dân mà đem trộn với "các lực lượng" của trí thức tư sản là sai. Để làm mẫu tôi sẽ lấy Korolenko: Gần đây tôi đã đọc hắn ta, một cuốn sách có tựa đề "Chiến tranh, Tổ quốc và nhân loại" được viết vào tháng 8/1917. Trên thực tế Korolenko là xuất sắc nhất trong đám Ka-đét, gần như là một Men-sê-vic. Và đó là sự bảo vệ thật đáng buồn, thấp hèn, kinh tởm đối với chiến tranh đế quốc, được che dấu bởi các cụm từ hay ho! Một tay đáng thương hại, bị quyến rũ bởi những thành kiến tư sản! Đối với những quý ông kiểu như vậy thì 10 triệu người thiệt mạng trong chiến tranh đế quốc - đó là việc nên ủng hộ (bằng những việc nói hoa mỹ là "chống lại" chiến tranh), và cái chết của hàng trăm ngàn người trong các cuộc nội chiến chính nghĩa chống lại địa chủ và tư sản sẽ tạo ra những sự thán phục. Lực lượng trí thức của công nhân và nông dân sẽ phát triển và củng cố trong cuộc đấu tranh lật đổ giai cấp tư sản và những bọn ủng hộ, các trí thức, các tay sai của tư bản, những kẻ tưởng tượng mình là bộ não của dân tộc. Trên thực tế, nó không phải là bộ não, mà là đống phân."
(V.I. Lê-nin, Trích thư gửi А.М. Gorky ngày 15/9/1919, Toàn tập, xb lần thứ 5, NXB Chính trị, 1978, Tập. 51, tr. 48-49)

-------

Nguyên bản:

Xưa nay cứ tưởng câu này của Mao...
"Интеллигенция - не мозг нации, а ее говно" - В.И. Ленин
"Интеллектуальные силы" народа смешивать с "силами" буржуазных интеллигентов неправильно. За образец их возьму Короленко: я недавно прочел его, писанную в августе 1917 года, брошюру "Война, отечество и человечество". Короленко ведь лучший из "околокадетских", почти меньшевик. А какая гнусная, подлая, мерзкая защита империалистической войны, прикрытая слащавыми фразами! Жалкий мещанин, плененный буржуазными предрассудками! Для таких господ 10 000 000 убитых на империалистической войне - дело, заслуживающие поддержки (делами, при слащавых фразах "против" войны), а гибель сотен тысяч в справедливой гражданской войне против помещиков и капиталистов вызывает ахи, охи, вздохи, истерики. Интеллектуальные силы рабочих и крестьян растут и крепнут в борьбе за свержение буржуазии и ее пособников, интеллигентиков, лакеев капитала, мнящих себя мозгом нации. На деле это не мозг, а говно."
(В.И. Ленин, Из письма А.М. Горькому от 15 сентября 1919 года, Полное собрание сочинений, издание пятое Изд-во политической литературы, 1978 г. т. 51, стр. 48-49)

Như Hùng

Trianoni emlékmű: Magyar Fájdalom szobra (Zamárdi)


A szobor egy csónakjában hánykolódó, kétségbeesett férfit ábrázol, allegorikus párhuzamot vonva a fájdalmas alak és a trianoni döntéssel sújtott ország között. A háború után sokáig raktárakban állt, majd 1956 után újra köztérre került - de már új felirattal. "A túlsó part felé", hirdette az új tábla, az eredeti mondanivalótól teljesen eltérő értelmezéssel. 1991-ben, a helyi lakosok kérésére került vissza az eredeti felirat a szoborra.
Ezt a szép köztéri szobrot Margó Ede (1872-1946) szobrászművész alkotta, és ajándékozta Zamárdi községnek a harmincas években. Margó Ede akadémikus típusú portréi és emlékművei megtalálhatók az ország több városában és a nyugati országokban is. Szobrai, alkotásai védettek. Az ő tehetségét dicséri többek között a szegedi Dankó Pista- valamint a miskolci Kossuth-szobor; fürdőtelepi szép kápolnánk homlokzati Jézus-szobrát és a bent látható Mária-szobrot is tőle kaptuk. Mint a Balaton szerelmese, az elsők között épített nyaralót a fürdőtelepen, és munkáit, alkotásait itt álmodta meg.

(Text: mix fr. Zamárdi a Balaton Szíve & ORIGO)

Tranh luận kiểu người Việt

Tôi có một để ý thế này về mức độ thấp trong văn hóa tranh luận của người VN:
   1. Tranh luận được gọi là có văn hóa khi tranh luận có thể gay gắt phê phán nặng nề quan điểm, tính cách có định hình, nhưng không tham chiếu trực tiếp tới cá nhân người tranh luận.
   2. Đa số người VN có thói quen "bất giác" đang tranh luận về A và B hay hay dở tự nhiên nhảy vào nói "bạn thích A có nghĩa là bạn blah blah..." "Tôi đánh giá bạn là XYZ" và thế là đi bẻ một câu chuyện duy lý về A, B thành một câu chuyện emotion. Nếu người đối thoại cũng đáp lại "Tôi cũng đánh giá là bạn là XYZ thậm chí còn là UVW" thì không còn gì là lập luận nữa mà là trình bày đánh giá miễn phí không ai nhờ. Điều này ngay cả những người được gọi là có học, thậm chí đã đi Tây Tàu, vẫn nên cảnh giác.
   3. Người có học ở phương Tây rất hiếm khi tự cho mình quyền đánh giá người khác, nhất là khi công khai, cho dù có người khẩn nài đến đâu. Có vẻ ta khá hào phóng chuyện này. Do đó văn hóa tranh luận ngày càng thấp, không bao giờ tranh luận có hiệu quả cho đến đầu đến đũa. Có lẽ vì thế nhiều vấn đề mãi mãi mập mờ.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Tuesday, June 2, 2020

Năng lực con người

Tôi thường nghe các quan điểm trái ngược 1) Con người sinh ra đã được thiên phú một số tư chất đặc biệt Những kẻ kg được thiên phú lại muốn thi thố trong một số lĩnh vực nếu kg thất bại thì chỉ có thể là Xuân tóc đỏ hoặc giá áo túi cơm. 2) Quan điểm ngược lại, con người làm được mọi thứ, miễn có điều kiện, cứ làm nhiều sẽ quen. Lượng đổi thành chất. 3) Có quan điểm có vẻ dân tuý cho rằng ai cũng có năng lực đặc biệt kể cả chậm trí, tự kỷ, hâm nặng, hâm nhẹ.

   Tôi có xu hướng cho rằng:

1. Con người ta có hơn có kém về phương diện này hoặc phương diện khác, do hoàn cảnh (tự nhiên bị tai nạn), di truyền. Nhưng về tổng thể có 2 loại người khác hẳn về đẳng cấp là NGƯỜI BÌNH THƯỜNG và NGƯỜI CÓ NGHĨA LÝ. Người bình thường chỉ nên làm những điều bình thường trong bất cứ lĩnh vực nào. Người có nghĩa lý có thể làm bất cứ điều gì cần đến nghĩa lý và đáng để khổ luyện, cố gắng. Một trong những tiêu chí nhận biết người có nghĩa lý là có óc thẩm mĩ và khiếu hài hước.

2. Cái gọi là thiên phú, năng khiếu chỉ xuất hiện ở người có nghĩa lý. Người có nghĩa lý có thể làm hầu hết mọi thứ nếu dốc sức. Không có cái gọi là năng khiếu toán hay năng khiếu văn, người có nghĩa lý nếu dốc sức vào toán sẽ thành tài năng toán, dốc sức vào văn sẽ có tài năng văn. Có một số chỉ có thể giỏi toán hoặc chỉ giỏi văn thực tế đều không phải là người có nghĩa lý. Đáng ra họ chỉ nên làm người bình thường thì đỡ bất hạnh cho họ hoặc cho đời.

3. Bất cứ ai kể cả chậm trí, tự kỷ, hâm nặng, hâm nhẹ đều có thể huấn luyện để sống như một người bình thường. Cái gọi là năng lực đặc biệt chỉ là tập nhiễm từ cách sống, như người liệt tay thì có thể viết bằng chân, hoặc mù thì thính tai. Không phải là năng lực có nghĩa lý.

   Như vậy 3 trường phái trên đều đúng và đều sai trong những trường hợp nhất định.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Kể chuyện trường chuyên HN

Sau khi thầy Đ. nghỉ hưu, Sở Giáo Dục cử thầy Đ vốn quan chức Sở về làm hiệu trưởng trường Amsterdam. Việc đầu tiên thầy cho chặt một cây to bóng mát ở sân trường. Nghe đâu cây đó về mặt phong thủy xung khắc với tuổi của thầy, có thể ảnh hưởng tới quan lộ của thầy. 
Học sinh các khối ghét việc này lắm, nhưng chúng chỉ dám xì xào sau lưng thầy. Có một em học sinh giỏi, khi được hỏi ước mơ sẽ làm gì đã trả lời sẽ đi làm chính trị, để sau này làm bộ trưởng Bộ giáo dục. Khi được hỏi tiếp là làm Bộ trưởng GD để làm gì, em trả lời tiếp là để cách chức những người như thầy Đ., sau đó sẽ xin nghỉ để làm việc khác theo ý thích.
Ôi tâm hồn trẻ thơ. Yêu ghét phân minh.

Nguyễn Ái Việt (DEBRECEN.vidi72)

Trianoni emlékmű: Magyar Fájdalom szobra (Emile Guillaume, 1932)

Fotó: Fortepan

A szobrot 1947-ben eltávolították a Szabadság térről. A bronzból készült női aktot 1948-ban a Margitszigeten a Palatinus fürdő bejárata előtt állították fel Napfürdőző nő címmel. 
Location: Hungary, Budapest V.
Forrás: kozterkep.hu

Nỗi buồn nước Hung


TRIANONRÓL MÁSKÉNT.

A trianoni békeszerződés, ami szerintem inkább nevezhető békediktátumnak – párizsi békének az a része, amely Magyarországgal foglalkozott – a legsúlyosabb vérveszteség volt, amelyet a magyar nemzet az 1526-os mohácsi csata óta elszenvedett. A „béke” 1920-as aláírásától számított negyedszázadon át Trianon következményei és felülvizsgálatának követelése uralták a magyar politikát, és nagymértékben meghatározták az ország külpolitikáját. Trianon öröksége mind a mai napig szenvedélyek és viták forrása Magyarországnak a szomszédjaival fennálló kapcsolataiban, illetőleg a magyar belpolitika részben kódolt témája. Ezét külön meg kell vizsgálnunk a szerződés hátterét és azokat a tényezőket, amelyek a béke feltételeit kialakították.
Az igazságtalan területi felosztás elve magával hordozta azt a tényt, hogy a béke nem tartható fenn tartósan az „új Magyarország határaival” szomszédos kialakuló államok, népek között. Az országunk számára nem lehet kielégítő egy olyan béke, amely nem ígérkezik tartósnak, és a tartós béke alapvető feltétele, hogy a megvalósíthatóság határain belül teljes mértékben érvényesítse a nemzeti törekvéseket. A nemzetiségi elvet kellett volna elsősorban szem előtt tartani a háború utáni területi elrendezésnél. Ez a vitatott kérdés megoldásnak egy sarkalatos pontja, amit nem vettek kellő súllyal figyelembe a béketárgyaló antant hatalmak különböző más érdekérvényesítő akaratokkal szemben.
Azt sem kell figyelmen kívül hagyni, - azt a nyilván való tényt - hogy az Osztrák-Magyar Monarchia, azon belül Magyarország is évszázadokon át elnyomták az alájuk rendelt nemzetiségeket. A terület újra felosztó bizottságok között (kettő) voltak lényeges kocepcionális (gondolkodásbéli, elképzelésbéli) majd lényegesnek látszó különbségek. A román követelésekkel foglalkozó bizottság például csak Erdélyben gondolkodott, a cseh követelésekkel foglakozó pedig Szlovákia déli határára összpontosított. Ugyanis a két bizottság abban a hitben volt, hogy egy tárgyalási poziciót dolgoznak ki, amelyet majd megvitatnak a vesztesekkel, mielőtt végső formába öntik a békeszerződést. Az Amerikai Egyesült Államok diplomatái és tanácsadói elsőbbségben részesítették az etnikai elvet, és azt igyekeztek elérni, hogy az új határok a lehető legjobban kövessék az egyes régiók etnikai térképét. Ezzel szemben a britek a születendő új államok gazdasági és stratégiai életképessége mellett kötelezték el magukat. A harmadik bizottság az olaszok csaknem kizárólag a jugoszlávokkal vitatkoztak a balkáni zsákmány felett. A franciák azt tartották szem előtt, hogy a határrendezés után a lehető legnagyobb befolyással rendelkezzenek a régióban, ezért kedvezően fogadták az utódállamok minden követelését, „amivel csak elő mertek állni”, és így gyakorlatilag mindig egyetértettek a britekkel. Ha meg kellett szavazni egy bizonyos dolgot, általában az angol-francia álláspont az amerikai fölébe kerekedett, és ez megint csak nem segített Magyarországnak. Sajnos azt kell mondanom, hogyha Magyarország, - mint vesztes állam – ha ott lehetett volna bizottságok ajánlási kidolgozásának rövid időszaka alatt, az sem változtathatott volna Magyarország hatalmas hátrányán, amely a legyőzött ellenség státusa volt. A bizottságok vitáiról itt-ott lehetett olvasni, de olyan történetírásunk volt, amilyen, ami a történelmi tényeket figyelmen kívül hagyta, azt mindig „jegelték”, hogy ezek lehetőleg a köznép tudomására ne jussanak. Maga a bizottságok véleményei is valamilyen befolyásoltságon alapultak. Idézek egy véleményt, ami megvilágosítja, hogy a bizottságok is látták, hogy a végsőnek tűnő megoldási javaslatok sok helyen „teherrel” van tele. Néhány vélemény:
 „ A jenkik (USA) északabbra húznák meg azt a határt, Csehszlovákia és Magyarország között, közel az etnikai határhoz, de azzal elvágnák a vasútvonalakat. Mi (Nicolson) délebbre akarjuk a határt, hogy megmaradjon a Kassa-Ungvár vasúti szárnyvonal, annak ellenére, hogy ez vagy 80 ezer magyart cseh fennhatóság alá fog juttatni.”
Egy másik felfogás, ahogy azt akkor látták a tárgyaló bizottságban:
„Amikor ezekkel az etnográfiai nehézségekkel szembesülünk, nagy a különbség, hogy azok a románok és a magyarok között merülnek-e fel, akik a mi ellenségeink, vagy a románok és a szerbek között, akik a szövetségeseink. Az első esetben lehetetlennek bizonyult eleget tenni mind a két félnek, a mérleg nyelve szükségszerűen román szövetségesünk javára billent, és nem az ellenséges Magyarország javára. Ugyanis akkor nem lehetett túlzásba vinni ennek az elvnek az alkalmazását, hiszen végső kötelességünk egy olyan helyzet kialakítása, amely tartós békét képes biztosítani.”
A területi revízió tudományos érveire a Magyar Földrajztudomány Nagy-Magyarország mellett kitett magért. Az első világháborút lezáró békekötések tárgyalóasztalánál nem csak politikusok, diplomaták, hanem tudósok, mindenekelőtt geográfusok is helyet foglaltak. A földrajztudósokat a legtöbb érdekelt ország szakértői között az első sorokban találjuk, hiszen a békeszerződések legfontosabb vitatémái területi, földrajzi kérdések voltak. A tudós szakértők szerepe azonban az igazán lényeges kérdések eldöntésében nem volt jelentős, hiszen a területi rendezésről a politikai, hatalmi érdekek, illetve stratégiai megfontolások döntöttek, a tudományos érvek legtöbbször a már korábban megszületett döntések legitimálására szolgált. Ennek ellenére a tudomány embereinek igyekezetére nem lehetett panasz: a geográfusok mindegyik érintett országban a legkorszerűbb tudományos eszközöket vetették be nemzetük igazának bizonyítására. A hatalmas népszámlálási (1910) adatbázisból könnyen értelmezhető mutatószámok, majd látványos, szuggesztív tematikus térképek készültek, mindenekelőtt nemzetiségi (néprajzi) térképek.
A Legfelsőbb Tanács május 12.-én elfogadta a bizottságok ajánlásait, és eltekintve egy rövid és eredménytelen vitától, amely Magyarország nyugati, osztrák határával foglalkozott, másról nem is indult eszmecsere. Ennek értelmében Ausztria megkapott egy darabot Nyugat-Magyarországból (Őrvidék), azaz Burgenlandot, ahol többségében is német (osztrák) nemzetiségiek éltek.
Románia megkapta egész Erdélyt, Magyarország egy jelentős sávját az erdélyi határtól nyugatra, tehát az úgynevezett Partiumot is, valamint a Bánát keleti részét.
A Szerb-Horvát-Szlovén Királyság megkapta egész Horvátország/Szlovéniát, a Bánát nyugati felét és a Bácska legnagyobb részét.
Csehszlovákiához került Észak-Magyarország összes, főként szlovákok és ruténok lakta része, ezen kívül egy magyarok lakta sáv az etnikai határtól délre. Még Lengyelország is kapott néhány községet az Észak-Magyarország egykori közös határmentén.
David Lloyd George (angol) még 1920-ban is igyekezett elérni, hogy az etnikai elvet részesítsék előnyben a többi tényezővel szemben, akkor, amikor a konferencia feltételeit már a magyar kormány tudomására hozták. Azt mondta, hogy nem lesz béke Közép-Európában, ha kiderül, hogy
 „magyarok egész községeit adták át, mint a barmokat Csehszlovákiának és Erdélyt a Románoknak, csak mert a konferencia nem volt hajlandó megvizsgálni a magyar ügyet.”
Az az igazság, hogy a bizottsági munkáknak ebben a szakaszában már beállt a „konferencia-kimerültség”, az államférfiakat elfárasztotta az a sok testi és lelki feladat, amelyeknek a háború kitette őket – az a háború, amelyet több mint egyéves viták követtek a béketárgyaláson. Érthetően nem volt kedvük hozzáfogni az általános rendezés egyik legösszetettebb, legrejtélyesebb problémájának kibogozásához, amikor az egész munka elsődleges célja az volt, hogy Németország lefegyverzése és megbüntetése teljesüljön.
„A népek akarata 1918 októberében és novemberében nyilvánult meg, amikor a kettős (dualista) monarchia összeomlott, s amikor hosszú ideig elnyomott népek olaszok, románok, jugoszláv vagy cseh-tót testvéreikkel egyesültek. Azóta lefolyt események ugyanennyi újabb bizonyítékát nyújtják a még nemrégen Szent István koronája uralma alatt népek érzelmeinek. A magyar kormány elkésett rendelkezései, melyeknek az volt a célja, hogy a nemzetiségek autonómia iránt való szükségleteknek eleget tegyenek, nem tévesztettek meg senkit; nem változtatnak semmit a történeti igazság lényegén, azon, hogy hosszú éveken át a magyar politika minden fáradozása oda irányult, hogy a nemzetiségi kisebbségek hangját elnyomja.”
Az igazsághoz még az is hozzájárult, hogy a magyar uralkodói „elitet” az Osztrák uralkodói „kilóra” megvették, amikor a magyar elitet beengedték a saját rezidenciáiba, de a magyar parasztságot, értelmiséget ez által kisemmizték, érdekeiket nem képviselték kellően, még sok embernek szavazati joga sem volt, hogy beleszóljon a „nagy” politikai vitákba. A Habsburgi politika soha sem kedvezett (400 év) Magyarországnak, csak kiszolgálói voltunk ennek a pöffeszkedő, nagyhatalomra vágyó úri népségnek.
Mérlegelve a konferencia döntéseit, kimondhatjuk, hogy azok igazságtalanok voltak, és indokolatlanul ártottak Magyarországnak. A keserűség és sértődöttség olyan magjait hintették el, amelyek megmérgezték a magyar közéletet és veszélyeztették a régió békéjét. Magyarország veszteségeinek nagyobbik része nem a békekonferencia következménye volt, és nem is a Monarchiának a háborúban elszenvedett vereségéből fakadt, hanem abból a politikából, amely háromnegyed évszázadon át a magyar uralmat kellemetlenné, néha elviselhetetlenné tette Magyarország nem magyar lakosai számára. Ennek a politikának sikerült győzelemre juttatnia a nemzeti eszmét egy etnikailag heterogén királyságban, amelyhez a földrajz, a bevándorlások, a történelmi események és középkori múltjának túlságosan becsvágyó terjeszkedései alakították ki. Mind ezek a tényezők is nagy részben felelősök a Magyar királyság felbomlásáért.
Az első világháborút lezáró „békeszerződés”, - ami szerintem egy kegyetlen diktátum volt – a mai napig nagyon erősen foglalkoztatja a magyar közvéleményt és a történészszakmát is. Ennek oka az, hogy 1990 előtt kevés olyan szó eshetett erről a magyar nyilvánosságban, - ebből a szempontból talán a nyolcvanas évek már jelentettek némi enyhülést. Ugyanakkor a határon túli magyarok helyzete révén a kérdés folyamatosan jelen van azóta is a közbeszédben. 2010 óta, amióta június 4. hivatalosan is a nemzeti összetartozás emléknapja lett, a Trianonra történő hivatkozások még gyakoribbak a magyar közéletben. Már elég sokat tudunk a „békeszerződés” körülményeiről, ám az még eléggé feltáratlan terület, hogy az ország darabokra szaggatása miként érintette a magyar társadalom mindennapjait. Ebben a kérdésben talán azt lehet tudomásul vennünk, hogy minden nemzetnek meg van az a joga, hogy a saját sorsáról önmaga döntsön. Ezt az időszakot a nemzetek „tavaszának” vagyis a nemzeti ébredésnek nevezném, ami (1711-től) – szatmári béke – és azt követő ipari forradalom kezdetén kezdődött, de nem minden nemzetnél voltak olyan értelmiségiek, akik erről időben tájékoztatták volna a sajátjait.
Magyarország minden harangja szóljon JÚNIUS 04.-ÉN 16.32 perckor egy percen át a Trianoni „békediktátum” aláírásának, tragédiájának szomorú emlékére. 

Nyíregyháza, 2020. június 01.       Összeállította: Bolyán Sándor

Monday, June 1, 2020

Kiến trúc cổ điển: Đền thờ Hy Lạp cổ đại (2)

The Temple of Athena Nike in Athens, is one of the most famous Ionic buildings in the world. It is located on the Acropolis, very close to the Parthenon. Built around 420 BC, the temple is the earliest fully Ionic temple on the Acropolis.

Nike means "victory" in Greek, and Athena was worshipped in this form, representative of being victorious in war. The citizens worshipped the goddess in hopes of a successful outcome in the long Peloponnesian War fought against the Spartans and their allies.
(mix fr. Pinterest and Wikipedia)

Temple of Athena Nike on the Acropolis, Athens. Ảnh (My favourite planet)

Trianoni emlékmű: Magyar Fájdalom szobra (Bem tér, Debrecen)


A szobrot eredetileg 1933-ban állították fel. A 'felszabadulás' után eltűnt a térről.
Közel negyven évig őrizték egy raktárban, csak a talapzat állt a helyén.
1977-ben kiadott könyvből: 'A park közepén a volt országzászló talapzat, valamint a 'Magyar Fájdalom' c. irredenta szobor talapzata áll. Lebontásuk időszerű lenne.'
2000-ben állították fel ismét a szobrot, felújítás után.

Forrás: Köztérkép

100 năm dân tộc Hung bị chia cắt

Trianon-emlékmű (Budapest)
Szobrászművész:  Tóth Dávid

This year will be the 100th anniversary of the Treaty of Trianon, which is one of the greatest tragedies in the history of Hungary.
The tragedy and the pain of the nation are exacerbated by the fact that European people to this day do not know what has happened and do not understand why we are talking about it so much. I have summarized it in a few points to make it clear:
.
1. Hungary was dissected by the Western powers after World War I. (So ​​not after World War II. To put it very simply, we can say that the country was not dismembered because we were allies of the Nazis, but vice versa. We became allies of the Nazis because our country was cut up.)
.
2. According to the justification, Hungary was cut up because we caused World War I. Today, it is a fact for everyone that Austria and Germany caused the World War, Hungary was just as much a victim as everyone else.
.
3. At the outbreak of World War I and throughout the war, we were under Austrian oppression, until the end of the war. (We have been under Austrian oppression for 391 years from 1527 to 1918.)
.
4. The Treaty of Trianon punished Hungary and the Hungarian people with no reason as they were innocent. (Moreover the collective punishment of a nation was already illegal at that time).
.
5. During the hearing, the representatives of Hungary were locked in their hotel room and could not take part in the drafting of the contract.
.
6. The outcome of the Trianon peace dictatorship:
Hungary has lost 75% of its territory, including Transylvania. We have lost 55% of our population, 84% of forests, 90% of iron ore mines, 100% of salt, copper, gold and silver mines. We have lost our Adriatic seaport, our mountains, at least 50-60% of our architectural and cultural treasures of the last 1000 years.
And maybe the most painful: countless families were torn apart.
.
(Did you know that 80% of the listed monument buildings in Romania are Hungarian?
Did you know that 100% of the listed monument buildings in Slovakia are Hungarian?
And did you know that even Austria got from the Hungarian territories even though they were really guilty of the outbreak of World War I and they were our oppressors for nearly 400 years?)
.
7. Did you know that the then US President refused to sign this unfair treaty? The British and Italian prime ministers have also expressed their outrage but in the end they signed.
.
If you still do not understand what happened to Hungary, I will say it very simply: an exploited, oppressed, weakened people were robbed by the European great powers.
A wounded country lying on the ground was torn apart jointly by European countries as if they were hyenas.
.
This unprecedented crime has caused severe psychological trauma to millions of Hungarians. The trauma was not allowed to be talked about for about 70 years. We did not process this mental trauma, the extent of the psychological damage is immeasurable.
.
Moreover Hungarian minorities are still suffering in the neighboring countries, in the stolen areas. Hungarians are persecuted, hurt and insulted, even by politicians to this day, and EU don't do anything.
.
We will never accept this because if we did, we would betray our own souls with it. And we would betray our ancestors who fought for this country and for this nation for more than 1,000 years.
If we accepted this crime that happened to us, we would get worse than the perpetrators, we would sell our souls to the devil.
.
So this is why we are talking about Trianon and we will talk about it for as long as needs to be.